Phần mở đầu
Sự nghiệp đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
sang cơ chế thị trờng của Việt Nam đã và đang đợc xúc tiến rất mạnh mẽ. Quá
trình tái cấu trúc nền kinh tế đơc tiến hành đồng thời với quá trình Công nghiệp
hoá - Hiện đại hóa. áp lực đòi hỏi phải có sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao
phát sinh từ nhiều phía : nguy cơ tụt hậu, tỷ lệ gia tăng dân số cao, nạn thất
nghiệp trầm trọngĐể tránh khỏi nguy cơ tụt hậu phải tạo ra những bớc
chuyển mạnh mẽ về năng suất chất lợng, hiệu quả trong sản xuất để trong
khoảng thời gian từ 15 đến 20 năm biến nền kinh tế nớc ta thành một nền kinh
tế có trình độ công nghiệp có trình độ hiện đại trung bình so với thế giới. Đồng
thời nâng cao mức sống của nhân dân, tạo đà cho những bớc phát triển bền vững
tiếp theo.
Xuất phát từ chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và những năm
kế tiếp, với trọng tâm thực hiện chơng trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nền
kinh tế nhu cầu vốn đầu t cho toàn bộ xã hội vào khoảng trên 50 tỷ USD. Riêng
nhu cầu vốn phục vụ cho mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa cũng là một
thách thức to lớn đối với Việt Nam chúng ta. Hơn nữa trong tiến trình đó yêu
cầu phải làm nhiều việc trong nhiều lĩnh vực. Mỗi hoạt động Công nghiệp hoá -
Hiện đại hóa có những đặc điểm tính chất khác nhau đòi hỏi phải tìm những
nguồn vốn thích ứng với từnh hoạt động này. Điều đó đòi hỏi dù trên phạm vi
kinh tế vĩ mô hay trên trên phạm vi vi mô của từng doanh nghiệp, những tế bào
của nền kinh tế, đều phải đợc nghiên cứu khả thi tỷ mỷ, dới hình thức một dự án
đầu t đợc tuyền chọn nghiêm túc. Nh vậy các giải pháp tạo vốn đầu t phải nằm
ngay trong các dự án đầu t có hớng đích Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa.
Trong số các dự án đầu t này có những dự án đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Tuy nhiên đầu t đổi mới kỹ thuật công nghệ bằng máy móc thiết bị hiện đại là
một bài toán mà không phải doanh nghiệp nào cũng giải đợc, số doanh ngiệp có
đáp án thành công càng hiếm hoi. Loại dự án này thờng đòi hỏi vốn lớn thuộc
loại đầu t trung dài hạn có nhiều rủi ro. Do đó muốn tìm vốn tài trợ cho loại dự
án đầu t này phải chứng minh tính khả thi cao, tỷ lệ sinh lời hấp dẫn và đợc
ngân hàng để mau sắm máy móc thiết bị thì các ngân hàng cũng chỉ cho vay tối
đa khoảng 70% - 80% giá trị. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể thơng lợng với
công ty cho thuê tài chính để áp dụng phơng thức bán và tái thuê. Theo đó
doanh nghiệp có thể bán một phần tài sản của mình cho công ty cho thuê tài
chính, đồng thời ký hợp đồng thuê lại tài sản đó. Nhờ vậy mà doanh nghiệp có
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 2
thể thu hồi một số vốn tiền tệ để đầu t vào việc khác mà vẫn tiếp tục đơc sử
dụng tài sản, không bị gián đoạn các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Xét từ góc độ ở cấp vĩ mô của toàn nền kinh tế, phơng thức tín dụng thuê
mua cũng là một phơng thức huy động vốn nớc ngoài tài trợ trung dài hạn cho
các doanh nghiệp trong nớc. Nhu cầu trang bị Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa
các nghành kinh tế không nhất thiết chỉ có con đờng mời gọi vốn FDI, đầu t hợp
tác liên doanh. Ngoài ra theo qui định của IMF ( Quỹ tiền tệ quốc tế) thì các
khoản nợ do thuê mua máy móc thiết bị ở nớc ngoài không tính vào tổng số nợ
nớc ngoài của nớc đó. Do đó Leasing cũng sẽ có ý nghĩa đối với Việt Nam
chúng ta đang trong giai đoạn vận động và tiếp nhận nguồn vốn ODA dới
những điều kiên khống chế hạn mức nợ nớc ngoài từ các định chế tài chính
quốc tế đa ra. Hiện nay số nợ nớc ngoài của Việt Nam cha phải lên tới con số
quá lớn nhng có thể nói cũng không phải là nhỏ.
Chính từ những lợi ích to lớn của tín dụng thuê mua, một kênh dẫn vốn
quan trọng tới các doanh nghiêp, một trong những nhân tố đẩy nhanh trình độ
phát triển công nghệ đã khiến nó trở thành một đề tài đợc tìm hiểu và nghiên
cứu nhằm ứng dụng vào nớc ta trong những năm gần đây. Với Việt Nam trong
công cuộc đầu t Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa nền kinh tế thì nhu cầu vốn
đầu t là rất lớn. Tuy nhiên trong thời gian qua vốn đầu t để đổi mới máy móc
thiết bị còn bị hạn chế bởi cơ chế đầu t còn nhiều bất cập. Nhằm khắc phục thực
trạng này việc đa ra một cơ chế đầu t hợp lý là điều cấp thiết. Chính vì vậy sự ra
đời của một số công ty cho thuê tài chính ở Việt nam là một giải pháp hữu hiệu.
Một trong số các công ty đó là Công ty cho thuê tài chính Ngân Hàng
Nội dung
chuơng I: những vấn đề chung về cho thuê tài Chính
I. Cho thuê tài chính trong nền kinh tế thị trờng.
1.Sơ lợc lịch sử tổ chức hoạt động cho thuê tài chính trên thế giới
Cho thuê tài sản là một công cụ tài chính đã đợc sáng tạo từ rất sớm trong
lịch sử văn minh nhân loại. Theo các th tịch cổ, các giao dịch cho thuê tài sản
đa xuất hiện từ năm 2800 trớc CN tại thành phố của ngời Sumerian của ngời
UR. Các thầy tu giữ vai trò ngời cho thuê, ngời thuê là những nông dân tự do.
Tài sản đợc đem ra giao dịch thờng là công cụ sản xuất nông nghiệp. Vào
khoảng năm 1700 trớc CN, vau Babilon là Hamnurabi đã ban hnàh nhiều văn
bản quan trọng tạo thành một bộ luật lớn, trong đó có đa những qui định về hoạt
động cho thuê tài sản. trong các nền văn minh cổ đại khác nh Hy Lạp, Lã Mã
hay Ai Cập cũng xuất hiện các hình thức cho thuê để tài trợ cho việc sử dụng
đất đai, gia súc, công cụ sản xuất. Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề giao dịch
thuê mua ngày nay gặp phải đã đợc giải quyết từ nhiều thế kỷ trớc. Tuy nhiên
các giao dịch thuê mua thời cổ đại thuộc hình thức thuê mua kiểu truyền thống
(Traditional Lease). Phơng thức giao dịch của hình thức này tơng tự nh hình
thức thuê vận hành ngầy nay và trong lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của nó đã
không có sự thay đổi lớn nào về tính chất giao dịch.
Đầu thế kỷ 19, hoạt động thuê mau đã có sự gia tăng đáng kể về số lợng và
chủng loại thiết bị, tài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ này, giao
dịch thuê mau đã có những bớc phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa Kỳ. Nguyên
nhân của sự phát triển này là do hoạt động thuê mua đã có những thay đổi về
tính chất của gia dịch. Đó là sự xuất hiên của nghiệp vụ chi thuê tài chính
(Finace Leasing). Nó xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ, do công ty t bản Unitel State
Leasing Corporation sáng tạo ra. Sau đó nghiệp vụ Leasing phát triển sang Châu
Âu và đã đợc ghi vào luật thuê mau của Pháp, năm 1960 với tên gọi Crédit
Bail. Cũng năm 1960 hợp đồng thuê mau đầu tiên đã đợc thảo ra ở Anh.
Từ khi xuất hiện hình thức cho thuê tài chính, các hoạt động giao dịch thuê
mua đã có những bớc phát triển hết sức mạnh mẽ cả về chủng loại tài sản, thiết
dụng còn bail có nghĩa là thuê nên có thể dịch là tín dụng thuê mua
Khi dịch từ tiếng nớc ngoài thì thuật ngữ không cần bám sát từ mà cần
đảm bảo khái quát đợc bản chất của sự vật hiện tợng mà thuật ngữ đang mô tả.
Nếu gọi là cho thuê tài chính theo các văn bản chính thức qui định thì liệu
phải hiểu tài chính ở đây là gì, ngay cả khái niệm về tài chính cũng đợc hiểu
theo nhiều các khác nhau. Điều này dễ dẫn đến khó khăn cho những ngời muốn
tìm hiểu về loại hình nghiệp vụ mới này. Mặt khác, ở đây đối tợng các công ty
cho thuê lại là tài sản.
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 6
Nếu dịch là cho thuê theo phơng thức thuê mua thì khá chuẩn về mặt bản
chất của nghiệp vụ. Nghĩa là, việc cho thuê tài sản đồng thời bên thuê có thể
mua lại tài sản theo một giá đã thoả thuận nếu bên thuê trả đủ tiền thuê và tuân
thủ các điều kiện của hợp đồng.
Nh vậy, nếu dùng chính xác thì nên gọi finance lease hay leasing là cho
thuê theo phơng thức thuê mua hay thuê mua.(cho thuê theo phơng thức thuê
mua khi đứng trên giác độ bên cho thuê, còn thuê mua trên giác dộ bên thuê).
Tuy nhiên vấn đề thuật ngữ không đóng vai trò quá quan trọng mà ở đây là cần
hiểu đúng và chính xác vấn đề, trong bài sẽ tiếp tục sử dụng thuật ngữ cho thuê
tài chính theo nh các văn bản chính thức và đang đợc sử dụng phổ biến hiện
nay.
Khái niệm cho thuê tài chính cũng không đợc định nghĩa chuẩn. Thuê tài
chính là một phơng thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn không thể huỷ
ngang. Theo phơng thức này, ngời cho thuê thờng mua tài sản, thiết bị mà ngời
thuê cần và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện thuê tài sản đó với nhà cung cấp
hoặc ngời cho thuê cung cấp tài sản của họ cho thuê. Tuỳ theo qui định của
từng quốc gia, đợc coi là thuê tài chính khi thời hạn thuê thờng chiếm phần lớn
đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các toàn bộ các
khoản tiền cho thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm
bắt đầu hợp đồng. Mỗi nớc trên thế giới định nghĩa khác nhau về cho thuê tài
sự trùng lắp, mâu thuẫn của những văn bản pháp luật không phù hợp. Thế nhng,
khi nói đến đặc điểm của cho thuê tài chính thì vẫn cha có sự thống nhất giữa
các quốc gia cũng nh các tổ chức quốc tế. Có thể liệt kê một số nhóm đặc điểm
mà các nớc, các tổ chức đa ra để nhận dạng cho thuê tài chính nh sau :
Thứ nhất, theo IASC, nghiệp vụ nào thoả mãn một trong bốn điều kiện
sau thì đợc xem là cho thuê tài chính:
+ Quyền sở hữu tài sản đợc chuyển giao khi hợp đồng hết hạn
+ Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua.
+ Thời giá của tổng các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc bằng giá trị của tài
sản.
+ Hiện giá của các khoản tiền thuê gần bằng hoặc lớn hơn giá trị thị tr-
ờng của tài sản.
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 8
Thứ hai: theo Hiệp định thống nhất luật dân sự về tín dụng thuê mua
quốc tế do Hiệp hội tín dụng thuê mua quốc tế thoả thuận thì giao dịch thuê
mua gồm những đặc điểm sau :
+ Ngời thuê chỉ rõ thiết bị và lựa chọn nhà cung cấp không phụ thuộc vào
những kỹ năng và ý kiến của ngời cho thuê.
+ Thiết bị đợc đề cập trong thoả thuận thuê mua do ngời cho thuê mua
theo thoả thuận giữa ngời cho thuê và ngời thuê, trong tình trạng mà ngời
thuê biết rõ nhà cung cấp.
+ Những khoản tiền thuê phải trả theo thoả thuận của thuê mua đợc tính
theo phơng thức trả dần hay trả ngay một phần đáng kể chi phí mua thiết bị.
Thứ ba: theo tiêu chuẩn của Uỷ ban kế toán Hoa Kỳ thì giao dịch thuê
mua là giao dịch thoả mãn những điều kiện :
+ Quyền sở hữu tài sản đợc chuyển giao cho ngời đi thuê khi chấm dứt
hợp đồng thuê.
+ Hợp đồng thuê cho phép ngời đi thuê đợc quyền chọn mua tài sản thuê
Theo thể lệ tín dụng thuê mua, một giao dịch tín dụng thuê mua phải đáp
ứng ít nhất một trong những yêu cầu sau :
+ Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng tín dụng thuê mua, quyền
sở hữu tài sản thuê đợc chuyển cho bên thuê hoặch bên thuê có quyền đợc
lựa chọn quyền mua tài sản thuê theo một mức giá danh nghĩa đợc thoả
thuận từ trớc, thấp hơn giá trị thực tế của tài sản vào ngày mua lại tài sản hay
tiếp tục thuê tài sản đó.
+ Thời hạn thuê ít nhất phải bằng 60 % thời gian cần thiết để khấu hao
tài sản thuê.
+ Tổng số tiền thuê do bên thuê thanh toán cho tổ chức tín dụng trong
thời hạn thuê ít nhất phải tơng đơng với giá trị thị trờng của tài sản thuê vào
thời điểm ký hợp đồng.
Hiện nay, Thể lệ tín dụng thuê mua đã đợc thay thế bằng Quy chế đợc ban
hành kèm theo Nghị định 64CP về hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
Những đặc điểm trong quy chế này đa ra hoàn toàn trùng hợp với quy định của
Bộ tài chính :
Quy chế chỉ ra: Nghiệp vụ cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong 4
điều kiện sau:
+ Khi kết thúc thời hạn thuê hợp đồng, bên thuê đợc chuyển quyền sở hữu
tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của 2 bên
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 10
+ Nội dung hợp đồng thuê có quy định khi kết thức thời hạn thuê, bên thuê
đợc quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa hoặc thấp hơn giá trị
thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại.
+ Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phảI bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê.
+ Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy đinh tại hợp đồng thuê, ít nhất
phải tơng đơng với giá tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng.
Qua các đặc điểm trên, nhìn chung tuy có một số điểm khác nhau nhng đặc
các hoạt động: vay vốn ngân hàng mua sắm trang thiết bị hay thuê vận hành.
a. Vay vốn Ngân Hàng mua sắm trang thiết bị.
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 11
Cho thuê tài chính là một biện pháp tài chính thay thế việc vay vốn ngân
hàng để tài trợ việc mua sắm thiết bị. Tuy nhiên giữa đi thuê tài chính và vay
vốn ngân hàng có những điểm giống và khác nhau
Tiêu thức Thuê tài chính
Vay vốn trung dài hạn của
Ngân Hàng
Hình thức tài trợ Bằng hiện vật Bằng tiền
Đối tợng Các loại động sản Động sản và bất động sản
Quyền sở hữu
Do bên cho thuê chiếm giữ cho
đến khi quyền mua của bên
thuê đơc thực hiện
Bên đi vay chiếm giữ
ngay từ đầu
b. Thuê vận hành
Thuê vận hành đã có lịch sử rất lâu đời nên còn đợc gọi là tuê mua kiểu
truyền thống (Traditional Lease). Hình thức thuê vận hành có thể coi là một loại
hợp đồng để chấp hành, tài sản không đợc ghi chép vào sổ sách kế toán của ng-
ời thuê mà phần tiền trả theo thoả thuận đợc ghi nh mọi khoản chi phí bình th-
ờng khác. Trong hợp đồng này không dự kiến chuyển giao quyền sở hữu thiết bị
khi hết hạn thuê.
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 13
Tài sản Quyền sở hữu đợc chuyển giao Có
khi thời hạn cho thuê chấm dứt.
KHÔNG
Hợp đồng thuê có qui định quyền Có
chọn mua theo giá tợng trng
KHÔNG
Thời hạn thuê chiếm phần lớn Có
thời gian hữu dụng của tài sản
KHÔNG
Giá trị hiện tại của các khoản tiền Có
thuê tối thiểu lớn hơn hay tơng
đơng với giá trị tài sản.
Thuê vận hành Thuê tài chính
Cũng có thể so sánh giữa thuê tài chính và thuê vận hành nh sau
Stt Tiêu thức Thuê vận hành Thuê tài chính
1 Quyền sở hữu Tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng
2 Thời hạn thuê Rất ngắn so với đời sống
hữu ích của tài sản
Thờng dài hơn một nửa cho tới
bằng đời sống hữu ích của tài sản
3 Quyền huỷ
hợp đồng
Đợc quyền huỷ ngang
hợp đồng
Không đợc quyền huỷ ngang
Thờng sử dụng
Trong giao dịch
Máy móc dùng cho cho các
văn phòng, công sở, xe ô tô,
đồ đạc trong văn phòng
Các loại bất động sản, phơng tiện
máy móc sản xuất
II. Công ty cho thuê tài chính trong nền kinh tế thị trờng
Mục đích của phần này từ chức năngcủa công ty cho thuê tài chính sẽ làm rõ
mục đích của đề tài là xem xét hoạt động kinh doanh của công ty dới góc độ
nào. Mà ở đây đó là vấn đề đầu ra và đầu vào của công ty. Đối với công ty cho
thuê tài chính thì đó là vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn. Vấn đề sử dụng của
công ty có thể tìm hiểu dói rất nhiều góc độ khác nhau. Trong phần này sẽ tìm
hiểu ở những lĩnh vực hoạt động của công ty. Công ty cho thuê tài chính không
chỉ hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính nh mọi ngòi thờng hiểu mà nó
còn hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác. Từ những lý luận chung này sẽ đợc
xem xét hoạt động của công ty cho thuê tài chính để từ đó tìm ra những mặt hạn
chế.
1. Các loại công ty cho thuê tài chính.
Tuỳ theo pháp luật của từng nớc qui định, nên mỗi nớc có những định
nghĩa khác nhau về công ty Cho thuê tài chính. Nhng nhìn chung có thể đa ra
một định nghĩa tổng quát nh sau: Công ty Leasing thờng là một định chế tào
chính, và các Ngân hàng, các tập đoàn công nghiệp có thể tham gia kinh doanh
nh một chức năng hoạt động của các tổ chức này. Một cách tổng quát Công ty
Leasing hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cho thuê
Tại các nớc phát triển nhìn chung công ty Leasing có thể chia làm 3 loại:
Công ty cho thuê tài chính độc lập ( Independent Leasing Company ):
Loại hình công ty này thờng đợc hình thành từ các chuyên gia tài chính có đầy
đủ kiến thức kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu dự án, đánh
giá giá trị tài sản... Các công ty này thờng có một mạng lới kinh doanh rất rộng
vấn, bảo lãnh cho khách hàng về những dịch vụ có liên quan đến nghiệp vụ
cho thuê tài chính và các nghiệp vụ khác nếu pháp luật cho phép.....
Nh vậy cũng nh một doanh nghiệp mà hoạt động kinh doanh của nó nhằm
mục đích tối đa hoá lợi nhuận. Để xem xét vấn đề hoạt động kinh doanh của nó
thì cần phải xét đến vấn đề đầu ra và đầu vào mà ở đây là vấn đề huy động vốn
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 16
và sử dụng vốn. Đối với công ty cho thuê tài chính thì sử dụng vốn có tính chất
phức tạp hơn, để làm rõ đợc vấn đề này việc phân tích thị trờng của công ty
đóng một vai trò quan trọng bởi thị trờng hoạt động của nó khá đa dạng. Những
vấn đề này sẽ đợc làm rõ ở những phần dới đây.
3. Huy động vốn và sử dụng vốn của công ty cho thuê tài chính
3.a. Huy động vốn
Lựa chọn và huy động vốn phù hợp với từng điều kiện cu thể với chi phí
thấp nhất là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của một
doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể chia toàn bộ nguồn vốn thành dài hạn,
trung hạn và ngắn hạn. Do đặc điểm của nghiệp vụ cho thuê tài chính là việc tài
trợ tín dụng trung, dài hạn nên nguồn vốn của công ty chủ yếu cũng là nguồn
trung, dài hạn. Chúng có thể gồm các nguồn sau :
- Vốn tự có :
Khi công ty cho thuê tài chính thành lập bao giờ chủ sở hữu cũng phải đầu
t một số vốn nhất định. Số vốn này có tổng giá trị tối thiểu phải bằng với vốn
pháp định.Tuỳ thuộc loại hình sở hữu mà vốn tự có của công ty có các hình thức
khác nhau. Một bộ phận khác cũng rất quan trọng thuộc vốn tự có là lợi nhuận
để lại sau khi công ty đã hoạt động đợc một thời gian. Nhiều quan điểm cho
rằng sử dụng vốn tự có không phải tốn chi phí. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lý
thuyết thì chi phí vốn của vốn tự có chính là chi phí cơ hội (khái niệm chi phí
vốn sẽ đợc làm rõ trong các phần sau.). ở đây, tỷ suất lợi nhuận mà chủ sở hữu
mong muốn trên phần lợi nhuận để lại mình bỏ ra là chi phí của nó hoặc là tỷ
suất lợi nhuận mà ngời chủ sở hữu mong đợi kiếm đợc từ khoản đầu t có mức
- Thuê mua từ các công ty cho thuê nớc ngoài.:
Đây cũng gần tơng t nh loại thuê mua bắc cầu. Nếu phí cho thuê của một
công ty cho thuê nớc ngoài nào đó là rẻ tơng đối so với chi phí thuê mua trong
nớc và tỷ giá hối đoái có xu hớng ổn định thì công ty có thể tiến hành thuê tài
sản theo nghiệp vụ cho thuê tài chính rồi đem cho các doanh nghiệp trong nớc
thuê lại. Trờng hợp này diễn ra theo hớng công ty cho thuê tài chính thuộc các
nớc đang phát triển thuê tài sản từ các công ty thuộc các nớc phát triển vì lãi
suất nói chung và phí cho thuê nói riêng ở các nớc phát triển thờng rẻ hơn các
nớc đang phát triển.
- Nhận tiền gửi từ công chúng:
Một số nớc cấm các công ty cho thuê tài chính huy động tiền gửi từ công
chúng nhng một số khác thì lại cho phép nhận tiền gửi có kỳ hạn (Ân Độ). Việc
cho phép nhân tiền gửi có kỳ hạn xuất phát từ nhiều lý do nhng một trong
những lý do cơ bản là : nếu kỳ hạn tiền tiết kiệm tơng đối dài đồng thời không
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 18
cho phép rút tiền trớc hạn thì sẽ có rất ít rủi ro xảy ra và đây đợc coi nh biện
pháp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn của công ty cho thuê tài chính
khi thị trờng chứng khoán cha phát triển.
Nh vậy, về cơ bản một công ty cho thuê tài chính có thể huy động từ khá
nhiều nguồn vốn khác nhau. Nói chung, công ty bắt đầu phải sử dụng những
nguồn tài trợ có chi phí thấp nhất, nhng khi đã hết các nguồn tài trợ có chi phí
thấp, công ty sẽ phải trông chờ vào các nguồn nguồn vốn có chi phí cao hơn.
Vậy chi phí vốn là gì ?
Có thể hiểu khái quát rằng chi phí của một loại vốn cụ thể nào đó là chi phí
trả cho nguồn vốn huy động, nó đợc tính bằng số lợi nhuận cần phải đạt đợc
trên nguồn vốn huy động để giữ không làm thay đổi số lợi nhuận dành cho chủ
sở hữu của công ty. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải là tìm một các riêng rẽ
các nguồn vốn có chi phí rẻ mà phải xây dựng đợc một cơ cấu vốn sao cho chi
phí trung bình của vốn làm tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.( Chi phí trung bình
Đa số hợp đồng cho thuê tài chính là loại hợp đồng theo thoả thuận 3 bên:
bên cho thuê, bên thuê, bên cung cấp thiết bị
Theo đó quyền và trách nhiệm mỗi bên nh sau:
- Bên cho thuê
- Xét duyệt tài trợ thuê tài chính chi ngời có nhu cầu thuê
- Xác nhận các chi tiết và giá cả thiết bị từ phía ngời thuê và ngời cung
ứng
- Soạn thảo hợp đồng thuê.
- Soạn thảo hợp đồng mua tài sản cho thuê với nhà cung ứng
- Đứng tên sở hữu hợp pháp.
- Bên thuê
- Lựa chọn thiết bị cần thiết và chọn nhà cung ứng, thong lợng các điều
khoản bảo hành, thơng lợng cách thức bảo dỡng, thơng lợng về các chi tiết giao
nhận ( nh vận chuyển, hoàn thành thủ tục hải quan, cấp giấy phép), thơng l-
ợng về thời gian lắp đặt và đào tạo, thơng thảo giá mua, cung cấp bảo hiểm toàn
diện cho thời gian vân chuyển.
- Thực hiện thoả thuận mua với nhà cung ứng và ngòi cho thuê.
- Thực hiện hợp đồng thuê với ngời cho thuê.
- Có trách nhiệm sửa chữa, bảo dỡng tài sản thuê trong suốt quá trình
thuê
- Đợc quyền sử dụng tài sản.
- Nhà cung ứng
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 20
- Đàm phán với ngời thuê về loại thiết bị, các thông số kỹ thuật, giá cả
- Cung cấp bảo hành và dịch vụ cho ngời thuê
- Giao thiết bị trực tiếp cho ngời thuê trong tình trạng hoạt động tốt
- Thực hiện hợp đồng mua với ngời cho thuê
Hợp đồng bán và tái thuê
Bán và tái thuê là một thoả thuận tài trợ chính mà ngời thuê bán lại tài sản
Hợp đồng tài trợ trực tiếp
Là loại hợp đồng mà ngời cho thuê sử dụng thiết bị của họ có sẵn tài trợ
cho ngời thuê. Ngời cho thuê là nhà sản xuất hoặc cũng có thể là nhà sản xuất
hoặc cũng có thể là Công ty cho thuê tài chính sử dụng tài sản của mình để tài
trợ cho bên thuê.
Hợp đồng thuê
Ngời cho thuê Ng ời
thuê
Giao thiết bị và các dịch vụ
hay bảo trì, bảo dỡng hay
Nhà sản xuất Trả tiền thuê và các dịch vụ Ngời tiêu thụ
Bán lại các thiết bị sản xuất
Quyền sở hữu Quyền sử dụng
Đặc trng của hợp đồng cho thuê này là
- Tài sản thuê thờng không quá lớn và thờng là máy móc thiết bị
- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Ngời thuê và Ngời cho thuê
- Vốn tài trợ hoàn toàn do ngời cho thuê đảm nhiệm
- Ngời cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu.
Đây là một hình thức tài trợ mà các nhà sản xuất thờng sử dụng để đẩy mạnh
việc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mặt khác nhờ luôn cập nhật những công
nghệ mới để chế tạo máy móc, thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mua lại
những cũ đã lạc hậuvề mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc mới, hiện
đại do họ chế tảo ra.
Hợp đồng cho thuê liên kết
Là loại hợp dồng gồm nhiều bên tài trợ cho một ngời thuê. Sự liên kết này có thể
xảy ra theo chièu ngang hoặc chiều dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản hay khả
năng tài chính của nhà tài trợ. Trong trờng hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định chế
Tiền trả nợ Tiền thuê
cho cho
thuê
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 23
Người
Tiền cho vay Tài sản
vay thuê
Hình thức này thờng đợc sử dụng trong những giao dịch giao dịch thuê
mua đòi hỏi một lợng vốn đầu t lớn, chẳng hạn thuê mua một máy bay thơng
mại hay một tàu chở hàng hoặc một tổ hợp chuyên ngành lớn
Hợp đồng cho thuê giáp lng
Là phơng thức tài trợ mà trong đó đợc sự thoả thuận của ngời cho thuê, ng-
ời thuê thứ nhất cho ngời thuê thứ hai thuê lại tài sản mà ngời thuê thứ nhất đã
thuê từ ngời cho thuê.
Kể từ thời điểm hợp đồng thuê lại đợc ký kết, mọi quyền lợi và nghĩa vụ
cùng tài sản đợc chuyển giao từ ngời thuê thứ nhất sang ngời thuê thứ hai. Các
chi phí pháp lý, di chuyển tài sản phát sinh từ hợp đồng này do ngời thuê thứ
nhất và ngời thuê thứ hai thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, ngời thuê thứ nhất vẫn
phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những rủi ro và thiệt hại liên quan đến
táỉan vì họ là ngời trực tiếp ký kết hợp đồng với ngời cho thuê ban đầu.
Hình thức thoả thuận thuê mua này thờng đợc thực hiện dới dạng hợp đồng
hoàn trả toàn bộ đợc ký kết giữa ngời cho thuê với ngời thuê thứ nhất. Nhng khi
thực hiện đợc một phần hợp đồng, ngời thuê thứ nhất không còn nhu cầu với tài
sản đã thuê hay vì một lý do nào đó (mà hợp đồng này là loại thoả thuận không
thể huỷ ngang) nên họ phải tìm ngời thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng. Bởi
nến không cho thuê tiếp đợc thì dù không sử dụng tài sản thì họ vẫn tiếp tục
phải trả tiền thuê.
Ngời Quyền sử dụng Ngời Quyền sử dụng Ngời
bình thờng. Gần đây các nhà đầu t nớc ngoài cũng đã áp dụng hình thức cho
thuê vận hành đối với máy móc thiết bị dùng cho công nghiệp, nh công ty dệt
Việt Thắng, bắt đầu thực hiện vào năm 1993 với 4 nhà đầu t nớc ngoài. Hai
công ty của Nhật Bản và hai của Hàn Quốc đã thực hiện một hợp đồng với 90
chiếc máy chuyên dụng trị giá gần 5 triệu USD. Với phơng thức cho thuê : Nhà
đầu t nớc ngoài cho phía Việt nam thuê thiết bị hiện đại, tiền thuê máy đợc tính
theo lợng sản phẩm làm ra trên thiết bị đó. Phía nớc ngoài cùng hớng dẫn kỹ
thuật cùng sáng tạo mẫu mã và bao tiêu một phần sản phẩm tại thị trờng nớc
ngoài. Phía Việt Nam tự quản lý sản xuất. Theo đánh giá của công ty dệt Việt
Thắng hình thức cho thuê máy móc thiết bị là rất tốt đã làm phần lãi của công ty
tăng thêm ngay năm đầu tiên đi vào sản xuất là 430 triệu đồng và năm sau là
Ngân hàng 39B Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 25