Bài giảng địa tầng phân tập và bồn trầm tích phần 1 - Pdf 24

Địa tầng phân tập và bồn trầm tích
Phần I
Các kiểu địa tầng

Thời địa tầng (Geochronology):
Giới, hệ, thống, bậc, đới

Thạch địa tầng: Lithostratigraphy

Sinh địa tầng: Biostratigraphy

Địa chấn địa tầng: Seismostratigraphy

Địa tầng phân tập.
Địa tầng phân tập (sequence stratigraphy) là một chuyên
ngành của địa tầng “nghiên cứu các mối quan hệ của đá
trong khung thời địa tầng lặp đị lặp lại, các tầng đá có
liên quan với nhau về mặt nguồn gốc và được giới hạn bởi
các bề mặt bào mòn, gián đoạn trầm tích, và các bề mặt
liên kết từ chúng”(Posamentier và nnk. 1988, Wangoner , 1995)
Sequence stratigraphy is “Subdivision of sedimentary basin
fills into genetic packages bounded by unconformities
and their correlative conformities (Emery-1996)
Năm 1984, Larry Sloss là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “tập”
(sequence) và tập được định nghĩa là “đơn vị địa tầng thạch học
bậc cao hơn loạt, vĩ loạt hoặc siêu loạt và có thể được xác định
trên diện rộng lớn của lục địa và được giới hạn bởi các bất chỉnh
hợp khu vực”.
Một số khái niệm

Chân tĩnh (eustasy): là “độ

Chu kỳ cổ hơn bắt đầu từ Phanerozoi và kéo dài đến
Pecmi (500Ma).

Các chu kỳ tạo tập (Sequence cycles):
Là các chu kỳ thành tạo các tập trầm tích do tác động
của thay đổi đẳng tĩnh biên độ nhỏ hơn, tần số cao và
tốc độ lớn hơn (được xếp từ bậc 2 đến bậc 5):
+ Các chu kỳ bậc 2 kéo dài: 5 – 50 tr. Năm
+ Các chu kỳ bậc 3 kéo dài: 0.5 – 3 tr. năm
+ Các chu kỳ bậc 4 kéo dài: 0.1 – 0.5 tr. Năm
+ Các chu kỳ bậc 5 kéo dài: 0.01 – 0.1 tr. Năm
Dựa trên tài liệu địa chấn, kết hợp với nhiều số liệu
ĐVLGK và vùng lộ của nhiều bể trầm tích trên thế giới
Vail, Mitchum và nnk. (1977); Haq, Vail, Hardenbol và
nnk. (1988); Haddad và Vail (1992) đã xây dựng bộ
đường cong MNB từ Trias đến Hiện đại
• MNB tương đối: “khoảng cách giữa mặt biển và mặt mốc
chuẩn (thường là mặt móng)”, (Posamentier, Jervey và
Vail, 1988).
• Sự thay đổi MNB tương đối chịu ảnh hưởng của sự
nâng/hạ biểu kiến của MNB so với về mặt lục địa. Nhìn
chung sự thay đổi MNB tương đối có thể xẩy ra trên quy
mô địa phương, khu vực hoặc toàn cầu.

Thay đổi MNB biểu kiến là kết qủa của sự thay đổi MNB
đẳng tĩnh và chuyển động của bề mặt lục địa được chọn
(mặt móng hoặc một bề mặt gần đáy biển chứ không phải
bề mặt đang trầm tích). Do vậy sự thay đổi MNB tương đối
phụ thuộc vào quá trình lún chìm hoặc nâng lên của đáy
biển (liên quan đến kiến tạo). Nâng tương đối MNB sẽ bổ

-Hệ thống trầm tích biển tiến
(Transgressive System track)
-Hệ thống trầm tích biển cao
(Highstand System track)
Các bề mặt

Ranh giới tập (Sequence boundary)

Mặt ngập lụt (Flooding surface)

Bề mặt ngập lụt cực đại (Maximum flooding
surface)

Bề mặt biển tiến (Transgressive surface)

Bề mặt xói do biển tiến (Ravinment surface)

Tập chặt xít (Condence section)
Ranh giới tập

Ranh giới tập (Sequence Boundary) là bề
mặt bất chỉnh hợp (unconformity) và bề
mặt chỉnh hợp liên kết. Có 2 kiểu RG tập.

Kiểu 1 được hình thành trong suốt giai
đoạn hạ thấp MNB chân tĩnh, khi mà tốc
độ hạ thấp MNB lớn hơn so với tốc độ sụt
lún ở rìa thềm, dẫn tới sự rút lui nhanh
chóng (thoái lui ép buộc) của đường bờ
và sự xói mòn đáng kể phần thềm lộ ra.

MFS là mặt ngập lụt sâu rộng nhất vào bờ trong phạm vi chu
kỳ biển thoái và tiến triển của đường bờ, và thường đi cùng
với lớp chặt xít. Trên mặt cắt địa chấn, MFS được đặc trưng
bằng kề đáy (downlap) ở trên và cắt cụt biểu kiến (apparent
truncation) ở dưới. Ranh giới này sẽ khó phân tích trong phạm
vi các tập trầm tích đồng bằng ven bờ. Trên tài liệu ĐVLGK,
MFS được xác định như đối với lớp chặt xít, nó nằm trong lớp
chặt xít và là ranh giới giữa khoảng mặt cắt trầm tích hình
thành trong điều kiện nước sâu dần lên ở dưới và trầm tích
hình thành trong điều kiện nước nông dần lên ở trên. MFS do
đi cùng với mặt cắt chặt xít nên nó là bề mặt địa tầng dễ xác
định nhất, là bề mặt xác định các đơn vị địa tầng nguồn gốc
của Galloway (1989

Flooding Surface đại diện cho thời kỳ trầm tích
phát triển mở rộng nhất và có bề mặt bằng
phẳng nhất. Mặt ngập lụt là một bề mặt quan
trọng trong liên kết thời gian và tướng đá của
một vùng như cỡ phạm vi của một mỏ hoặc lớn
hơn. Tuy nhiên ranh giới này rất nhạy cảm với
tốc độ trầm tích và do đó khó liên kết trong vùng
thưa các GK và khó hoặc không thể liên kết khu
vực.

Mặt ngập lụt cực đại có đặc trưng phân bố rộng
hơn nhiều và chúng là những bề mặt quan trọng
trong liên kết thời gian và tướng đá của một
vùng rộng lớn trên toàn bể.

Lớp chặt xít là“Tập trầm tích biển đặc trưng bởi chiều dày


Một tập gồm:
-Hệ thống trầm tích biển thấp
(Lowstand System Track)
-Hệ thống trầm tích biển tiến
(Transgressive System track)
-Hệ thống trầm tích biển cao
(Highstand System track)

Hệ trầm tích biển thấp

Hệ trầm tích biển thấp (gọi tắt là hệ biển thấp) là hệ trầm tích được hình
thành trong giai đoạn MNB hạ nhanh và sau đó ổn định. LST có ranh
giới dưới là ranh giới tập kiểu 1, ranh giới trên là mặt biển tiến. Quá trình
hình thành hệ trầm tích biển thấp có thể được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Hệ thống trầm tích biển thấp sớm: ở giai đoạn này hành
thành khi mực nước hạ nhanh, thềm bị phá huỷ, đào khoét bởi sông.
Trầm tích được tích tụ ở chân thềm và biển sâu hình thành các quạt đáy
bể, các canyon ngầm.

Giai đoạn 2: Hệ thống trầm tích biển thấp muộn: ở giai đoạn này hình
thành khi MNB hạ từ từ tạo thành các quạt sườn, các tổ hợp kênh và bờ
kênh và trượt lở. Rồi sau đó mực nước ngừng hẳn và tăng trở lại, vật
liệu được đưa trở lại lấp đầy vị trí bị đào khoét, tạo thành các tổ hợp
nêm lấn (delta biển thấp).

Các trầm tích biển thấp tiêu biểu thường là các trầm tích hạt thô có trong
các mặt cắt biển nông hoặc phi biển, phần thấp hơn của mặt cắt theo
chiều thẳng đứng thường mịn hơn ở cắt địa tầng không phải biển, và

xâm thực có thể được lấp đầy bằng các trầm tích của thời
kỳ TST và thường là trầm tích cửa sông tam giác.
Hệ trầm tích biển lùi

Hệ thống trầm tích biển lùi bao gồm tất cả các tầng được
tích tụ trong quá trình giật lùi của đường bờ, đó là sự kế
tiếp của trầm tích biển thấp, lùi giai đoạn và biển cao
không thể phân biệt. Bởi vậy mà hệ trầm tích này được
giới hạn bởi các mô hình chồng lấn ngang bể trầm tích.
Định nghĩa về hệ biển thệ được công bố lần đầu tiên bởi
Embry và Johannessen (1992), coi như là một phần của
mô hình tập biển tiến và biển thoái và sau đó được sử
dụng trong các công bố của Embry (1993, 1995).

Hệ biển lùi, theo định nghĩa của Embry (1995), được giới
hạn bởi bởi bề mặt ngập lụt cực đại trong hợp phần biển
và không biển của bể. Tại nóc, RST được giới hạn bởi
một bề mặt biển lùi cực đại trong kế tiếp biển, và bởi một
bất chỉnh hợp gần mặt đất trong tầng không biển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status