Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay Bộ GD&ĐT đang trong quá trình đổi mới toàn diện về giáo dục ở
các cấp học trong đó có cấp THPT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo.
Công cuộc đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như đổi mới chương
trình, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới thiết bị dạy học, đổi mới quan niệm và đặc
biệt là đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá. Hình thức thi trắc nghiệm khách quan
được áp dụng đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lý, Sinh học, Hóa học và nhiều
môn học khác đã và đang diễn ra những năm gần đây. Nhiều thí sinh hiện rất
hoang mang, lo lắng bởi trong khoảng thời gian 60 phút thi tốt nghiệp phải làm 40
câu hỏi và trong 90 phút thi tuyển sinh đại học phải hoàn thành tới 50 câu hỏi.
Kỹ năng, phương pháp làm bài chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
tiến độ bài làm và chất lượng bài thi của thí sinh. Nắm được kỹ năng, phương
pháp xử lý cộng với nền tảng kiến thức tốt, thí sinh có thể hoàn thành bài thi trắc
nghiệm một cách chính xác nhất và nhanh nhất trong đúng thời gian quy định.
Để giúp học sinh tự tin,đạt kết quả cao hơn trong quá trình làm bài tập trắc
nghiệm cũng như làm bài thi trắc nghiệm đặc biệt là bồi dưỡng cho đối tượng học
sinh dự thi tốt nghiệp THPT, dự thi đại học, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài
nghiên cứu “ Phương pháp xử lý khi làm bài thi trắc nghiệm nói chung và môn
Hóa học nói riêng”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
- Việc học và thi kiểm tra đánh giá là một việc làm không thể thiếu đối với
mỗi giáo viên và học sinh. Học thế nào thi thế đó đã là việc làm quen thuộc
với hình thức thi tự luận, nội dung kiến thức chỉ tập trung ở một số phần, một
số chương, các em có thể học tủ, ôn tủ hoặc ôn cấp tốc ở một số trung tâm có
các thầy cô nhiều năm trong nghề, có nhiều kinh nghiệm ôn thi Đại học, cao
đẳng, học sinh chỉ cần tập trung ôn tập trong một khoảng thời gian ngắn là có
1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
kỹ năng giải nhanh, chưa loại trừ hết các trường hợp, đôi khi còn nhầm lẫn về
mặt lý thuyết nên khi giải còn nhiều sai sót, ý thức tự giác của các em chưa
cao, còn ỷ lại, trông chờ vào thầy cô giáo. Đứng trước những bài lý thuyết
hoặc nhiều dạng toán, các em ngại làm, ngại học, đôi khi đi tìm lời giải trong
các tài liệu, hoặc chọn liều vừa mất thời gian lại vừa không chính xác. Nhiều
học sinh giải bài tập và làm bài thi tự luận rất tốt nhưng khi giải bài tập và
làm bài thi dưới hình thức thi trắc nghiệm lại đạt điểm không cao.
2. Kết quả khi chưa thực hiện đề tài :
Qua công tác giảng dạy và kiểm tra, khảo sát chất lượng môn Hoá Học ở
bậc trung học phổ thông từ năm 2007 đến năm 2013 tại các khối lớp mà tôi trực
tiếp giảng day tôi thấy hầu hết học sinh được hỏi đều đang gặp lúng túng trong khi
làm bài thi trắc nghiệm. Để thấy rõ được thực trạng và những yếu kém của học
sinh khi chuyển từ hình thức thi tự luận sang trắc nghiệm tôi đã tiến hành khảo
sát một đề kiểm tra 15 phút với 10 câu hỏi và thu được kết quả:
Lớp
Số HS
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
11D 36 4 11,1 12 33,3 10 27,8 4 11,1 2 5,7
11B 29 2 6,9 7 24,1 15 51,7 4 13,8 1 3,5
11I 46 5 10,8 15 32,6 16 34,8 6 13,0 4 8,8
Tổng 111 11 9,9 34 30,6 41 36,9 14 12,6 7 6,3
3. Nguyên nhân của thực trạng trên:
- Chưa có phương pháp học, chưa có kinh nghiệm làm bài.
- Kiến thức rất rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên khả năng nhớ, vận
dụng, tổng hợp kiến thức còn hạn chế.
- Thời gian đầu tư cho việc học không nhiều.
- Thời gian cho mỗi câu hỏi ngắn.
3
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
sách nào thì nên "trung thành" với cuốn đó và làm hết toàn bộ các đề trong sách.
Nhưng quan trọng nhất là phải nắm thật vững kiến thức bởi thi trắc nghiệm đồng
nghĩa với việc kiến thức trải dài trên diện rộng. Khi có kiến thức bao trùm cả
chương trình, thí sinh có thể làm được bất cứ đề thi nào.
2. Điền vào phiếu trả lời trắc nghiệm:
2.1. Vào phòng thi, khi nhận được phiếu trả lời trắc nghiệm, thí sinh phải
điền ngay vào các mục từ 1 đến 9 (bao gồm thông tin các nhân và thông tin về
phòng thi, hội đồng coi thi, môn thi, ngày thi). Sau khi nhận đề, thí sinh phải điền
vào mục số 10 là mã đề thi. Tất cả thông tin này đều phải điền bằng bút bi hoặc
bút mực, không được sử dụng màu đỏ. Nếu điền thiếu bất cứ thông tin nào, bài
làm đều phạm quy. Đồng thời chú ý xem lướt qua đề thi và phiếu trả lời xem có
đầy đủ câu hỏi không, các câu hỏi có được in rõ ràng không. thí sinh không làm
bài trực tiếp vào đề thi mà phải trả lời trên phiếu trả lời trắc nghiệm.
2.2. Thí sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm bằng cách dùng bút chì tô đen toàn
bộ khung A, B, C hoặc D. Nên dùng loại bút chì mềm (2B, 6B ) và phải mang
theo vài bút chì gọt sẵn dự trữ, đề phòng trường hợp gẫy ngòi. Không nên gọt bút
chì quá nhọn, nên để đầu bút chì dẹt và cầm bút chì thẳng đứng để tô đen nhanh.
2.3. Khi tô các ô tròn, thí sinh phải chú ý tô đậm kín cả ô, tô thừa ra ngoài
một chút không sao nhưng tuyệt đối không tô thiếu. Trong trường hợp tô nhầm
hoặc muốn trả lời lại, thí sinh dùng tẩy, tẩy thật sạch ô cũ và tô kín ô mới. Nếu
không tẩy sạch, máy chấm sẽ coi như có 2 ô đen và câu trả lời đó không được
chấm điểm.
2.4.Thí sinh nên để phiếu trả lời trắc nghiệm bên phía tay cầm bút, bên kia
là đề thi. Tay trái giữ ở vị trí câu trắc nghiệm đang làm, tay phải dò tìm số câu trả
lời tương ứng trên phiếu trả lời trắc nghiệm và tô vào ô trả lời được lựa chọn. Tuy
phải tận dụng thời gian nhưng cũng cần rất cẩn thận, tránh tô nhầm sang dòng của
câu khác bởi vì chỉ cần một câu nhầm dòng có thể dẫn đến sai dây chuyền toàn bộ
các câu sau đó.
3. Cách làm bài thi hợp lý nhất:
& B ( biết chắc là sai) thì còn C, D. Xác suât chọn 1 trong 2 đã là 50%. Nếu
6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
kết hợp xét chung trong tổng bộ Đề bạn có thể nâng xác suất đúng lên 75 -
90%
4. Những điều cần lưu ý khi làm bài thi dưới hình thức trắc nghiệm:
4.1. Đối với thi trắc nghiệm, đề thi gồm nhiều nội dung kiến thức, rải
khắc chương trình, không có trọng tâm cho mỗi môn thi,do đó phải học toàn
bộ nội dung môn học, tránh đoán “tủ”, học “tủ”. Gần sát ngày thi, nên rà soát
lại chương trình môn học đã ôn tập; xem kỹ hơn đối với những nội dung khó;
nhớ lại những chi tiết cốt lõi. Không nên làm thêm những câu trắc nghiệm
mới vì dễ hoang mang nếu gặp những câu trắc nghiệm quá khó.
4.2. Đừng bao giờ nghĩ đến việc mang “tài liệu trợ giúp” vào phòng
thi hoặc trông chờ sự giúp đỡ của thí sinh khác trong phòng thi, vì các thí sinh
có đề thi với hình thức hoàn toàn khác nhau.
4.3.Trước ngày thi, nên “ôn” lại toàn bộ quy trình thi trắc nghiệm để
hành động chính xác và nhanh nhất, vì có thể nói, thi trắc nghiệm là một
cuộc chạy “marathon”.
4.4.Theo đúng hướng dẫn của giám thị, thực hiện tốt và tạo tâm trạng
thoải mái trong phần khai báo trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Bằng cách đó,
bạn có thể củng cố sự tự tin khi làm bài trắc nghiệm.
4.5.Thời gian là một thử thách khi làm bài trắc nghiệm; bạn phải hết
sức khẩn trương, tiết kiệm thời gian; phải vận dụng kiến thức, kỹ năng để
nhanh chóng quyết định chọn câu trả lời đúng. Nên bắt đầu làm bài từ câu trắc
nghiệm số 1; lần lượt “lướt qua” khá nhanh, quyết định làm những câu cảm
thấy dễ và chắc chắn, đồng thời đánh dấu trong đề thi những câu chưa làm
được; lần lượt thực hiện đến câu trắc nghiệm cuối cùng trong đề. Sau đó quay
trở lại “giải quyết” những câu đã tạm thời bỏ qua. Lưu ý, trong khi thực hiện
vòng hai cũng cần hết sức khẩn trương; nên làm những câu tương đối dễ hơn,
một lần nữa bỏ lại những câu quá khó để giải quyết trong lượt thứ ba, nếu còn
8
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
+ Không nên dự đoán xem đề thi khó hay dễ, các bạn nhớ rằng khó là
khó chung và dễ là dễ chung cho tất cả các thí sinh.
+ Thư giãn và tập trung vào trả lời câu hỏi. Câu dễ làm trước, câu khó
làm sau, đừng nản chí.
+Tận dụng tối đa thời gian làm bài.
* PHẦN RIÊNG:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHI LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM MÔN
HÓA HỌC
1. Kinh nghiệm khi làm bài thi trắc nghiệm môn Hóa học:
1.1. Điểm khác biệt giữa bài thi Hóa so với các môn Toán - Lý là
phần tính toán của Hóa đơn giản. Tuy nhiên môn Hóa thường phải nhớ kiến
thức lý thuyết nhiều. Nắm tốt các lý thuyết tổng quát sẽ giúp các em làm tốt
70% số câu hỏi. Phần còn lại nằm vào các trường hợp đặc biệt cần phải nhớ
hoặc cần suy luận.
1.2. Đề thi trắc nghiệm môn Hóa học thông thường gồm ½ là câu hỏi lý
thuyết và ½ là bài tập tính toán.
- Nếu là bài tập tính toán, trước hết các em cần xác định việc tính toán
không quá phức tạp, hầu hết đều có thể đưa về 1 phương trình hay hệ phương
trình toán học đơn giản, phải được trang bị một số phương pháp giải toán hoá
như: các công thức tính nhanh, các phương pháp giải nhanh như: Bảo
toàn khối lương, phương pháp bảo toàn electron, phương pháp đường chéo,
bài toán chất khí, phương pháp trung bình Trước khi giải toán phải tìm số
mol các chất (nếu có thể), viết phương trình hoá học hay sơ đồ biến hoá để kết
nối các mối quan hệ, từ đó lập phương trình toán học, giải toán tìm nghiệm.
Trong một số trường hợp bài toán hóa học cho số chia không hết (ví dụ 89/3)
học sinh thường làm tròn và có thể dẫn đến một kết quả sai, trong trường hợp
này ta nên dùng phân số để tính toán.
9
Phản ứng oxi hoá - khử là một kiến thức rất quan trọng, nó xuyên suốt
trong chương trình hoá học vô cơ, trong kiểm tra kiến thức của các kì thi từ
tốt nghiệp, đại học đến các kỳ thi chọn học sinh Tỉnh, Thành phố, đến các kì
thi Quốc gia hầu hết đều có kiểm tra kiến thức về phản ứng oxi hoá - khử,
việc hiểu và vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hoá khử không thật đơn giản
và dễ, sau đây là một số “nhầm lẫn” về việc vận dụng kiến thức này.
Ví dụ 1: Hãy viết các PTHH sau đây dưới dạng ion đầy đủ và ion rút gọn
a. Al + HNO
3
→
Al(NO
3
)
3
+ NO
2
+ H
2
O
b. Fe + H
2
SO
4
→
FeSO
4
+ H
2
+ 3NO
2
+ 3 H
2
O
Phương trình ion rút gọn:
Al + 6 H
+
+ 3 NO
3
-
→
Al
3+
+ 3 NO
2
+ 3 H
2
O
b. Phương trình ion đầy đủ:
Fe + 2 H
+
+ SO
4
2-
→
Fe
2+
+ SO
2 Fe + 8 H
+
+ SO
4
2-
→
2 Fe
3+
+ S + 4 H
2
O
* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm ở câu (c) - đó là nhìn
phương trình ion rút gọn, ta thấy ion SO
4
2-
có tính oxi hoá, nhưng thực chất
ion SO
4
2-
không có tính oxi hóa, mà tính oxi hoá là của cả phân tử H
2
SO
4
11
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Ví dụ 2: X là một oxit sắt trong 3 oxit: FeO, Fe
2
O
3
O
4
, đối chiếu đáp án học sinh sẽ chọn ngay là đáp án B
hoặc D. Việc tính thể tích HNO
3
học sinh sẽ áp dụng phương pháp bảo toàn
electron như sau:
- Qúa trình oxi hoá:
3 Fe
+8/3
(Fe3O4)
+ 3e
→
3 Fe
3+
Mol: 69,9/232
→
0,3
- Qúa trình khử:
NO
3
-
+
3 e + 4 H
+
→
NO + 2 H
2
vậy ta có cách giải khác như sau:
- PTHH:
3 Fe
3
O
4
+ 28 HNO
3
→
9 Fe(NO
3
)
3
+ NO + 14 H
2
O (*)
Mol: 0,3
→
2,8
Theo PTHH (*) Số mol HNO
3
là: 2,8 Thể thích dd HNO
3
là 2,8/0,7 = 4 (lít)
→
Chọn đáp án B
3. Tránh những “bẫy” về cách hiểu và vận dụng kiến thức
12
Gọi CTTQ của hyđrocacbon A là
C
x
H
y
ta có:
x : y =
12
1
mC
mH
= 1: 2,4 = 5: 12. Vậy CTPT của hyđrocacbon A là: C
5
H
12
.
* Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công
thức thực nghiệm và CTPT, thực chất của việc giải trên là mới chỉ tìm ra được
công thức thực nghiệm, để có CTPT ta phải giải như sau.
- Như trên ta tìm được:
nCO
2
= 1,0 (mol), từ m
H
= 2,4 gam
→
nH
2
O =
1
1
2p
5
.
b. 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
4s
2
3d
2
.
13
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
c. 1s
2
2s
2
2p
6
4s
2
.
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
4s
2
3d
2
:
- Điểm sai: Đây là mức năng lượng chứ không phải là cấu hình electron, vì
vậy hầu hết sẽ sửa lại là 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
2
4s
2
.
- Tuy nhiên từ cấu hình electron trên học sinh có thể sửa theo kết quả không
6
3s
2
* Một số học sinh có thể không dừng lại bảo toàn electron mà thấy rằng lớp
thứ 3 còn thiếu electron nên có thể viết lại cấu hình trên với kết quả
1s
2
2
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
10
4s
2
.
* Một số học sinh nắm vững về cấu hình electron có thể còn đưa ra 9 kết
quả khác nữa: 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
= CH – COOH + HCl
→
CH
2
Cl – CH
2
– COOH (sản
phẩm phụ)
- Với cách giải quyết trên học sinh sẽ vướng vào cái “bẫy” là phản ứng trên
cộng trái với quy tắc Maccopnhicop vì hai liên kết đôi liên hợp C
3
= C
2
- C
1
=
O phân cực về phía O, suy ra liên kết đôi C = C phân cực về phía C
2
nên tại C
2
mang một phần điện tích âm và H
+
của tác nhân sẽ ưu tiên tấn công vào C
2
→
sản phẩm chính là
CH
2
Cl – CH
2
3
)
3
quá trình cô cạn A không xảy ra sự nhiệt phân
muối, vậy muối khan là Fe(NO
3
)
3
, nhiệt phân muối này sẽ xảy ra phương trình
hoá học sau:
4 Fe(NO
3
)
3
0
t C
→
2 Fe
2
O
3
+ 12 NO
2
+ 3O
2
(2)
- Vậy chất rắn thu được là Fe
2
O
2
= 6nFe
2
O
3
; nO
2
=
3
2
.nFe
2
O
3→
n
khí
=
15
2
.nFe
2
O
3
=
15
16
(mol)
→
2 Fe
2
O
3
+ 8 NO
2
+ O
2
(4)
Do đó khối lượng chất rắn và số mol khí thu được là:
mFe
2
O
3
= 0,1875. 160 = 30,0 (g); n
khí
=
5
2
.nFe
2
O
3
=
15
32
(mol)
Ví dụ 7: Nguyên tố M thuộc chu kỳ 2, nhóm VIIA. Công thức oxit cao nhất
và hợp chất khí với H là:
* Tuy nhiên học sinh dễ mắc phải “bẫy” là với đặc điểm các nguyên tố
thuộc chu kỳ 2 thì kết quả trên lại sai. Ở chu kỳ 2, nhóm VIIA là nguyên tố F,
do đặc điểm cấu tạo nguyên tử F nên công thức oxit cao nhất của F lại là F
2
O
vì vậy chọn đáp án D.
Ví dụ 8 : Dãy gồm các chất đều tác dụng với dd Fe(NO
3
)
2
là:
A. Mg, Cl
2
, NaOH, NaCl. B. AgNO
3
, Cl
2
, NH
3
, NaOH.
C. NaOH, Cl
2
, NH
3
, HCl, AgNO
3
. D. AgNO
3
, NaOH, Cu, HCl.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh đều cho rằng không có phản ứng giữa HCl với
Vì vậy chọn đáp án C.
Ví dụ 9: Cho các chất p-Crezon, natrietylat, anilin, phenylamoniclorua,
protein. Số chất tác dụng được với dd NaOH là:
A. 5 B. 4 C.3 D. 2
* Sai lầm: Học sinh thường chọn đáp án B là gồm 4 chất: p- Crezon, alanin,
phenylamoniclorua và protein.
* Phân tích: Học sinh đã sai lầm khi không để ý phản ứng giữa etylatnatri
với H
2
O, bởi vì trong dung dịch NaOH có H
2
O.
Chính vì có thêm phản ứng này nên ta chọn đáp án A
Ví dụ 10: Cho dd NaOH loãng, dư vào mỗi dung dịch : BaCl
2,
AlCl
3
, CrCl
2
,
CuCl
2
, AgNO
3
. Số chất kết tủa tạo thành là:
A. 2. B. 3. C.4. D. 5.
17
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
* Sai lầm: Đa số học sinh làm như sau:
Cho dd NaOH vào dd BaCl
4
. D. Cả 3 chất.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh sẽ chọn đáp án D, bởi vì các em suy nghĩ rằng
Fructzơ là ancol đa chức nên có phản ứng với Cu(OH)
2
, có cân bằng:
Fructozơ
→
¬
Glucozơ
nên có phản ứng khử nhóm chức –CHO bằng chất oxihoá mạnh như dd Br
2
,
hay dd KMnO
4
.
* Phân tích: Thực ra để có cân bằng Fructozơ
→
¬
Glucozơ thì cần
phải có môi trường –OH. Chính vì thế mà dd Br
2
hay dd
KMnO
4
đều
không thể
oxi hóa được Fructozơ.
2
thấy nước Br
2
bị mất màu và thu được một dd
đồng nhất trong suốt.
* Sai lầm: Hâu hết học sinh sẽ chọn đáp án B vì cho rằng amin thơm ít tan
trong nước nên không làm đổi màu quỳ tím.
* Phân tích: Benzylamin là một trường hợp đặc biệt, tan rất nhiều trong
nước và đổi màu quỳ tím, vì có phản ứng thuỷ phân với H
2
O. Vì vậy chọn đáp
án D
4. Tránh vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lí và
không triệt để trong việc giải các bài tập hoá học.
Một số sai lầm phổ biến như khi tính theo phương trình hóa học hoặc sơ đồ
phản ứng mà quên cân bằng hoặc cân bằng không đúng, hiểu sai các công
thức tính toán trong hoá học, sử dụng đơn vị tính không thống nhất, không để
ý đến hiệu suất phản ứng cho trong bài, không xác định được chất nào hết hay
dư trong quá trình phản ứng, hiểu sai tính chất của các chất nên viết phương
trình hóa học không chính xác, thiếu các kĩ năng cơ bản khi sử dụng các
phương pháp giải bài tập,
Ví dụ 14. Trong một cốc nước chứa a mol Ca
2+
, b mol Mg
2+
và c mol HCO
−
3
. Nếu chỉ dùng nước vôi trong, nồng độ Ca(OH)
2
Số mol: x.V → x.V → 2x.V
3
HCO
−
+ OH
-
→
H
2
O +
2
3
CO
−
Số mol: c → 2x.V → 2x.V
2
3
CO
−
+ Mg
2+
→
MgCO
3
↓
b ← b
Ca(OH)
2
→
Ca
2+
+ 2OH
-
Số mol: x.V → x.V → 2x.V
3
HCO
−
+ OH
-
→
H
2
O +
2
3
CO
−
Số mol: c → c → c
2OH
-
+ Mg
2+
5
OH (có H
2
SO
4
đặc làm xúc
tác) thu được m (g) hỗn hợp este (hiệu suất các phản ứng este hóa đều bằng
80%). Giá trị m là :
A. 7,04 B. 6,48 C. 8,10 D. 8,80
* Phân tích: Học sinh dễ mắc sai lầm khi áp dụng nhanh phương pháp tăng
- giảm khối lượng quen thuộc nhưng chỉ chú ý đến số mol ancol:
RCOOH + C
2
H
5
OH
→
RCOOC
2
H
5
+ H
2
O
1 mol → ∆m tăng = 28 g
0,125 mol → ∆m tăng = 3,5 g
→ m = 5,3 + 3,5 = 8,8 → Phương án nhiễu D.
* Một số học sinh cho rằng kết quả này không đúng là do chưa tính đến hiệu
suất phản ứng → m = 8,8. 80% = 7,04 → Phương án nhiễu A.
* Rõ ràng kết quả này cũng không chính xác vì học sinh đã mắc sai lầm khi
→ Phương án nhiễu C.
Vì H = 80%
8,1.80
m 6,48g
100
→ = = →
Đáp án B.
21
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Ví dụ 16. Cho 31,84g hỗn hợp NaX và NaY (X, Y là 2 halogen ở 2 chu kì
liên tiếp) vào dung dịch AgNO
3
dư thì thu được 57,34 g kết tủa . Công thức
của 2 muối là :
A. NaCl và NaBr B. NaBr và NaI
C. NaF và NaCl D. NaF và NaCl hoặc NaBr và NaI.
* Phân tích: Hầu hết học sinh sẽ giải bài tập này bằng cách chuyển bài toán
hỗn hợp thành bài toán một chất tương đương bằng việc gọi công thức tổng
quát chung 2 muối là: Na
X
.
- Phương trình hoá học được viết:
Na
X
+ AgNO
3
→
Ag
X
+ NaNO
3
nAgNO
3
=
57,34
143,5
≈
0,4 (mol)
→
nNaCl
≈
0,4 (mol)
→
m
NaCl
= 0,4. 58,5 = 23,4 < 31,84 → trường hợp này cũng thoả mãn.
+ KN 2 : Hỗn hợp cả 2 muối halogen đều phản ứng với dung dịch AgNO
3
, kết
quả tìm được 2 halogen là Br và I. Như vậy đáp án là D.
5. Tránh sai lầm về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hóa học trong giải
bài tập.
Một số sai lầm của học sinh trong quá trình giải bài tập là do kiến thức lý
thuyết chưa nắm vững,còn phiến diện, chưa tổng hợp được kiến thức, ví dụ
22
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
như một chất hữu cơ có phản ứng tráng gương thì học sinh chỉ nghĩ rằng đó là
3
dd NH
→
RCOOH + 2 Ag.
RCOOH + NaOH
→
RCOONa + H
2
O.
Theo hai phản ứng trên
OOHRC
n
=
OONaRC
n
=
RCHO
n
=
1
2
Ag
n
= 0,1
- Gỉa sử A là este đơn chức:
Phương trình hoá học: RCOOR
’
+ NaOH
→
RCOONa + R
=CH- thì CH
2
=CH-COONa là chất B, còn C là CH
3
OH.
Vậy C không thể có phản ứng tráng gương. Do đó B là CH
3
COONa và C là
CH
2
=CH-OH, rượu này không bền nên chuyển thành CH
3
CHO. Vậy A là:
CH
3
COOCH=CH
2
.
Ví dụ 18: Hoà tan 5,6 gam bột Fe trong 300,0 ml dd HCl 1M. Sau phản ứng
thu được dung dịch X và khí H
2
. Cho lượng dư dd AgNO
3
vào dd X thì thu
được m gam chất rắn. Giá trị của m là
Giải:
* Sai lầm: Hầu hết học sinh là như sau:
Phương trình hoá học:
Fe + 2 HCl
→
Fe
2+
+ Ag
+
→
Fe
3+
+ Ag (4)
mol 0,1 0,1
Vậy: Khối lượng chất rắn là: 53,85 gam.
* Phân tích: Học sinh đã viết thiếu phản ứng hoá học:
4 H
+
+ 3 Fe
3+
+ NO
3
-
→
3 Fe
3+
+ NO + 2 H
2
O (*)
Phản ứng (*) xảy ra trước phản ứng (4) nên Fe
2+
trong phản ứng (4) chỉ còn:
0,025. Do đó khối lượng chất rắn là: 45,75 gam.
= 0,08 (mol)
- Qua số mol của Al(OH)
3
thu được ta thấy AlCl
3
dư, nên NaOH hết, vậy
NaOH tính theo kết tủa Al(OH)
3
,
do đó
NaOH
n
= 3.
3
( )Al OH
n
= 3. 0,08 = 0,24 (mol)
Vậy: V
Y
= 0,28 (lít).
* Phân tích: Hầu hết học sinh đã mắc một sai lầm là không nghĩ đến tính
lưỡng tính của Al(OH)
3
nên đã không xét thêm một trường hợp nữa là dd
NaOH tác dụng hết với Al(OH)
3
để thu được kết tủa cực đại, sau đó một phần
kết tủa Al(OH)
3
tan ra, do đó bài toán này có 2 kết quả đúng là: V dung dịch