Vi phạm hành chính, của các doanh nghiệp - Pdf 24

Bài làm
Vi phạm hành chính là một phạm trù pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn
của hoạt động hành pháp của nước ta, được khoa học luật hành chính nghiên cứu
như một đối tượng, một nội dung cơ bản. Xét về mặt lý luận vi phạm hành chính là
một dạng cụ thể của vi phạm pháp luật, đây là một loại vi phạm trong lĩnh vực quản
lý hành chính nhà nước. Tuy không nghiêm trọng như tội phạm song là vi phạm rất
phổ biến xảy ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, và tính nghiêm trọng đang
ngày càng gia tăng, mỗi ngày một “nóng” hơn, với những hành vi kéo dài như “ giết
sông Thị Vải của VEDAN”, “đầu độc sông Hồng của MIWON”, xả các chất độc hại
ra môi trường của nhiều cơ sở khác… gây tác hại đến trật tự quản lý hành
chính.Chính vì thế mà công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính luôn
là vấn đề được xã hội quan tâm.
Việc đưa ra khái niệm vi phạm hành chính, một mặt nêu ra sự khác biệt giữa vi
phạm hành chính với tội phạm và các loại vi phạm pháp luật khác, đồng thời xác
định được những vi phạm hành chính cụ thể. Mặt khác thông qua đó để xác định
trách nhiệm hành chính cho các chủ thể vi phạm hành chính dưới các hình thức xử
phạt, các biện pháp hành chính khác v.v… Hành vi vi phạm hành chính từ trước tới
nay đã được nhà nước quy định ở nhiều văn bản khác nhau. Trong đó có một số văn
bản đáng chú ý như: Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định 143/CP
ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính
ngày 30/11/1989 có hiệu lực từ ngày 1/1/1990 do Hội đồng nhà nước ban hành. Pháp
lệnh xử lí vi phạm hành chính ngày 6/7/1995 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban
hành; có hiệu lực thi hành từ 1/8/1995. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày
2/7/2002, đã được sửa đổi bổ xung theo pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11ngày
08/3/2007 và pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 ngày 2/4/2008.
Trước năm 1989, pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta chỉ dừng lại ở mức
thấp, đáng kể nhất là Nghị định phạt vi cảnh số 143 năm 1977 Bước ngoặt cơ bản là
pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 được ban hành. Đây văn bản đầu
tiên có tầm pháp lệnh quy định về trách nhiệm hành chính và quy định đầy đủ hơn,
cụ thể hơn Nghị định 143. Điều 1 pháp lệnh xử phạt hành chính 1989 đã đưa ra định
nghĩa trực tiếp về vi phạm hành chính: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân

nhà nước. Mặc dù mức độ nguy hiểm ít hơn so với tội phạm nhưng lại xảy ra thường
xuyên, mọi lúc mọi nơi tạo nên một trở lực to lớn cho việc duy trì, củng cố trật tự kỉ
cương nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội.
VD: Pháp luật Việt Nam bảo vệ chế độ một vợ một chồng, hành vi vi phạm chế độ
một vợ một chồng là hành vi vi phạm hành chính, phá vỡ các quy tắc mà pháp luật
bảo vệ.
Thứ hai, tính trái pháp luật hành chính của vi phạm hành chính: Thể hiện ở
chỗ, những hành vi do chủ thể thực hiện trái với các quy định của pháp luật hành
chính điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Một người
hoặc một tổ chức khi thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính ngăn cấm,
không thực hiện những hành vi mà pháp luật yêu cầu, hoặc thực hiện những hành vi
vượt quá giới hạn pháp luật hành chính cho phép đều là những hành vi vi phạm hành
chính. Ngược lại những hành vi trái pháp luật nhưng không được ngành luật hành
chính quy định và bảo vệ ( thể hiện trong các văn bản pháp luật quy định về hành vi
vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính ) thì không coi là trái pháp luật
hành chính.Điều này đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 2002.
VD: Hành vi vi phạm quy định về thủ tục xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu
công nghiệp là hành vi vi phạm hành chính đã được quy định cụ thể tại NĐ số
97/2010/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Hành vi đó là hành vi trái với pháp luật, bị luật pháp luật hành chính ngăn cấm.
22
Thứ ba, tính có lỗi của vi phạm hành chính: Lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc để
xác định hành vi vi phạm hành chính. Sẽ không có đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm
pháp lý đối với đối tượng vi phạm pháp luật khi đối tượng thực hiện hành vi vi phạm
không có lỗi. Lỗi là dấu hiệu cơ bản trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính.
Lỗi thể hiện thái độ của chủ thể vi phạm đối với hành vi vi phạm hành chính và hậu
quả của hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi của mình. Hành vi được thực hiện
phải là kết quả của sự tự lựa chọn, tự quyết định của chủ thể trong khi có đầy đủ
điều kiện để lựa chọn, quyết định cách xử sự phù hợp với yêu cầu của trật tự quản lý

thức đúng đắn, thấu đáo về bản chất của vi phạm hành chính.
33


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status