MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
Phần I: Những vấn đề cơ bản về tỷ giá và chính sách tỷ giá 3
I- Tỷ giá hối đoái 3
1- Khái niệm tỷ giá và phân biệt một số tỷ giá 3
2- Vai trò của tỷ giá 4
3- Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế 6
II- Chính sách tỷ giá 7
1- Khái niệm 7
2- Vai trò của Ngân hàng Trung ương trong các chế độ tỷ giá hối đoái 7
3- Các quan điểm chính sách tỷ giá hối đoái 12
Phần II: Tỷ giá VNĐ - Chính sách tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian qua 14
I- NHNNVN với sự biến động của tỷ giá hối đoái qua các thời kỳ 14
1- Tỷ giá VNĐ trong thời kỳ 1959 - 1988 14
2- Tỷ giá VNĐ trong thời kỳ 1989 - 1996 15
3- Diễn biến tỷ giá trong thời kỳ 1997 đến nay 19
II- Chính sách tỷ giá của Việt Nam 23
1- Chính sách tỷ giá cố định có điều tiết nhẹ của Nhà nước 24
2- Chính sách tỷ giá dựa vào tỷ giá trên thị trường liên Ngân hàng 25
Phần III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách tỷ giá ở Việt
Nam trong thời gian tới 27
I- Kinh nghiệm của một số quốc gia trong các nhóm chính sách tỷ giá 27
II- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tỷ giá của
NHNNNVN 29
1- Giải pháp về cơ chế điều hành tỷ giá 29
2- Giải pháp về hoàn thiện chính sách tỷ giá hiện nay ở Việt Nam 30
Kết luận chung 33
Danh mục tài liệu tham khảo 34
1
2
Nguyễn Anh Ngọc
Nội dung
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ
VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
i. Tỷ giá hối đoái (TGHĐ)
Ngày nay xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các quốc gia phải
hội nhập nền kinh tế của mình vào nền kinh tế thế giới, tức là các nước đều phải tiến
hành một nền kinh tế mở. Theo xu thế này, các quan hệ về tài chính giữa các nước
ngày càng được mở rộng và đa dạng. Từ đó dẫn đến vấn đề so sánh, tính toán, trao đổi
giá trị các đồng tiền khác nhau của các nước khác nhau tham gia buôn bán là khó
khăn và phức tạp. Do đó việc tính toán dựa trên đơn vị tiền tệ của quốc gia đồng thời
cũng phải dựa trên đơn vị ngoại tệ để quy đổi về cùng một đơn vị tiền tệ đẻe so sánh,
so sánh sức mua giữa đồng nội tệ và ngoại tệ ta gọi đó là tỉ giá hối đoái.
1. KHÁI NIỆM TỶ GIÁ VÀ PHÂN BIỆT MỘT SỐ TỶ GIÁ
I.1. Khái niệm tỷ giá
Như thế tỷ giá hối đoái xuất hiệ cùng với sự xuất hiện thương mại quốc tế, trao
đổi thanh toán tiền mặt lẫn nhau và sử dụng những lợi thế so sánh của các nước khác
nhau trong phân công lao động quốc tế. Do đó tỷ giá hối đoái được quan niệm khác
nhau gắn với từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Dưới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái được quan niệm là tương quan về hàm
lượng vàng giữa hai đồng tiền vàng với nhau (Nhưng hiện nay chế độ bản vị vàng
không tồn tại nên cách xác định tỷ giá hối đoái này không còn được sử dụng).
Tỷ giá hối đoái còn được xây dựng theo phương pháp “ngang giá sức mua” –
PPP. Nghĩa là sự so sánh giá trị của một gói hàng hoá khác nhau qua các đồng tiền
khác nhau trên cơ sở đó cân bằng giá cả để tìm ra được tỷ giá hối đoái.
Hiện nay, tỷ giá hối đoái được hình thành trên quan hệ cung cầu ngoại tệ. Nó
phản ánh đúng giá trị của các đồng tiền đó khi trao đổi thương mại quốc tế: tỷ giá là
giá cả của một đồng tiền được biểu hiện thông qua một đồng tiền khác.
thể hiện ra những nét cơ bản sau đây:
- tỷ giá hối đoái là dấu hiệu để chính phủ hoạch định các chính sách tài chính,
tiền tệ nhằm cải thiện cán cân thanh toán và tăng dự trữ ngoại hối cho quốc gia.
4
Thật vậy, tỷ giá hối đoái giảm (hoặc tăng) là kết quả của tình trạng cải cách tiền
tệ thâm hụt (hay thặng dư) và tình trạng ngoại hối giảm (hay tăng) thì chính phủ có
những tác động tới tỷ giá hối đoái bằng chính sách tài chính (bằng cách tăng hoặc
giảm chi tiêu của chính phủ, tăng hoặc giảm thuế), bằng chính sách tiền tệ (bằng cách
tăng hoặc giảm lãi suất) để nhằm làm cho tình trạng cải cách tiền tệ trở lại cân bằng
hoặc có thể tăng được dự trữ ngoại tệ của quốc gia.
- tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các chính sách, mục tiêu kinh tế xã hội của
quốc gia
Hầu hết các chính phủ mong muốn tăng trưởng kinh tế cao, giá cả ổn định,
công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động. Nếu chính phủ xác định đồng tiền mạnh
hơn thực tế sẽ làm cho giá hàng hoá xuất khẩu trở lên đắt hơn (hay xuất khẩu giảm),
giá hàng nhập khẩu rẻ hơn, dẫn đến thu hẹp sản xuất. Đồng thời nó cho phép người
tiêu dùng hàng nhập khẩu và ngược lại.
Như vậy, nếu chính phủ xác định mức hợp lý sẽ cho phép tạo được công ăn
việc làm đầy đủ và giá cả ổn định
- tỷ giá hối đoái là công cụ để chính phủ thi hành chính sách khuyến khích
(hay hạn chế) xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Nếu tỷ giá hối đoái tăng có tác động
khuyến khích hàng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và ngược lại.
2.2. Ở tầm vi mô
- Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh về giá trị chi phí sản xuất của doanh
nghiệp với giá cả trên thị trường thế giới.
Do chi phí sản xuất của doanh nghiệp được tình bằng đồng nội tệ thông qua tỷ
giá hối đoái, đổi ra giá cả quốc tế (tính bằng đồng ngoại tệ). Từ đó dẫn đến tăng hoặc
giảm khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường thế giới.
Ví dụ: giá cả một chiếc quần Jean được sản xuất ở Anh có giá là 50GBP. Điều
nhập khẩu. Ngược lại khi tỷ giá đồng tiền bản tệ so với ngoại tệ giảm thì xuất khẩu
tăng và nhập khẩu giảm.
3.2. Tác động đến đầu tư
Tỷ giá hối đoái tăng lên dẫn đến kích thích đầu tư nước ngoài vào trong nước
do giá bất động sản, giá các loại nguyên vật liệu, giá nhân công tính bằng ngoại tệ
giảm và ngược lại.
3.3. Tác động đến lạm phát
Khi đồng tiền trong nước giảm giá thì sẽ tăng cầu đầu tư về hàng hoá, dịch vụ
nội địa và giảm cầu với hàng hoá dịch vụ nhập khẩu – kết quả là lạm phát xảy ra.
6
3.4. Tác động đến nợ nước ngoài
Khi tỷ giá giảm, nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ tăng lên và ngược lại khi tỷ
giá tăng lên nợ nước ngoài tính băngf nội tệ giảm xuống.
3.5. Tác động đến tỉ lệ thất nghiệp
Khi tỷ giá hối đoái tăng dẫn đến kích thích nhà sản xuất trong nước mở rộng
sản xuất, thuê thêm nhân công (do giá các nguyên vật liệu giảm), làm tỷ lệ thất nghiệp
trong nước giảm và ngược lại.
Tóm lại: Tỷ giá hối đoái thay đổi ảnh hưởng đến nhiều hoạt động kinh tế,
nhiều mặt của xã hội cho nên tuỳ từng thờ gian, từng thời điểm cụ thể mà lợi dụng
những tác động tích cực đó để có những hoạt động kinh tế hợp lý và hiệu quả.
II. Chính sách tỷ giá
Ở phần trên chúng ta đã nghiên cứu về những tác động ảnh hưởng của tỷ giá
hối đoái đối với nền kinh tế, có cả những tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực. Do
đó trong quá trình điều tiết tỷ giá của nhà nước, đòi hỏi phải có những chính sách và
các biện pháp phù hợp và kịp thời để đảm bảo một tỷ giá có lợ cho nền kinh tế tăng
trưởng và phát triển theo định hướng. Điều này chỉ đạt được khi nhà nước xây dựng
và thực hiện được một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và phù hợp với từng thời
kỳ. Như vậy chính sách tỷ giá chúng ta cần đánh giá và xem xét thế nào cho phù hợp.
Phần này sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá VND/USD
S1
P0 S2
15000
Trên đồ thị ta thấy:
- Khi cầu tăng từ D1 đến D2 tạo ra áp lực phá giá VND. Để duy trì tỷ giá
cố định NHTW phải can thiệp vào trên thị trường ngoại hối bằng cách bán ra
một lượng USD bằng khoảng cách Q1Q2 để mua vào VND. Hành động can
thiệp của NHTW làm dịch chuyển đường cung USD từ S1 đến S2. Như vậy,
thông qua can thiệp, NHTW đã duy trì được một tỷ giá cố định như mong
muốn. Hành động can thiệp của NHTW đã làm giảm dự trữ ngoại hối bằng
USD của Việt Nam, đồng thời làm cho lượng tiền VND trong lưu thông co lại.
8
Q1
Q2
Q3
lîng USD
Còn khi cung tăng ta thấy qua đồ thị 2 như sau:
Tỷ giá VND/USD
S1
S2
15000
D1 D2
Lượng USD
Q3 Q4
Cung USD tăng làm cho đường cung USD dịch chuyển sang phải từ S1 đến S2,
tạo ra áp lực phá giá USD. Để duy trì tỷ giá cố định, NHTW phải can thiệp lên thị
trường ngoại hối bằng cách mua vào một lượng USD bằng khoảng cách Q3Q4. Hành
động này của NHTW làm cho cầu USD dịch chuyển từ D1 đến D2. Như vậy, thông
bán ra những lượng lơn ngoại tệ trên thị trường. Trên thực tế, lượng dự trữ này là có
hạn trong khi sù thay đổi TGHĐ là liên tục. Do đó rất dễ dẫn đến tình trạng NHTW
không thể điều chỉnh tỷ giá theo mức mà NHTW mong muốn, dẫn đến các chính sách
khác của NHTW bị ảnh hưởng rất lớn.
Đối với các quốc gia đang phát triển với mức dự trữ rất nhỏ so với quy mô
thương mại quốc tế của đất nước cũng rất khó khăn khi điều chỉnh TGHĐ ở mức cố
định. Do trên thực tế lượng dự trữ của NHTW ở các nước này thường là rất nhỏ, nên
khi có biến động lớn thì hầu như lượng dự trữ ngoại hối của nHTW không thể đủ để
điều tiết tỷ giá về mức cố định được.
- Dẽ dẫn đến nạn đầu cơ khi đồng tiền được đánh giá quá cao hoặc quá thấy
so với tỷ giá hiện tại. Bởi vì các nhà đầu cơ sẽ mua hoặc bán những lượng tiền lớn
theo dự đoán của sự thay đổi TGHĐ nhằm thu lợi nhuận. Đây là một hình thức để làm
cho thị trường ngoại hối bị tác động xấu, vì đầu cơ càng lớn thì làm cho tỷ giá càng
thay đổi nhiều mà điều này bất kỳ một quốc gia nào cũng không mong muốn điều đó.
2.2.Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn (A freely flexible: exchange rate regime)
Là chế độ, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu
trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW. Trong chế
độ này, sự biến động của tỷ giá luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu
trên thị trường ngoaị hối. Như vậy, đây có phải là một chế độ tỷ giá tốt hay không?
Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải xem xét đến những ưu và nhược điểm của chúng.
+ Ưu điểm:
10
- Phản ánh biến động cung cầu ngoại hối trên thị trường, phản ánh chính xác
sức mua của đồng tiền trong nước và trong nền kinh tế.
Trong cơ chế tỷ giá thả nổi việc thay đổi cung cầu ngoại hối dễ ảnh hưởng đến
cán cân thanh toán quốc tế, mức dự trữ ngoại tệ quốc gia và vì vậy ảnh hưởng tới cơ
sở tiền tệ quốc gia, giá trị hiện thực của đồng tiền được xác định dễ dàng hơn do nhu
cầu công khai đối lại với cung, các tỷ giá phản ánh chính xác sức mua của các đồng
tiền trong nền kinh tế.
trong nước cải thiện tình trạng cán cân thanh toán, đảm bảo sự cạnh tranh của hàng
hoá xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhà nước cho phép tỷ giá dao động trong một
khoảng nhất định. Mặt khác việc làm này cũng hạn chê được những cú “sốc” lớn
trong nền kinh tế.
- Cho phép các đơn vị sản xuất kinh doanh và cá nhân dễ dàng hơn trong việc
mua bán hàng hoá đối vơí nước ngoài: Trong chính sách này, TGHĐ có thể coi là ổn
định trong ngắn hạn. Vì vậy, có thể hạn chế được rủi ro ngoại hối trong thanh toán và
mua bán quốc tế. Do đó nó tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cá
nhân dễ dàng hơn trong việc mua bán hàng hoá với nước ngoài.
+ Nhược điểm:
- Vẫn phải cần lượng ngoại hối dự trữ để điều chỉnh tỷ giá về “tỷ giá trung
tâm”.
Khi tỷ giá dao động có xu hướng vượt ra ngoài biên độ dao động, NHTW phải
sử dụng các biện pháp để tỷ giá nằm trong biên độ dao động. Biện pháp chủ yếu là
bằng mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối sẽ có tác động trực tiếp đêns việc
điều hành tỷ giá.
- Cần có thông tin chính xác kịp thời để nhà nước có biện pháp can thiệp kịp
thời có hiệu quả. Bởi thông tin chính xác cho phép nhà nước quyết định can thiệp vào
thị trường ngoại hối đúng thời điểm với lượng mua bán ngoại tệ là hiệu quả nhất.
Nói tóm lại: Mỗi chế độ TGHĐ đều có ưu, nhược điểm riêng. Đối với mỗi nền
kinh tế, trong điều kiện thực tế của mình, mỗi chính phủ có thể chọn cho mình một
chính sách hoặc kết hợp các chính sách tỷ giá sao cho nó có hiệu quả nhất.
3. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ CHÍNH SÁCH TGHĐ
Từ các mục tiêu của chính sách TGHĐ đòi hỏi chính sách tỷ giá phải có các
quan điểm của mình, cụ thể là:
- Chính sách tỷ giá phải hướng vào xử lý và điều hành tỷ giá theo đúng bản
chất vốn có của nó là cơ chế giá thị trường:
Như ta đã biết bản chất của TGHĐ là giá cả của đồng nội tệ so với ngoại tệ nên
nó vận động theo quy luật của giá cả thị trường. Việc điều chỉnh tỷ giá phải dựa vào
quan hệ cung cầu trên thị trường. Theo quy luật giá cả, tỷ giá có thể hoàn toàn tách rời
thành viên thuộc hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) trước đây. Cụ thể là nhà nước luôn
can thiệp vào mọi mặt hoạt động kinh tế của đất nước. Hoạt động sản xuất, ngoại
thương, vay nợ, viện trợ, Đều tuân theo hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước, do
chính phủ ký kết các điều ước quốc tế, các hiệp định, với nước ngoài và các tổ chức
quốc tế. Trong hoàn cảnh như vậy, chế độ TGHĐ thả nổi không thể tồn tại và phát
huy tác dụng, chúng ta đã thi hành cơ chế TGHĐ cố định.
Tỷ giá của VND lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955 là tỷ giá giữa
đồng NDT và VND: 1NDT = 1470VND. Tỷ giá này được xác định bằng cách so sánh
giá bán lẻ 34 mặt hàng tiêu dùng tại thủ đô và một số tỉnh biên giới giữa hai nước.
Sau đó các tỷ giá giữa VND và các đồng tiền khác được thiết lập (ví dụ: 1Ruble Nga
= 735VND)
Bên cạnh tỷ giá chính thức nhà nước còn đưa ra 2 loại tỷ giá khác là tỷ giá phi
chính thức và tỷ giá kết toán nội bộ. Như vậy chế độ tỷ giá của Việt Nam trong giai
đoạn này là chế độ đa tỷ giá. Sở dĩ quy định như vậy là do trong thời kỳ này chính
sách ngoại thương Việt Nam có sự phân biệt đối xử với các nước và ngoài khối SEV,
chính phủ phân biệt đối xử với các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh (đặc biệt
là các doanh nghiệp có các hoạt động kinh tế với nước ngoài).
Thực ra vấn đề tỷ giá trong giai đoạn này không phải là vấn đề quan trọng do
quan hệ thương mại đầu tư của Việt Nam và khối SEV là quan hệ hàng đổi hàng,
14
mang nặng tính chất viện trợ, việc di chuyển, chuyển giao về ngoại tệ là không có (tài
chính phi thị trường trong nền kinh tế). Việc quy định TGHĐ giữa VND và các ngoại
tệ khác chỉ mang tính chất hạch toán. TGHĐ khác xa có khi còn khác biệt hẳn tỷ giá ở
thị trường “chợ đen”. Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1:
Tỷ giá chính
thức và tỷ giá
thị trường
tự do.
1988 3000 5000 1,66 lần
15
Để có cái nhìn khái quát về tác động của TGHĐ trong thời kỳ này đến nền kinh
tế, cũng như những tác động của NHNN Việt Nam trên thị trường ngoại hối chúng ta
có một bảng khái quát như sau:
Bảng 2: Diễn biến của một số chỉ tiêu qua năm 1989-1996
(Nguồn: Bộ thương mại, NHNN VN, tổng cục thống kê, ghi chó: TG danh nghĩa lấy
vào thời điểm cuối năm)
Thông qua số liệu trên, diễn biến tỷ giá VND trong thời kỳ này có thể chia ra
làm 2 giai đoạn sau:
2.1. Giai đoạn 1989-1992
Cuối năm 1988 luật Ngân hàng ra đời đưa ra một số nghị định về quản lý ngoại
hối. Mặt khác, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI Nhà nước bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới nền kinh tế, từng bước xoá bỏ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Do đó, thời kỳ này được coi là thời kỳ có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy
quản lý và điều hành kinh tế của nhà nước, nhất là trong lĩnh vực tiền tệ và TGHĐ
dần trở nên có vai trò quan trọng đối với quá trình cải cách và đòi hỏi có sự quan tâm
đích đáng. Tháng 3/1989, nhà nước chính thức xoá bỏ chế độ đa tỷ giá ở Việt Nam,
xoá bỏ mọi hình thức trợ giá cho các hoạt động ngoại thương.
Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996
1.TG danh nghĩa 4200 6650 12720 10720 10835 11050 11013 11113
2. Lạm phát (%) 34,8 67,2 67,4 17,5 5,3 14,4 12,5 4,5
3. Lãi suất tiền gửi
6 tháng
-VND (%tháng)
-USD (%năm)
9 3,5
3,0
2,0
1,4
2985
3924
-939
-31,4
4054
5825,8
-1771,8
-43,7
5449
8115,4
-2666,4
-48,9
7255
11143
-3888
-53,5
16
Cơ sở xác định thời kỳ này là do NHNN căn cứ vào chỉ số lạm phát, lãi suất,
cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến tỷ giá trên thị trường tự do, giá vàng trên thị
trường quốc tế và trong nước.
Như vậy, chế độ TGHĐ của VN đã dần chuyển sang chế độ thả nổi có quản lý,
nhưng mức độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tỷ giá ở giai đoạn này vẫn có
những dấu Ên đậm nét. Cụ thể là, đã có những cải cách ở năm 1989 góp phần cải
thiện tình hình trên thị trường ngoại hối xoá bỏ tình trạng bất hợp lý trong mua bán,
thanh toán ở lĩnh vực kinh tế đối ngoại đặc biệt là xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, tỷ giá
được niêm yết vẫn có sự chênh lệch khá lớn trên thị trường “chợ đen”.
Dựa vào bảng 2 ta có thể giải thích được hiện tượng này như sau: mức lạm phát
ở thời kỳ này khá cao (67,4% năm 1991) do vậy, tốc độ mất giá của VND sấp xỉ bằng
Dựa vào bảng 2, ta có thể thấy đây là thời kỳ TGHĐ ổn định và không có sự
biến động lớn, đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ về thương mại và thu hút đầu tư
nước ngoài.
Tháng 3/1993, chính phủ Ðp giá đồng USD xuống còn 10500VND/USD và bán
bao sân theo giá thấy hơn thị trường làm cho VND lên giá tương đối 2,9%. Như vậy
do sù can thiệp của nhà nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần ổn định
khiến cho lượng ngoại tệ của các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ,
hướng mạnh vào thị trường kinh doanh nhập khẩu. Đồng thời lượng ngoại tệ từ bên
ngoài vào nhiều nên tình hình cung cầu đảo ngược. Giá USD giảm nhanh, khuyến
khích nhập khẩu quá mức, ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu. Kết quả là đến năm 1993
Việt Nam trở lại là nước nhập siêu.
Tháng 9/1994, thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng được thành lập NHNN thực
hiện vai trò người mua, người bán cuối cùng trong ngày. Tỷ giá chính thức được
NHNN công bố, chỉ thay đổi biên độ dao động (1% năm 1991-1994 xuống 0,5% vào
tháng 9/1994), điều này cho thấy rằng không có sức Ðp phá giá đối với VND. Thực tế
cho thấy diễn biến tỷ giá là ổn định trong thời gian này.
Năm Tháng 1 Tháng 3 Tháng 6 Tháng 9 Tháng 12
1993 10400 10670 10760 10860 10850
1994 10860 10980 10990 11002 11070
1995 11020 11030 11020 11000 11000
1996 11000 11004 11011 11070 11102
Bảng 3: Diễn biến tỷ giá VND/USD trong năm 1993-1996
Đến năm 1996 đầu tư trực tiếp nước ngoài, ODA từ nước ngoài vào Việt nam
không đủ để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán, tỷ lệ nhập siêu tăng nhanh(từ 31,1%
năm 1993 lên 53,5% năm 1996) thâm hụt cán cân thương mại lớn (từ 1666,4 triệu
USD năm 1997 lên 3888 triệu USD) nợ nước ngoài tăng nhanh (5473 triệu USD năm
1994 lên 10158 triệu USD năm 1996), nhu cầu về USD tăng mạnh tạo sức Ðp giảm
giá VND.Do đó ngày 21/11/96 ngân hàng nhà nước đã mở rộng biên độ giao động
của tỷ giá từ 0,5% (năm 94) lên 1% (năm 1996). Đây là điểm báo trước một sự rối
18
19
Nếu như trong thời kỳ trước (1989-1996) NHNN điều chỉnh tỷ giá rất Ýt (4
lần) và chỉ có một lần NHNN thay đổi tỷ giá công bố (1992) thì trong thời kỳ này
NHNN đã có 5 lần điều chỉnh và có tới 2 lần điều chỉnh tỷ giá công bố.
Bảng 5: Tỷ giá VND/USD qua các năm 1997-2000
Điều dễ nhận thấy tỷ giá VND/USD tăng lên, VND giảm giá từ
11113VND/USD (1996) lên 13908VND/USD (1998) và 14008VND/USD (1999) và
đến nay là 14082VND/USD (2000). Như vậy diễn biến tỷ giá trong giai đoạn này rất
phức tạp không còn ổn định như thời gian 1993-1996. Đây là kết quả do các hoạt
đông kinh tế của Việt Nam.
Năm 1997 1998 1999 Đầu 2000
1.Tỷ giá danh nghĩa (VND/USD) 112275 13900 14008
2.Lạm phát 4,0 9,1
3.Lãi suất tiền gửi 6 tháng
-VND (%/tháng)
-USD (%/năm)
0,65
5,2
0,9
5,3
0,4
4,00
0,4
4,95
4.Tình hình XNK
-XK (triệu/USD)
-NK
-Cán cân TM
-Tỷ lệ nhập siêu
2001 14530 14573 14865 14985 15025
Bảng 6: Diễn biến tỷ giá VND/USD năm 1997-2001
Đến năm 1997 ngòi nổ cuộc khủng hoảng Châu á bắt đầu phát ra từ Thái Lan
làm cho giá trị đồng tiền của các nước trong khu vực giảm nhanh. Do đó Việt nam
cũng bị ảnh hưởng về buôn bán, thanh toán, đầu tư và cả tâm lý. Nhìn vào bảng 6 ta
có thể thấy xuất khẩu Ýt hơn nhập khẩu, đầu tư nước ngoài giảm mạnh. Tất cả tác
động này làm cho cầu về ngoại tệ ngày càng tăng nhanh. Đến ngày 13/10/1997
NHNN công bố quyết định nới rộng biên độ tỷ giá mua bán ngoại tệ lên 10% so với tỷ
giá chính thức. Song vẫn không thể giải toả việc mua bán ngoại tệ của các NHTM
thường bám sát mức trần cho phép. Tỷ giá chính thức trên thị trường còn cao hơn
nhiều. Đây chính là hậu quả của tình trạng nắm giữ ngoại tệ do lo ngại về khả năng
khủng hoảng của VND
Đứng trước tình hình đó ngày 16/2/1998 NHNN điều chỉnh tỷ giá từ 11175
VND/USD lên 11800 VND/USD làm giảm tỷ giá giao dịch của NHTM xấp xỉ với tỷ
giá trên thị trường tự do. Tuy nhiên tình trạng này còn diễn biến rất phức tạp, giá cả
trên thị trường tự do còn lên xuống thất thường, còn các NHTM luôn bám sát mức
trần cho phép theo từng ngày để mua bán ngoại tệ. Cụ thể là:
Ngày (năm 98) 21/2 27/2 28/2 2/3 5/3 9/3
21
Tỷ giá chính thức 11803 11804 11801 11799 11798 11803
Tỷ giá của NHTM 12983 12984 12981 12979 12978 12983
Bảng 7: Diễn biến tỷ giá VND/USD trên hai thị trường
Nhưng cách thức xác định của NHNN trong thời gian này vẫn mang tính cứng
nhắc gò bó trong khi đó ảnh hưởng của khủng hoảng ngày càng sâu sắc đến nền kinh
tế của nước ta, mầm mống gây sức Ðp phá giá vẫn còn tiềm Èn. Do vậy bắt đầu từ
ngày 26/2/1999 một cơ chế điều hành tỷ giá mới được hình thành tại Việt Nam thay
cho việc công bố tỷ giá chính thức, hàng ngày NHNN sẽ công bố tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trường liên ngân hàng của VND so với USD.
Có thể nói quyết định trên đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong cơ chế điều
4nguyên nhân sau: Tương quan về tiềm năng tăng trưởng kinh tế, diễn biến về lạm
phát, tình hình cán cân thanh toán và tương quan lãi suất
Trên thực tế nếu dựa vào hai nguyên nhân đó tương quan về tiềm năng tăng
trưởng kinh tế và diễn biến lạm phát thì chúng ta khó có thể giải thích được. Bởi vì
hai chỉ tiêu này thì giữ Việt Nam và Mỹ có những sự chênh lệch nhau quá lớn. Đơn
cử, GDP của Mỹgấp 100 lần GDP của Việt Nam, quy mô ứng dụng và phát triểncông
nghệ cũng khác nhau hoàn toàn
Do đó chúng ta chỉ có thể phân tích sâu hai nguyên nhân tình hình cán cân
thanh toán và tương quan lãi suất:
- Do chênh lệch lãi suất tiền gửi của USD tại Việt Nam với thị trường quốc tế dãn
rộng trong vòng một năm kể từ cuối năm 1999, việc các NHTM trong nước tăng lãi
suất huy động USD để đẩy mạnh đầu tư tại thị trường tiền tệ quốc tế lại càng làm tăng
cầu tiền gửi bằng USD, hạn chế chuyển đổi các nguộn thu vãng lai bằng ngoại tệ ra
VND. Ảnh hưởng này rất đáng kể nếu biết rằng tổng cả hai năm 1999 và 2000 nguồn
thu vãng lai, trong đó kiều hối và thu nhập của lao động xuất khẩu đạt hơn 3 tỷ USD.
- Do tình hình cán cân thanh toán sau khi tổng hợp cán cân thương mại, cán cân vốn
và tài chính và vãng lai vẫn là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến tỷ giá của USD
so với VND trong suốt thời gian qua. Hầu hết những đợt “sốt” tỷ giá trong hai năm
qua đều liên quan chặt chẽ đến tình hình xuất nhập khẩu các mặt hành quan trọng.
Trong năm 2000 nhu cầu mua ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu đối với các
NHTM tăng lên rất nhiều.
Nói tóm lại , trong thời gian qua Việt Nam đã sử dụng hai loại chế độ tỷ giá cơ
bản là tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi có quản lý. Trong đó chế độ tỷ giá cố định được
sử dụng trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế. Khi đất nước vừa bước ra khỏi
chiến tranh, chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý được sử dụng. Sau Đại hội VI của Đảng
và mức độ quản lý cũng như mức độ thả nổi được điều chỉnh một cách linh hoạt tuỳ
vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế.
Chính sách tỷ giá của Việt Nam
Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã thực sự khởi sắc, giành được
những thành tựu lớn: mức tăng trưởng trung bình từ 8-9%, lạm phát được duy trì ở
Thành công cơ bản của chính sách tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá trong
giai đoạn này (1991-994) được thể hiện: lạm phát đã được kiểm soát, hoạt động xuất
nhập khẩu tăng nhanh, viện trợ bắt đầu tăng và có xu hướng phát triển mạnh, dự trữ
ngoại tệ đã có trong nền kinh tế. Tuy có những thành công như vậy, chính sách tỷ giá
đã không loại bỏ được sự phát triển của thị trường “chợ đen”, đó là do các quy định
nghiêm ngặt về quản lý ngoại hối đối với các doanh nghiệp tư nhân và cá nhân trong
nền kinh tế, chúng ta đã thấy ở bảng 1 tỷ giá ở thị trường tư nhân luôn cao hơn gấp
nhiều lần ở NHTM, đây là kẽ hở và là nguyên nhên dẫn đến tình trạng đầu cơ, găm
giữ ngoại tệ trong dân chúng.
Với mục tiêu củng cố và đảm bảo duy trì giá trị của VND, tạo môi trường kinh
tế-xã hội ổn định, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, TGHĐ được kiểm soát theo mục
tiêu ổn định tương đối. NHNN luôn kịp thời can thiệp vào thị trường, hỗ trợ cho tỷ giá
khi cầu ngoại tệ vượt quá cung gây đột biến giảm giá VND.
24
Như vậy, việc xác định tỷ giá qua hai trung tâm giao dịch là phù hợp với điều
kiện nền kinh tế mới phát triển, thị trường ngoại hối đang ở giai đoạn đầu và trên thực
tế việc xác định tỷ giá này đã góp phần vào tăng trưởng nhan của nền kinh tế trong
giai đoạn 1989-1994. Đến tháng 10/1994 khi thị trường ngoại hối đã có sự phát triển
nhất định, số lượng NH tham gia giao dịch tăng nhanh, phạm vi và cường độ giao
dịch ngày càng tăng và mở rộng thì giao dịch chứng khoán của hai trung tâm này là
không còn phù hợp. Trước tình hình này NHNN cho phép thị trường liên NH ra đời
thay thế hoạt động của 2 trung tâm giao dịch. Thông qua thị trường liên NH, NHNN
có thể nắm bắt được nhu cầu tổng thể của nền kinh tế về ngoại tệ trong từng thời kỳ
để từ đó sử dụng chính sách tỷ giá một cách hợp lý và linh hoạt. Việc sử dụng thị
trường liên NH trong cơ chế điều hành TGHĐ và chính sách tỷ giá đã làm cho tỷ giá
gần hơn với thị trường.
Như vậy cơ chế điều hành TGHĐ cố định có điều tiết nhẹ của NHNN nhìn
chung là phù hợp với quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tiền tệ
chưa ổn định, xuất khẩu còn yếu, nhập khẩu khá ồn ào, dự trữ ngoại tệ quốc gia máng.