A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay Bộ GD&ĐT đang trong quá trình đổi mới toàn diện về giáo dục ở
các cấp học trong đó có cấp THPT nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo.
Công cuộc đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như đổi mới chương
trình, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới thiết bị dạy học, đổi mới quan niệm và đặc
biệt là đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá. Hình thức thi trắc nghiệm khách quan
được áp dụng đối với các môn Ngoại ngữ, Vật lý, Sinh học, Hóa học và nhiều
môn học khác đã và đang diễn ra những năm gần đây. Nhiều thí sinh hiện rất
hoang mang, lo lắng bởi trong khoảng thời gian 60 phút thi tốt nghiệp phải làm 40
câu hỏi và trong 90 phút thi tuyển sinh đại học phải hoàn thành tới 50 câu hỏi.
Kỹ năng, phương pháp làm bài chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
tiến độ bài làm và chất lượng bài thi của thí sinh. Nắm được kỹ năng, phương
pháp xử lý cộng với nền tảng kiến thức tốt, thí sinh có thể hoàn thành bài thi trắc
nghiệm một cách chính xác nhất và nhanh nhất trong đúng thời gian quy định.
Để giúp học sinh tự tin,đạt kết quả cao hơn trong quá trình làm bài tập trắc
nghiệm cũng như làm bài thi trắc nghiệm đặc biệt là bồi dưỡng cho đối tượng học
sinh dự thi tốt nghiệp THPT, dự thi đại học, bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài
nghiên cứu “ Phương pháp xử lý khi làm bài thi trắc nghiệm nói chung và môn
Hóa học nói riêng”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
- Việc học và thi kiểm tra đánh giá là một việc làm không thể thiếu đối với
mỗi giáo viên và học sinh. Học thế nào thi thế đó đã là việc làm quen thuộc
với hình thức thi tự luận, nội dung kiến thức chỉ tập trung ở một số phần, một
số chương, các em có thể học tủ, ôn tủ hoặc ôn cấp tốc ở một số trung tâm có
các thầy cô nhiều năm trong nghề, có nhiều kinh nghiệm ôn thi Đại học, cao
đẳng, học sinh chỉ cần tập trung ôn tập trong một khoảng thời gian ngắn là có
thể làm bài thi với điểm số cao. Hiện nay hình thức kiểm tra đánh giá đó đang
thu hẹp lại gần, nhất là ở các môn học: Hóa, Sinh, Lý, Ngoại ngữ và một phần ở
các môn học khác. Vì vậy giữa việc học và thi đang là một vấn đề rất băn khoăn
các tài liệu, hoặc chọn liều vừa mất thời gian lại vừa không chính xác. Nhiều
học sinh giải bài tập và làm bài thi tự luận rất tốt nhưng khi giải bài tập và
làm bài thi dưới hình thức thi trắc nghiệm lại đạt điểm không cao.
2. Kết quả khi chưa thực hiện đề tài :
Qua công tác giảng dạy và kiểm tra, khảo sát chất lượng môn Hoá Học ở
bậc trung học phổ thông từ năm 2007 đến năm 2013 tại các khối lớp mà tôi trực
tiếp giảng day tôi thấy hầu hết học sinh được hỏi đều đang gặp lúng túng trong khi
làm bài thi trắc nghiệm. Để thấy rõ được thực trạng và những yếu kém của học
sinh khi chuyển từ hình thức thi tự luận sang trắc nghiệm tôi đã tiến hành khảo
sát một đề kiểm tra 15 phút với 10 câu hỏi và thu được kết quả:
Lớp
Số HS
dự KT
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
11D 36 4 11,1 12 33,3 10 27,8 4 11,1 2 5,7
11B 29 2 6,9 7 24,1 15 51,7 4 13,8 1 3,5
11I 46 5 10,8 15 32,6 16 34,8 6 13,0 4 8,8
Tổng 111 11 9,9 34 30,6 41 36,9 14 12,6 7 6,3
3. Nguyên nhân của thực trạng trên:
- Chưa có phương pháp học, chưa có kinh nghiệm làm bài.
2
- Kiến thức rất rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên khả năng nhớ, vận
dụng, tổng hợp kiến thức còn hạn chế.
- Thời gian đầu tư cho việc học không nhiều.
- Thời gian cho mỗi câu hỏi ngắn.
IIi. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
* PHẦN CHUNG:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHI LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM
1. Đọc và phân loại bài tập:
2.1. Vào phòng thi, khi nhận được phiếu trả lời trắc nghiệm, thí sinh phải
điền ngay vào các mục từ 1 đến 9 (bao gồm thông tin các nhân và thông tin về
phòng thi, hội đồng coi thi, môn thi, ngày thi). Sau khi nhận đề, thí sinh phải điền
vào mục số 10 là mã đề thi. Tất cả thông tin này đều phải điền bằng bút bi hoặc
3
bút mực, không được sử dụng màu đỏ. Nếu điền thiếu bất cứ thông tin nào, bài
làm đều phạm quy. Đồng thời chú ý xem lướt qua đề thi và phiếu trả lời xem có
đầy đủ câu hỏi không, các câu hỏi có được in rõ ràng không. thí sinh không làm
bài trực tiếp vào đề thi mà phải trả lời trên phiếu trả lời trắc nghiệm.
2.2. Thí sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm bằng cách dùng bút chì tô đen toàn
bộ khung A, B, C hoặc D. Nên dùng loại bút chì mềm (2B, 6B ) và phải mang
theo vài bút chì gọt sẵn dự trữ, đề phòng trường hợp gẫy ngòi. Không nên gọt bút
chì quá nhọn, nên để đầu bút chì dẹt và cầm bút chì thẳng đứng để tô đen nhanh.
2.3. Khi tô các ô tròn, thí sinh phải chú ý tô đậm kín cả ô, tô thừa ra ngoài
một chút không sao nhưng tuyệt đối không tô thiếu. Trong trường hợp tô nhầm
hoặc muốn trả lời lại, thí sinh dùng tẩy, tẩy thật sạch ô cũ và tô kín ô mới. Nếu
không tẩy sạch, máy chấm sẽ coi như có 2 ô đen và câu trả lời đó không được
chấm điểm.
2.4.Thí sinh nên để phiếu trả lời trắc nghiệm bên phía tay cầm bút, bên kia
là đề thi. Tay trái giữ ở vị trí câu trắc nghiệm đang làm, tay phải dò tìm số câu trả
lời tương ứng trên phiếu trả lời trắc nghiệm và tô vào ô trả lời được lựa chọn. Tuy
phải tận dụng thời gian nhưng cũng cần rất cẩn thận, tránh tô nhầm sang dòng của
câu khác bởi vì chỉ cần một câu nhầm dòng có thể dẫn đến sai dây chuyền toàn bộ
các câu sau đó.
3. Cách làm bài thi hợp lý nhất:
3.1. Chia đề làm 3 nhóm, làm bài thành 3 vòng
+ Nhóm 1: là câu hỏi mà thí sinh có thể trả lời được ngay.
+ Nhóm 2: là những câu hỏi cần phải tính toán và suy luận.
+ Nhóm 3: là những câu hỏi còn phân vân hoặc vượt quá khả năng của
mình thì thí sinh cần đọc kỹ dành thêm thời gian.
bộ nội dung môn học, tránh đoán “tủ”, học “tủ”. Gần sát ngày thi, nên rà soát
lại chương trình môn học đã ôn tập; xem kỹ hơn đối với những nội dung khó;
nhớ lại những chi tiết cốt lõi. Không nên làm thêm những câu trắc nghiệm
mới vì dễ hoang mang nếu gặp những câu trắc nghiệm quá khó.
4.2. Đừng bao giờ nghĩ đến việc mang “tài liệu trợ giúp” vào phòng
thi hoặc trông chờ sự giúp đỡ của thí sinh khác trong phòng thi, vì các thí sinh
có đề thi với hình thức hoàn toàn khác nhau.
4.3.Trước ngày thi, nên “ôn” lại toàn bộ quy trình thi trắc nghiệm để
hành động chính xác và nhanh nhất, vì có thể nói, thi trắc nghiệm là một
cuộc chạy “marathon”.
4.4.Theo đúng hướng dẫn của giám thị, thực hiện tốt và tạo tâm trạng
thoải mái trong phần khai báo trên phiếu trả lời trắc nghiệm. Bằng cách đó,
bạn có thể củng cố sự tự tin khi làm bài trắc nghiệm.
4.5.Thời gian là một thử thách khi làm bài trắc nghiệm; bạn phải hết
sức khẩn trương, tiết kiệm thời gian; phải vận dụng kiến thức, kỹ năng để
nhanh chóng quyết định chọn câu trả lời đúng. Nên bắt đầu làm bài từ câu trắc
nghiệm số 1; lần lượt “lướt qua” khá nhanh, quyết định làm những câu cảm
thấy dễ và chắc chắn, đồng thời đánh dấu trong đề thi những câu chưa làm
được; lần lượt thực hiện đến câu trắc nghiệm cuối cùng trong đề. Sau đó quay
trở lại “giải quyết” những câu đã tạm thời bỏ qua. Lưu ý, trong khi thực hiện
vòng hai cũng cần hết sức khẩn trương; nên làm những câu tương đối dễ hơn,
một lần nữa bỏ lại những câu quá khó để giải quyết trong lượt thứ ba, nếu còn
thời gian.
4.6. Khi làm từng câu trắc nghiệm cần đọc kỹ nội dung câu trắc
nghiệm, phải đọc hết trọn vẹn mỗi câu cả phần dẫn và 4 lựa chọn A, B, C,D
loại bỏ ngay những phương án sai và tập trung cân nhắc trong các phương án
còn lại, phương án nào chọn là phương án đúng dùng bút chì tô kín ô đã chọn
trong phiếu.
4.7. Làm đến câu trắc nghiệm nào, dùng bút chì tô ngay ô trả lời trên
phiếu “trả lời trắc nghiêm”, ứng với câu trắc nghiệm đó. Tránh làm toàn bộ
1.1. Điểm khác biệt giữa bài thi Hóa so với các môn Toán - Lý là
phần tính toán của Hóa đơn giản. Tuy nhiên môn Hóa thường phải nhớ kiến
thức lý thuyết nhiều. Nắm tốt các lý thuyết tổng quát sẽ giúp các em làm tốt
70% số câu hỏi. Phần còn lại nằm vào các trường hợp đặc biệt cần phải nhớ
hoặc cần suy luận.
1.2. Đề thi trắc nghiệm môn Hóa học thông thường gồm ½ là câu hỏi lý
thuyết và ½ là bài tập tính toán.
- Nếu là bài tập tính toán, trước hết các em cần xác định việc tính toán
không quá phức tạp, hầu hết đều có thể đưa về 1 phương trình hay hệ phương
trình toán học đơn giản, phải được trang bị một số phương pháp giải toán hoá
như: các công thức tính nhanh, các phương pháp giải nhanh như: Bảo
toàn khối lương, phương pháp bảo toàn electron, phương pháp đường chéo,
bài toán chất khí, phương pháp trung bình Trước khi giải toán phải tìm số
mol các chất (nếu có thể), viết phương trình hoá học hay sơ đồ biến hoá để kết
6
nối các mối quan hệ, từ đó lập phương trình toán học, giải toán tìm nghiệm.
Trong một số trường hợp bài toán hóa học cho số chia không hết (ví dụ 89/3)
học sinh thường làm tròn và có thể dẫn đến một kết quả sai, trong trường hợp
này ta nên dùng phân số để tính toán.
- Nếu là bài tập lý thuyết các em cần ôn tập đầy đủ phần lý thuyết trong
sách giáo khoa. Một điều chắc chắn là đề thi không được phép ra ngoài
chương trình sách giáo khoa nên học sinh không cần sa đà vào các kiến thức
khó ngoài sách giáo khoa. Cách tốt nhất là học sinh nên tự làm đề cương để
kiểm soát phần nào còn thiếu, yếu hoặc chưa hiểu kĩ theo từng dạng như sau:
+ Đề thi thường có các câu hỏi giáo khoa hoặc bài tập có tính toán nhỏ
có nội dung của kiến thức vô cơ - đại cương. Để lấy điểm trọn vẹn, các em
phải nắm thật vững kiến thức sách giáo khoa và làm bài thật chuẩn xác. Với
các câu này, nội dung thường nằm trong các phần: cấu tạo nguyên tử - bảng
tuần hoàn các nguyên tố hóa học; phản ứng oxy hóa - khử, chuyển dịch cân
bằng, dung dịch - sự điện ly, các bài toán pH, tính chất hóa học của những
3
+ NO
2
+ H
2
O
b. Fe + H
2
SO
4
→
FeSO
4
+ H
2
c. Mg + H
2
SO
4
(đặc, nóng)
→
MgSO
4
+ S + H
2
O
3+
+ 3 NO
2
+ 3 H
2
O
b. Phương trình ion đầy đủ:
Fe + 2 H
+
+ SO
4
2-
→
Fe
2+
+ SO
4
2-
+ H
2
O
Phương trình ion rút gọn là:
Fe + 2 H
+
→
Fe
2+
+ H
phương trình ion rút gọn, ta thấy ion SO
4
2-
có tính oxi hoá, nhưng thực chất
ion SO
4
2-
không có tính oxi hóa, mà tính oxi hoá là của cả phân tử H
2
SO
4
Ví dụ 2: X là một oxit sắt trong 3 oxit: FeO, Fe
2
O
3,
Fe
3
O
4
. có % khối lượng
sắt trong oxit là 72,41 %. Cho biết CTPT của X, tính thể tích dd HNO
3
0,7 M
cần thiết để hoà tan hết 69,6 gam X, biết phản ứng giải phóng khí NO duy
nhất.
A. Fe
2
O
3,
3+
Mol: 69,9/232
→
0,3
- Qúa trình khử:
NO
3
-
+
3 e + 4 H
+
→
NO + 2 H
2
O
Mol: 0,3
→
0,4
Vậy: Số mol HNO
3
đã tham gia phản ứng trên là: 0,4 (mol)
Do đó thể tích dd HNO
3
là 0,4/0,7 = 4/7
→
Chọn đáp án D
* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là viết quá trình khử để
tính số mol HNO
3
2
O (*)
Mol: 0,3
→
2,8
8
Theo PTHH (*) Số mol HNO
3
là: 2,8 Thể thích dd HNO
3
là 2,8/0,7 = 4 (lít)
→
Chọn đáp án B
3. Tránh những “bẫy” về cách hiểu và vận dụng kiến thức
Kiến thức hóa học phổ thông vừa phong phú vừa đa dạng, vừa lí thuyết
vừa thực nghiệm, vừa trừu tượng và vừa cụ thể, nên việc mắc sai lầm trong
học tập là điều khó tránh khỏi. Giáo viên nên có những dự đoán về sai lầm để
tạo tình huống có vấn đề trong bài tập, phần nào giúp học sinh hiểu được
những sai lầm đó qua hoạt động giải bài tập, tránh mắc phải những tình huống
tương tự sau khi đã hiểu kiến thức một cách chính xác.
Ví dụ 3: Đốt cháy hoàn toàn 14,4 gam một hiđrocacbon A thu được 44,0
gam CO
2.
Tìm CTPT của hyđrocacbon A
* Phân tích: Với bài tập này nhiều học sinh đưa ra lời giải như sau:
Từ giả thiết
→
nCO
2
* Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công
thức thực nghiệm và CTPT, thực chất của việc giải trên là mới chỉ tìm ra được
công thức thực nghiệm, để có CTPT ta phải giải như sau.
- Như trên ta tìm được:
nCO
2
= 1,0 (mol), từ m
H
= 2,4 gam
→
nH
2
O =
1
2
n
H
= 1,2 mol
Do: nH
2
O > nCO
2
nên A là ankan, có công thức tổng quát là C
n
H
2n + 2,
với n =
2
nCO
3d
2
.
c. 1s
2
2s
2
2p
6
4s
2
.
* Phân tích: Đây là một bài tập kiểm tra kiến thức về víêt cấu hình electron.
Vậy học sinh phải hiểu khái niệm về cấu hình electron và phương pháp viết
cấu hình electron, cụ thể là:
Bước 1. Mức năng lượng: 1s 2s2p 3s3p 4s3d4p 5s4p5d…
Bước 2. Hiểu rõ các quy tắc viết cấu hình electron: Sắp xếp các phân lớp
theo đúng trật tự của từng lớp, trong mỗi lớp theo đúng thứ tự phân lớp.
Với kiến thức này học sinh sẽ áp dụng giải quyết vấn đề trên
a. 1s
2
2s
1
2p
5
9
- Điểm sai: Vi phạm về việc sắp xếp electron theo trật tự mức năng lượng.
- Sửa lại: Chủ yếu học sinh chỉ sửa lại theo kết quả 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
2
4s
2
.
- Tuy nhiên từ cấu hình electron trên học sinh có thể sửa theo kết quả không
bảo toàn electron 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
4s
2
cũng thoã mãn.
c. 1s
2
2s
2
4s
2
.
* Một số học sinh nắm vững về cấu hình electron có thể còn đưa ra 9 kết
quả khác nữa: 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
x
4s
2
với x là: 0, 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 10.
Ví dụ 5. Xác định sản phẩm chính của phản ứng sau:
CH
2
= CH – COOH + HCl
→
* Phân tích: Đây là một câu hỏi về phản ứng cộng hợp của tác nhân bất đối
xứng và liên kết đôi C = C. Để giải quyết vấn đề này học sinh phải vận dụng
quy tắc Maccopnhicop: Trong phản ứng cộng axit hoặc nước (kí hiệu chung
là HA) vào liên kết C=C, H (phần mang điện tích dương) ưu tiên cộng vào C
mang nhiều H hơn (cacbon bậc thấp hơn), còn A (phần tử mang điện tích âm)
ưu tiên cộng vào C mang ít H hơn (cacbon bậc cao hơn)
2
mang một phần điện tích âm và H
+
của tác nhân sẽ ưu tiên tấn công vào C
2
→
sản phẩm chính là
CH
2
Cl – CH
2
– COOH.
Ví dụ 6: Cho lượng dư bột kim koại Fe tác dụng với 250 ml dung dịch
HNO
3
4M đun nóng và khuấy đều hỗn hợp. Phản ứng xảy ra hoàn toàn và giải
phóng ra khí NO duy nhất. Sau khi kết thúc phản ứng, đem lọc bỏ kết tủa thu
được dung dịch A. Làm bay hơi cẩn thận dung dịch A thu được muối khan,
nung nóng lượng muối khan đó ở nhiệt độ cao để phản ứng nhiệt phân xảy ra
hoàn toàn, thu được m gam chất rắn và x (mol) hỗn hợp gồm 2 khí.
10
a. Viết các phương trình phản ứng xảy ra.
b. Tìm m và x
* Phân tích: Với bài tập này học sinh sẽ tập trung vào việc chú ý đến tính
chất oxi hóa mạnh của HNO
3
, vì vậy các em sẽ giải quyết bài toán bằng việc
viết các phương trình hoá học:
Fe + 4 HNO
3
O
3
+ 12 NO
2
+ 3O
2
(2)
- Vậy chất rắn thu được là Fe
2
O
3
và hỗn hợp khí thu được là NO
2
, O
2
.
Từ giả thiết, do kim loại dư nên HNO
3
hết.
Vậy: nFe
2
O
3
=
1
8
nHNO
3
=
1
15
2
.nFe
2
O
3
=
15
16
(mol)
* Tuy nhiên với cách giải trên học sinh đã vấp “bẫy” là không chú ý dữ kiện
đây là kim loại Fe, khác với các kim loại khác ở chỗ là khi Fe dư thì sẽ xảy ra
phản ứng:
Fe + 2 Fe(NO
3
)
3
→
3 Fe(NO
3
)
2
(3)
Như vậy cách hiểu trên sẽ đem lại kết quả sai.
- Vậy dung dịch A không phải có Fe(NO
3
)
3
mà có Fe(NO
.nFe
2
O
3
=
15
32
(mol)
Ví dụ 7: Nguyên tố M thuộc chu kỳ 2, nhóm VIIA. Công thức oxit cao nhất
và hợp chất khí với H là:
A. M
2
O
3
, MH
3
. B. MO
3
, MH
2 .
C. M
2
O
7
, MH. D. M
2
O, MH.
* Phân tích: Bài tập trên là một bài kiểm tra kiến thức học sinh về nội dung
bảng HTTH, để làm bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về CTTQ
của các loại hợp chất quan trọng: oxit cao nhất, hyđroxit, hợp chất khí với
2
, NH
3
, HCl, AgNO
3
. D. AgNO
3
, NaOH, Cu, HCl.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh đều cho rằng không có phản ứng giữa HCl với
Fe(NO
3
)
2
vì HCl và HNO
3
đều là những axit mạnh và là axit bay hơi. Do đó
học sinh chọn đáp án B
* Phân tích: Khi cho Fe(NO
3
)
2
tác dụng với dd HCl thì sẽ xảy ra phản ứng
dạng ion như sau:
Fe
2+
+ 2 H
+
+ NO
3
-
2
, AgNO
3
. Số chất kết tủa tạo thành là:
A. 2. B. 3. C.4. D. 5.
* Sai lầm: Đa số học sinh làm như sau:
Cho dd NaOH vào dd BaCl
2
thấy không
có hiện tượng gì.
Cho từ từ dd NaOH vào dd AlCl
3
thì xuất hiện kết tủa, sau đó kết tủa tan.
Cho dd NaOH vào dd CuCl
2
thấy tạo kết tủa Cu(OH)
2
Cho dd NaOH vào dd AgNO
3
không xảy ra phản ứng do AgOH không tồn
tại. nên không xảy ra phản ứng.Vậy học sinh chọn đáp án A.
* Phân tích: Do AgOH không tồn tại nên đã bị phân hủy thành Ag
2
O và H
2
O.
Chính vì vậy khi cho dd NaOH vào dd AgNO
3
có xảy ra phản ứng.
KMnO
4
đều
không thể
oxi hóa được Fructozơ.
Chọn đáp án B.
12
Ví dụ 12: Điều chế polyvinylancol, người ta dùng các phương pháp nào sau
đây:
1. Trùng hợp ancol vinylic
2. Trùng hợp vinylaxetat, sau đó thuỷ phân trong dd NaOH
3. Thuỷ phân tinh bột.
A.1 và 2. B. Chỉ có 1. C. Chỉ có 2. D. Chỉ có 3.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh thường chọn đáp án A, vì học sinh thường nghĩ
rằng để có polyvinylancol thì phương pháp trùng hợp được áp dụng và trùng
hợp monome ancolvinylic.
* Phân tích: Học sinh đã phạm một sai lầm là ancolvinylic là một loại
ancol kém bền, không tồn tại, nó sẽ tự chuyển thành andehitaxetic CH
3
CHO.
Vậy đáp án đúng là C
Ví dụ 13: Sự mô tả nào sau đây không đúng hiện tượng hoá học.
A. Cho từ từ dd CH
3
COOH loãng vào dd Na
2
CO
3
2+
và c mol HCO
−
3
. Nếu chỉ dùng nước vôi trong, nồng độ Ca(OH)
2
x M để làm giảm độ cứng
của nước thì người ta thấy khi thêm V lít nước vôi trong vào cốc thì độ cứng
của nước trong cốc là nhỏ nhất. Biểu thức tính V theo a, b, x là
A.V =
x
ab +2
B.V =
x
ab
+
C.V =
x
ab 2+
D.V =
x
ab
2
+
* Phân tích: Cách giải phổ biến thường gặp là dựa vào các phản ứng ion
13
Ca(OH)
2
→
MgCO
3
↓
b ← b
2
3
CO
−
+ Ca
2+
→ CaCO
3
↓
(a + x.V)← (a + x.V)
Vậy ta có: a + b + x.V = 2x.V → V =
b a
x
+
→ Phương án nhiễu B.
* Sai lầm ở đây là học sinh không biết độ tan của Mg(OH)
2
(T = 5.10
-12
) nhỏ
hơn nhiều so với MgCO
3
(T = 1.10
2OH
-
+ Mg
2+
→
Mg(OH)
2
↓
2b ← b
2
3
CO
−
+ Ca
2+
→ CaCO
3
↓
c → c
Vậy ta có: c = x.V + a và c + 2.b = 2x. V → V =
2b a
x
+
→ Đáp án A.
Ví dụ 15. Hỗn hợp X gồm axit HCOOH và CH
3
COOH có số mol bằng nhau.
* Một số học sinh cho rằng kết quả này không đúng là do chưa tính đến hiệu
suất phản ứng → m = 8,8. 80% = 7,04 → Phương án nhiễu A.
* Rõ ràng kết quả này cũng không chính xác vì học sinh đã mắc sai lầm khi
tính toán theo lượng chất dư C
2
H
5
OH (H = 100%). Hướng dẫn học sinh tìm số
mol axit để so sánh với ancol xem chất nào là chất thiếu trong phương trình
phản ứng:
14
2 5
3
X C H OH
HCOOH : x mol
X 46x 60x 106x 5,3 x 0,05
CH COOH : x mol
5,75
n 0,1 n 0,125
46
→ + = = → =
→ = < = =
→ Tính theo axit:
2 5 2 5 2
RCOOH C H OH RCOOC H H O+ +ƒ
1 mol 1 m→ → ∆
tăng = 28g
Ag
X
↓
+ NaNO
3
(23 +
X
) gam → (108 +
X
) gam
31,84 gam → 57,34 gam
→
X
= 83,13
→
2 halogen là Br và I → đáp án B.
* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là cho cả 2 muối NaX và
NaY đều tạo kết tủa với dung dịch AgNO
3
, điều này chỉ đúng với muối của 3
halogen Cl, Br, I còn NaF không tác dụng với AgNO
3
vì không tạo kết tủa.
Vì vậy cần hướng dẫn học sinh xét bài toán qua 2 khả năng:
+ KN 1: Hỗn hợp 2 muối halogen gồm: NaF và NaCl, lúc đó chỉ có NaCl
phản ứng
NaCl + AgNO
3
→
Anđehit mà không xét các trường hợp khác như HCOOH, HCOOR,
15
HCOOM, . .hay khi thuỷ phân este thì học chỉ nghĩ rằng tạo ra axit (hoặc
muối) và ancol chứ không nghĩ đến các trường hợp tạo nhiều muối, anđehit,
xeton, . .Sau đây là một số ví dụ minh hoạ.
Ví dụ 17: Đun một chất hữu cơ A đơn chức có khối lượng 8,6 gam trong môi
trường kiềm, ta thu được hai chất hữu cơ B và C. Chất B không có phản ứng
tráng gương, còn lượng chất C thu được cho tác dụng với Ag
2
O/NH
3
dư thì
thu được 21,6 gam Ag và chất B
’
. Khi cho B
’
tác dụng với NaOH thì thu được
B. Tìm công thức cấu tạo của A,B,C.
Giải:
* Sai lầm: Hầu hết học sinh đều có thói quen suy suy nghĩ rằng:
- Khi thuỷ phân một este trong môi trường axit thì sẽ thu được rượu và axit
hữu cơ
- Khi thuỷ phân este trong môi trường kiềm thì sẽ thu được muối và rượu.
Do đó với bài tập trên học sinh sẽ nhầm tưởng là B là ancol còn C là
HCOOH, A là este.
* Phân tích: Ta giả sử C là chất có chức andehit, công thức tổng quát có
dạng: RCHO, ta có
Phương trình hoá học:
RCHO + Ag
2
RCOONa + R
’
OH.
A B C
0,1 0,1 0,1
Theo giả thiết; M
A
=
8,6
0,1
= 86 = 44 + (R + R
’
)
Vậy: R + R
’
= 86 – 44 = 42 =
3 6
C H
M
Nếu tách 2 gốc R và R
’
ra thì một gốc là – CH
3
và một gốc là CH
2
=CH
2.
Nếu R của B là CH
2
=CH- thì CH
2
+ H
2
(1)
mol 0,1 0,2 0,1
2 AgNO
3
+
FeCl
2
→
2 AgCl + Fe(NO
3
)
2
(2)
16
mol 0,1 0,2
AgNO
3
+ HCl
→
AgCl +
HNO
3
(3)
mol 0,1 0,1
6. Tránh không xét hết các trường hợp dẫn đến “thiếu nghiệm”.
Một số học sinh thường mắc các “bẫy” khi giải toán là không chú ý đến
các tính chất đặc biệt của các chất phản ứng cũng như các chất sản phẩm, như
tính lưỡng tính của các oxit, hyđroxit lưỡng tính, quá trình hoà tan các kết tủa
của các oxit axit như hoà tan CaCO
3
bởi CO
2, . .,
vì vậy học sinh thường xét
thiệu nghiệm, sau đây là một số ví dụ.
Ví dụ 19: X là dung dịch chứa 0,1 mol AlCl
3
Y là dung dịch NaOH 1 M.
Đổ từ từ dung dịch Y vào dung dịch X đến hết thì lượng kết tủa thu được là
6,24 gam. Thể tích dung dịch Y là:
A. 0,24 lít. B. 0,32 lít. C. 0,24 lit hoặc 0,32 lít. D. 0,34 lít.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh thường giải theo cách sau:
- Phương trình hoá học: AlCl
3
+ 3 NaOH
→
3 NaCl + Al(OH)
3
(1)
Ban đầu: Mol 0,1 1.V
Phản ứng: Mol
6,24
78
= 0,08 (mol)
- Qua số mol của Al(OH)
Đa số các em học sinh có năng lực học tập trung bình và yếu đều mắc
các “bẫy” kiến thức về phần này, các em có thể có kiến thức các phần riêng
biệt, nhưng sự tổng hợp các kiến thức đó lại trong một vấn đề cần giải quyết
thì hạn chế, mặt khác nhiều em chưa có khả năng phân tích các dự kiện bài
toán, để từ đó xâu chuỗi chúng lại thành một kiến thức thống nhất, logíc, sau
đây là một số ví dụ minh hoạ.
17
Ví dụ 20 : Cho các chất: Cu(OH)
2
(1), AgCl(2), NaOH(3), Al(OH)
3
(4),
Mg(OH)
2
(5)
.
Những chất nào trong số các chất trên có bị hoà tan trong dd
amoniac.
A. Chỉ có 1,2 B. Chỉ có 1,2,3. C. Chỉ có 1,3 D. 1,2,3 và 5
* Sai lầm: Đa số học sinh thường chọn 1,2, vì nghĩ ngay đến khả năng tạo
phức của dd NH
3
với Cu(OH)
2
và AgCl, nên chọn đáp án A.
* Phân tích: Đề ra yêu cầu là tìm chất bị hòa tan trong dung dịch amoniac nên
có thêm NaOH nữa (vì NaOH không phản ứng nhưng tan trong dung dịch
amoniac ).
Ví dụ 21 : Để điều chế Cl
2
+ HCl
Nhưng do HCl sinh ra ở dạng khí hoặc có hoà tan thành axit thì nồng độ cũng
không đủ lớn để tác dụng với dd KMnO
4
để giải phong Cl
2.
Trong phòng thí nghiệm, với lượng chất điều chế ít, dụng cụ đơn giản nên
không dùng phương pháp điện phân.
Vậy: chỉ có phương án 1 là hợp lí nên chọn đáp án A.
Ví dụ 22: Dãy gồm các chất đều có khả năng là mất màu dd Brom là:
A. Xiclobutan, Propilen, Axetilen, Butađien
B. Propilen, axetilen, glucozo, triolein.
C. Benzen, etilen, propilen, axetilen, tripanmitin
D. Propilen, axetilen, butadien, saccarozo.
* Sai lầm: Hầu hết học sinh khi giải quyết kiến thức trên , thấy các chất trong
câu A đều thoả mãn nên chọn đáp án A.
* Phân tích: Xiclobutan phản ứng với Br
2
(khan) chứ không phản ứng dung
dịch Br
2
/CCl
4.
Vì vậy đáp án đúng là B.
III. KIỂM NGHIỆM
Sau khi áp dụng đề tài này trong việc dạy học sinh giải bài tập và làm
bài thi trắc nghiệm bản thân tôi đã thu được những kết quả bước đầu đáng
phấn khởi.
-Về phía giáo viên: Phần nào giáo viên cũng vững vàng hơn về mặt kiến
thức,có thêm kinh nghiệm trong việc dạy học sinh chuyển từ hình thức thi tự
bài thi trắc nghiệm nói chung và môn Hóa học nói riêng, tôi đã cung cấp cho
các em những kiến thức cơ bản và phương pháp để tránh và xử lý có liên quan
đến đề thi trắc nghiệm, hình thành cho các em một số phương pháp giải nói
chung và cách giải đề thi trắc nghiệm môn Hóa học nói riêng. Sau khi tư vấn,
phổ biến kinh nghiệm và đã kiểm nghiệm qua từng bài thi cụ thể, tôi thấy hầu hết
học sinh đều vững tin và thích thú làm bài thi theo kiểu trắc nghiệm, hiểu biết kiến
thức một cách toàn diện, phát huy được khả năng tư duy, suy luận và sáng tạo
hơn. Qua đó, tạo ra cho các em niềm say mê trong học tập, không ngại khó
khi làm bài cũng như khi ôn luyện. Tuy nhiên để kết quả đạt được như mong
muốn đòi hỏi giáo viên phải biết phân luồng học sinh, tác động vào từng đối
tượng với mức độ, dạng bài tập khác nhau, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
19
phức tạp. Đồng thời, học sinh phải biết cách học, phân dạng bài tập sao cho
có hiệu quả nhất.
2. Đề xuất
Với chút kinh nghiệm sau nhiều năm giảng dạy và luyện thi đại học,
bản thân đã đúc rút và trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm: “ Phương pháp
xử lý khi làm bài thi trắc nghiệm nói chung và môn Hóa học nói riêng” trong điều
kiện thời gian ngắn, trình độ bản thân có hạn, chắc chắn đề tài không thể tránh
khỏi những hạn chế. Với tâm huyết nghề nghiệp và lòng nhiệt huyết của bản
thân, tôi muốn được đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào phong
trào đổi mới giáo dục toàn diện, nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học. Rất
mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp và bạn đọc. Xin trân trọng cảm
ơn !
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cao Cự Giác. Thiết kế và sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm trong dạy
và học hóa học. NXB Giáo dục, 2009.
2. Cao Cự Giác. Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập trắc nghiệm
hóa học. NXB Giáo dục, 2009.
3. Đào Hữu Vinh. 500 Bài tập hoá học. NXB Giáo dục 1995
1. Đọc và phân loại bài tập:
2. Điền vào phiếu trả lời trắc nghiệm:
3. Cách làm bài thi hợp lý nhất:
4. Những điều cần lưu ý khi làm bài thi dưới hình thức trắc nghiệm:
* PHẦN RIÊNG:
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHI LÀM BÀI THI TRẮC NGHIỆM MÔN
HÓA HỌC
1. Kinh nghiệm khi làm bài thi trắc nghiệm môn Hóa học:
2. Tránh những “nhầm lẫn”trong quá trình vận dụng kiến thức:
3. Tránh những “bẫy” về cách hiểu và vận dụng kiến thức:
21
4. Tránh vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lí và
không triệt để trong việc giải các bài tập hoá học:
5. Tránh sai lầm về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hóa học trong giải bài
tập:
6. Tránh không xét hết các trường hợp dẫn đến “thiếu nghiệm”:
7. Chưa có phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức:
III. KIỂM NGHIỆM
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận:
2. Đề xuất
22