hoàn thiện phối thức marketing - mix tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT………………………………i
DANH MỤC BẢNG………………………………………………………… ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. 6
1.1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại. 6
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại. 6
1.1.2. Bản chất của ngân hàng thương mại. 7
1.1.3. Chức năng của ngân hàng thương mại. 8
1.2 Tổng quan về Marketing trong hoạt động ngân hàng. 8
1.2.1. Khái niệm chung về Marketing ngân hàng 8
1.2.2. Vai trò và đặc điểm của Marketing ngân hàng 10
1.2.3. Sự cần thiết của Marketing trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng. 15
1.2.4. Các quan điểm về phối thức Marketing. 15
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING – MIX TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƢƠNG VIỆT NAM. 21
2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ
phần Kỹ thƣơng Việt Nam 21
2.1.1. Mạng lưới tổ chức tín dụng trên toàn quốc. 21
2.1.2. Hoạt động huy động vốn 24
2.1.3. Hoạt động cho vay 26
2.1.4. Hoạt động dịch vụ ngân hàng. 29
2.2. Hoạt động Marketing - Mix của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần kỹ
thƣơng Việt Nam 33

STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
2
DVNH
Dịch vụ ngân hàng
3
HCNS
Hành chính nhân sự
4
NH
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
5
NHNN
Ngân hàng nhà nước
6
NHTM
Ngân hàng thương mại
7
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
8
TCTD
Tổ chức tín dụng
9
TECHCOMBANK

56
4
Bảng 3.1
Bảng mục tiêu tài chính tính đến hết năm 2014-
Techcombank
60
1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dịch vụ ngân hàng được dự báo là lĩnh vực cạnh tranh rất khốc liệt khi
“vòng” bảo hộ cho ngân hàng thương mại trong nước không còn. Nhà nước
thực hiện mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng; loại bỏ căn bản các
hạn chế, tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước, các giới hạn hoạt
động ngân hàng (qui mô, tổng số dịch vụ ngân hàng được phép…) đối với các
tổ chức tín dụng nước ngoài, thực hiện đối xử công bằng giữa tổ chức tín
dụng trong nước và tổ chức tín dụng nước ngoài; giữa các tổ chức tín dụng
nước ngoài với nhau theo các nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia
và các nguyên tắc khác trong thoả thuận GATS/WTO và các thoả thuận quốc
tế khác không mâu thuẫn với thoả thuận GATS/WTO”.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và chủ động hội
nhập quốc tế có hiệu quả, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải thực
hiện đồng bộ nhiều biện pháp cho sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng là vấn đề sống còn trong cạnh
tranh của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính. Để nâng cao chất
lượng dịch vụ tài chính các doanh nghiệp cần chú trọng các biện pháp nâng
cao trình độ nghiệp vụ, kĩ năng khai thác dịch vụ, thái độ phục vụ cho đội

tình hình nghiên cứu trong thời gian qua để đề ra các biện pháp thúc đẩy hoạt
động Marketing, đề tài nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng
trong thời gian tới.
Nghiên cứu về Marketing ngân hàng có nhiều trên thế giới, ở Việt
Nam, Vũ Mạnh Tuấn năm 2007 có đề tài: Hoạt động kinh doanh thẻ , kinh
nghiệm một số ngân hàng trong khu vực và thực tế tại Ngân hàng cổ phần
Thương mại Kỹ thương Việt Nam.
Nguyễn Thị Xuân Hoa, năm 2008 với phát triển dịch vụ ngân hàng
hiện đại ở Việt Nam. 3
Đỗ Lương Trường, năm 2007 nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt
động và đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân
hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM.
Huỳnh Hồng Trang, năm 2008 với phát triển dịch vụ bao thanh toán
quốc tế tại Techcom bank Đà Nẵng.
Trần Vân Anh nghiên cứu về xây dựng mô hình nghiên cứu e-banking
tại Việt Nam, định hướng cho Techcom bank Đà Nẵng, đề tài được thực hiện
năm 2008.
Trần Bích Loan với chính sách Marketing trong hoạt động thanh toán
quốc tế tại chi nhánh Techcom bank Đà Nẵng tính đến năm 2008.
Các nghiên cứu đã nêu ở trên chỉ tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện
chính sách Marketing ở một mảng nhất định mà chưa đi sâu vào đặc điểm tình
hình của từng ngân hàng, từ đó có sự phối kết hợp giữa các chính sách đó.
Với xu hướng phát triển như vũ bão hiện nay, sức nóng cạnh tranh
giữa các ngân hàng thương mại ngày càng lớn đòi hỏi mỗi ngân hàng cần tạo
được chỗ đứng cũng như lòng tin nhất định đối với người tiêu dùng. Hơn nữa
Techcombank với sứ mệnh phấn đấu thuộc nhóm ngân hàng đô thị hàng đầu
về độ tin cậy, chất lượng và hiệu quả. Chính vì vậy việc nghiên cứu và hoàn

chúng vào môi trường cạnh tranh quốc tế.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài cung cấp một bức tranh về hoạt động Marketing của
Techcombank trong những năm gần đây và đề xuất một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng bằng biện
pháp cải thiện tốt vai trò Marketing Mix ngân hàng.
Hệ thống hoá một cách tương đối về Marketing ngân hàng.
Đề tài có thể mở rộng nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động và đề
xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy nhằm phát triển hơn nữa hoạt động Ngân
hàng trong tình hình hiện nay. 5
7. Bố cục của luận văn:
Đề tài nghiên cứu được trình bày thành 3 chương. Phần mở đầu trình
bày các phương pháp luận liên quan đến nghiên cứu, tầm quan trọng của đề
tài nghiên cứu và hướng đi mới cho đề tài.
Chƣơng 1:Cơ sở lý luận về Marketing trong hoạt động của ngân
hàng thƣơng mại
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động Marketing - Mix tại Ngân hàng
thƣơng mại cổ phần kỹ thƣơng Việt Nam
Chƣơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing - Mix
tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Kỹ thƣơng Việt Nam


thương mại nông thôn. 7
1.1.2. Bản chất của ngân hàng thương mại.
Có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các
điểm sau:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng thể hiện
nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi
nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Ngân hàng thương mại hoạt động với
mục đích thu lợi nhuận từ hoạt động huy động và cho vay vốn: trả lãi suất huy
động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, phần chênh lệch lãi suất chính là lợi
nhuận của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho nhu
cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ
chức khác trong xã hội.
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín
dụng và dịch vụ ngân hàng. Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được
của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng
như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài
sản "có" của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số
tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài
sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào
ngân hàng bị rút đột ngột gọi là tỉ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn
của ngân hàng được chia làm hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn
gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và
các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2
bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức, nguồn vốn
gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu

hàng, sau đây là một số quan niệm tiêu biểu.[2, tr.8,9]. 9
Quan niệm thứ nhất cho rằng: Marketing ngân hàng là phương pháp
quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức về môi trường kinh doanh, những
hành động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, phù hợp
với sự biến động của môi trường, trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của
ngân hàng.
Quan niệm thứ hai đã chỉ ra: Marketing ngân hàng là toàn bộ những
nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện
mục tiêu lợi nhuận.
Quan niệm thứ ba cho rằng: Marketing ngân hàng là trạng thái tinh
thần của khách hàng mà ngân hàng phải thỏa mãn hay là việc thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng, trên cơ sở đó ngân hàng đạt lợi nhuận tối ưu.
Quan niệm thứ tư lại cho rằng: Marketing ngân hàng là toàn bộ quá
trình tổ chức và quản lý của một ngân hàng từ việc phát hiện ra nhu cầu của
các nhóm khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các
chính sách biện pháp nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận như dự kiến.
Quan niệm thứ năm lại khẳng định: Marketing ngân hàng là một tập
hợp các hành động khác nhau của chủ ngân hàng nhằm hướng mọi nguồn lực
hiện có của ngân hàng vào việc phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng, trên cơ
sở đó mà thực hiện các mục tiêu của ngân hàng.
Quan niệm thứ sáu, Marketing ngân hàng là một chức năng của hoạt
động quản trị nhằm hướng dòng chảy sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ
những nhóm khách hàng đã chọn của ngân hàng.
Mỗi quan niệm được nghiên cứu và đưa ra ở những góc độ và thời gian khác
nhau nhưng đều thống nhất về những vấn đề cơ bản của Marketing ngân hàng.
Việc sử dụng Marketing vào lĩnh vực ngân hàng phải dựa trên những
nguyên tắc, nội dung và phương châm của Maketing hiện đại.

Thứ hai, tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn
thiện mối quan hệ trao đổi khách hàng và ngân hàng trên thị trường. Quá trình 11
cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng với sự tham gia đồng thời của ba yếu tố:
Cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ, đội ngũ nhân viên trực tiếp và khách hàng.
Thứ ba, giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng,
nhân viên và chủ ngân hàng. Bộ phận Marketing giúp chủ ngân hàng giải
quyết tốt các mối quan hệ trên thông qua các hoạt động như: tham gia xây
dựng và điều hành các chính sách lãi, phí kích thích hấp dẫn phù hợp với từng
loại khách hàng, khuyến khích nhân viên sáng kiến, cải tiến các hoạt động thủ
tục nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích hơn trong sử
dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tham gia vào việc xây dựng các cơ chế
chính sách có liên quan trực tiếp đến lợi ích của khách hàng, nhân viên ngân
hàng như: chính sách tiền lương, thưởng, trợ cấp phúc lợi, cơ chế phân phối
tài chính, chính sách ưu đãi khách hàng và hoàn thiện các mối quan hệ giao
tiếp khác.
Các mối quan hệ trên nếu được giải quyết tốt không chỉ là động lực
thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động và kết quả hoạt động của cả ngân hàng lẫn
khách hàng mà còn trở thành công cụ để duy trì và phát triển mối quan hệ
giữa ngân hàng và khách hàng.
Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của ngân hàng
với thị trường
Thị trường vừa là đối tượng phục vụ vừa là môi trường hoạt động của
ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng và thị trường có mối quan hệ tác động
hữu cơ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau. Do vậy, hiểu được nhu cầu thị trường
để gắn chặt hoạt động của ngân hàng có hiệu quả cao. Điều này sẽ được thực
hiện tốt thông qua cầu nối Marketing bởi Marketing giúp ngân hàng nhận biết
được yếu tố thị trường, nhu cầu của khách hàng, sản phẩm dịch vụ và sự biến

vật chất như khi đi máy bay, thuê phòng ở khách sạn, đưa xe máy đi bảo dưỡng,
gửi tiền, vay tiền, chuyển tiền ở ngân hàng, nhờ ngân hàng tư vấn… 13
Do vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm của dịch vụ sẽ là căn cứ tốt trong
quá trình Marketing ngân hàng. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng sẽ ảnh huởng
khá lớn đến cách thức sử dụng Marketing sản phẩm dịch vụ ngân hàng ó
những đặc điểm khác biệt, đó là tính vô hình, tính không phân chia, không ổn
định, không lưu trữ và khó xác định chất luợng. Những đặc điểm này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến việc quản lý dịch vụ đặc biệt là tổ chức hoạt động
Marketing của ngân hàng.
Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng dẫn đến việc khách hàng
không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn đánh giá chất
lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân
hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản
phẩm dịch vụ. Đó là địa điểm giao dịch, mức độ trang bị kỹ thuật công nghệ,
trình độ cán bộ quản lý và nhân viên, đặc biệt là các mối quan hệ cá nhân và
uy tín, hình ảnh của ngân hàng
Về phía ngân hàng, để củng cố niềm tin của khách hàng, họ đã nâng
cao nghệ thuật sử dụng các kỹ thuật Marketing như tăng tính hữu hình của
sản phẩm dịch vụ cung ứng thông qua việc đưa ra hình ảnh, biểu tượng khi
quảng cáo, nội dung quảng cáo không chỉ mô tả dịch vụ cung ứng mà còn tạo
cho khách hàng đặc biệt chú ý đến những lợi ích mà sản phẩm dịch vụ đem
lại, đồng thời Marketing phải cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho
khách hàng về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trình độ công nghệ và đội
ngũ nhân viên. Đặc biệt, các ngân hàng thường tạo bầu không khí làm việc tốt
với điều kiện làm việc thuận tiện, tăng tinh thần trách nhiệm của nhân viên
trong phục vụ khách hàng.

hàng và ngân hàng bằng việc luôn giữ đúng những cam kết, cung cấp cho
nhau những sản phẩm dịch vụ chất lượng sản phẩm dịch vụ chất lượng cao 15
với giá cả hợp lý, tăng cường các mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật, nâng cao sự
tin tưởng giúp nhau cùng phát triển. Thực tế cho thấy, trong hoạt động ngân
hàng có khá nhiều mối quan hệ đan xen, phức tạp. Do vậy, đòi hỏi bộ phận
Marketing phải hiểu được các mối quan hệ nhất là quan hệ giữa khách hàng
với ngân hàng và sự tác động qua lại giữa chúng để có các biện pháp khai
thác, kết hợp hài hoà nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cả khách hàng
và ngân hàng. [2, tr.21].
Kết quả lớn nhất của Marketing quan hệ là đảm bảo cho hoạt động ngân
hàng được xây dựng trên cơ sở của các mối quan hệ kinh doanh tốt. Đó là sự
hiểu biết, tin tưởng, phụ thuộc lẫn nhau và hỗ trợ cùng phát triển bền vững.
1.2.3. Sự cần thiết của Marketing trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng.
Lịch sử hình thành Marketing đã khẳng định: Marketing là sản phẩm
của nền kinh tế thị trường. Marketing đã trở thành hoạt động không thể thiếu
trong các doanh nghiệp nói chung và trong các NHTM nói riêng. Marketing
ngân hàng là lĩnh vực đặc biệt của ngành dịch vụ. Có thể hiểu: Marketing
ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được
mục tiêu đặt ra là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của
ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện
pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
1.2.4. Các quan điểm về phối thức Marketing.
Marketing mix về cơ bản thường được triển khai chung quanh 4 yếu tố,
thường được gọi là 4P cho dễ nhớ: Sản phẩm (product), Giá (price), Xúc tiến
thương mại hay Truyền thông (promotion) và Kênh phân phối (place).
Theo McCarthy xây dựng quy tắc 4P, bao gồm: Product - Thiết kế và xây
dựng chiến lược sản phẩm; Price - Chiến lược giá; Promotion - Xúc tiến sản phẩm

với khách hàng. Nó bao gồm tổ chức, cá nhân và các phương tiện thực
hiện các hoạt động đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với khách
hàng. Hệ thống kênh phân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm dịch vụ từ 17
ngân hàng đến khách hàng, hoàn thành trao đổi giữa khách hàng và ngân
hàng trên thị trường.[2, tr.66].
Hầu như các công ty đều có nhiều kênh phân phối để giao dịch với
khách hàng. Kênh phân phối càng nhiều, càng hiệu quả thì cơ hội bán hàng
càng lớn. Có nhiều cách để đưa sản phẩm hay dịch vụ đến với khách hàng.
Một công ty, tổ chức theo định hướng thị trường có thể áp dụng nhiều cách
khác nhau để tiến hành công việc mà không gây mâu thuẫn giữa các kênh
phân phối.
Việc sử dụng hình thức phân phối nào trong các kế hoạch marketing
của mình? Liệu đó có phải là phương án tối ưu để thu hút khách hàng và tạo
ra doanh số, cũng như lợi nhuận mong đợi? Mỗi đơn vị đều phải cân nhắc,
xem xét cẩn thận, vì yếu tố phân phối này sẽ có sức tác động mạnh mẽ đến
công tác marketing.
Giá bán
Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch
vụ của nhà cung cấp. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không
những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá
thấp, nhà cung cấp sẽ phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi
phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối
thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu,
thời kỳ thanh toán, v.v.
Trong ngân hàng: “Giá của sản phẩm dịch vụ ngân hàng là số tiền mà
khách hàng hay ngân hàng phải trả để được quyền sử dụng một khoản tiền
trong thời gian nhất định hoặc sử dụng các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng

nhà ngân hàng sử dụng để tác động vào thị trường. Nó bao gồm một tập
hợp các hoạt động nhằm kích thích việc sử dụng sản phẩm dịch vụ hiện 19
tại và sản phẩm dịch vụ mới, đồng thời làm tăng mức độ trung thành, thu
hút khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá
trình cung ứng dịch vụ, đặc biệt làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng
trên thị trường.[2, tr.157].
Tuỳ vào tình hình thực tế của thị trường mà người ta vận dụng một hay
nhiều yếu tố để thực hiện chiến lược thị trường.
Các doanh nghiệp mà sản phẩm chủ yếu là sản phẩm dịch vụ thường có
xu hướng triển khai từ 4 yếu tố chính này thành 5 hay 7 yếu tố để phản ánh sự
chú tâm của mình đối với sự đặc thù của sản phẩm dịch vụ: Sản phẩm
(product), Giá (price), Xúc tiến thương mại hay Truyền thông (promotion),
Kênh phân phối (place), Con người (people), Qui trình (process) và Chứng
minh thực tế (physical evidence).
Với mỗi loại hình kinh doanh cụ thể mỗi đơn vị có thể chọn các mô
hình 4p, 7p, 5p, 9p… cho chiến lược Marketing Mix sao cho phù hợp nhưng
chắc chắn phải hiểu Marketing Ngân hàng là một lĩnh vực marketing đặc biệt
mà ở đó chất lượng dịch vụ đem lại thành công mấu chốt. Việc lựa chọn mô
hình 5p mà không phải 4p hay 7p bởi Marketing dịch vụ là một khía cạnh khá
khác biệt so với marketing các sản phẩm thông thường. Hai chữ "dịch vụ"
hàm ý tới những mối quan hệ giao tiếp mang tính cá nhân hơn. Hiểu theo
nghĩa nào đó, marketing dịch vụ chính là marketing những cam kết, hứa hẹn
của doanh nghiệp sẽ cung cấp cho người tiêu dùng một vài lợi ích nào đó.
Con ngƣời
Yếu tố con người trong dịch vụ ngân hàng là một yếu tố chủ yếu để
thành công trên thị trường. Do đặc thù của hoạt động ngân hàng là không ưu
tiên về sự ra đời trước hay sau nên các ngân hàng không thể bảo vệ lợi thế

2.1.1. Mạng lưới tổ chức tín dụng trên toàn quốc.

Được thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 1993, Ngân hàng thương
mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Techcombank là một trong những ngân
hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong bối
cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với số vốn điều lệ là
20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn
Kiếm, Hà Nội. Với mạng lưới gồm 113 chi nhánh và phòng giao dịch trải
khắp 21 tỉnh thành lớn của Việt Nam, vốn điều lệ 1.700 tỉ đồng, Tổng tài sản
hơn 27.535 tỉ đồng, số lượng nhân viên 2400 nhân viên.[17].
Sau gần 18 năm phát triển, tháng, từ một ngân hàng nhỏ, Techcombank
đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam.
Techcombank hiện phục vụ hơn 400.000 khách hàng dân cư, gần 20.000
doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có quy
mô lớn. Với khách hàng cá nhân, Techcombank cung ứng trọn bộ các sản
phẩm ngân hàng đáp ứng mọi nhu cầu có thể phát sinh của khách hàng bao
gồm các sản phẩm tài khoản, tiết kiệm, tín dụng, thanh toán, thẻ, đầu tư, bảo
lãnh, bảo quản tài sản trên nền tảng công nghệ hiện đại của hệ thống Globus,
rất thuận tiện và có nhiều tiện ích và giá trị gia tăng cho khách hàng, trong đó
trụ cột là các nhóm sản phẩm thẻ, tài trợ tiêu dùng và cho vay mua nhà trả

Trích đoạn Chiến lược xúc tiến hỗn hợp Chiến lược về nhân lực Những thành tựu đạt được trong hoạt động Marketing Mix của Những hạn chế trong việc ứng dụng vào hoạt động Marketing M Mục tiêu, lộ trình phát triển dịch vụ đến năm 2014
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status