Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Công ty Du lịch Hà Nội-Toserco - Pdf 87

LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập vào xu thế chung của thế giới, ngành du lịch ngày càng phát
triển nhanh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và được coi là
một ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch thì hoạt động lữ hành, đặc biệt hoạt
động kinh doanh lữ hành quốc tế hết sức quan trọng. Trong những năm qua do
những chính sách mở cửa nền kinh tế cùng với những chính sách, biện pháp
của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên đã tạo điều kiện phát
triển du lịch lữ hành quốc tế vào Việt Nam và lượng khách Việt Nam đi du
lịch nước ngoài. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế đến Việt Nam còn quá thấp so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự kém phát triển này là do sản
phẩm du lịch của Việt Nam còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn du khách, các Công
ty lữ hành quốc tế còn yếu về kinh nghiệm quản lý, chưa xây dựng được sản
phẩm đặc trưng, các chương trình du lịch chưa đa dạng phong phú; đồng thời
chưa đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức quảng cáo khuếch
trương sản phẩm còn hạn chế. Tình hình đó đã đặt ra cho các Công ty lữ hành
quốc tế Việt Nam một loạt vấn đề cần giải quyết cho sự tồn tại và phát triển của
chính bản thân mình. Giống như các Công ty lữ hành quốc tế khác, Công ty
Dịch vụ du lịch Hà Nội-Toserco cũng gặp những thách thức lớn khi hoạt động
trên thương trường.
Sau thời gian học tập và tìm hiểu tại Công ty Dịch vụ Du lịch Hà Nội-
Toserco, xuất phát từ những suy nghĩ và bằng kiến thức thu được trong quá
trình học tập và thực tế hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế của Công ty Dịch
vụ Du lịch Hà Nội-Toserco, em đã chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm phát
1
triển hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Công ty Du lịch Hà Nội-
Toserco" làm chuyên đề tốt nghiệp, nhằm thử nghiệm phân tích thực trạng và
đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh lữ
hành quốc tế của Công ty.
Kết cấu của chuyên đề ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo,
gồm ba chương:

gian làm nhiệm vụ này. Tác nhân đó chính là các Công ty lữ hành du lịch. Công
ty lữ hành được hiểu là một loại hình doanh nghiệp du lịch, được thành lập và
hoạt động với mục đích gián tiếp hoặc trực tiếp làm môi giới trung gian giữa
3
cung và cầu trên thị trường du lịch trong nước cũng như phạm vi quốc tế thông
qua việc tổ chức xây dựng và bán, thực hiện các chương trình du lịch trọn gói,
các loại dịch vụ của chính Công ty hoặc của các đối tác bạn hàng. Từ đó, Công
ty lữ hành ra đời.
I.2 Khái niệm về kinh doanh lữ hành và Công ty lữ hành du lịch
1.Khái niệm về kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành du lịch mới xuất hiện vào giữa thế kỷ 19 (1841), do
một người Anh tên là Thomas Cook sáng lập. Kể từ đó tới nay nghề này ngày
càng phát triển và lan rộng khắp thế giới. Hiện nay có hàng chục hãng lữ hành
hoạt động trên hầu hết các quốc gia. Ở Việt Nam hiện có rất nhiều doanh
nghiệp kinh doanh lữ hành, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành quốc tế...Theo định nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam (TCDL- quy
chế quản lý lữ hành ngày 29/4/1995) thì: "Kinh doanh lữ hành (Tour Operators
Business) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các
chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình
này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức
thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh nghiệp lữ hành đương
nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành".
2. Khái niệm về Công ty lữ hành.
Ở thời kỳ đầu các Công ty lữ hành chủ yếu tập trung vào các hoạt động
trung gian làm đại lý bán hàng sản phẩm của các nhà cung cấp như: khách sạn,
hàng không...Khi đó các Công ty lữ hành được định nghĩa như một pháp nhân,
kinh doanh chủ yếu dưới hình thức là đại diện, đại lý của các nhà bán sản phẩm
tới tận tay người tiêu dùng với mục đích thu tiền hoa hồng. Trong suốt quá trình
phát triển cho tới nay, hình thức các đại lý vẫn được mở rông jvà phát triển.
4

Bộ phận du lịch là "xương sống" trong toàn bộ hoạt động của Công ty lữ
hành, bao gồm: phòng điều hành, phòng hướng dẫn, phòng thị trường. Mỗi
phòng có chức năng chuyên ngành riêng tạo thành thể thống nhất trong quá
trình từ tạo ra các sản phẩm của công ty, đưa ra bán trên thị trường đến việc
thực hiện các chương trình.
-Phòng điều hành: Là bộ phận sản xuất của Công ty du lịch lữ hành tiến
hành các hoạt động nhằm đảm bảo thựch hiện các chương trình du lịch của
Công ty. Phòng điều hành có nhiệm vụ sau:
+Là đầu mối triển khai toàn bộ các công việc điều hành các chương trình
du lịch cung cấp các dịch vụ du lịch trên cơ sở các kế hoạch do phòng thị
trường gửi tới.
+Lập kế hoạch và triển khai các công việc liên quan thực hiện các
chương trình du lịch trọn gói.
6
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Bộ phận du lịch
Bộ phận hỗ trợ
phát triển
Bộ phận tổng hợp
Điều
hành
Tổ
chức
điều
hành
Thị
trường
Hướng
dẫn

khách và nội dung hoạt động đón tiếp.
-Phòng hướng dẫn: được tổ chức theo nhóm ngôn ngữ. Đội ngũ lao động
là các hướng dẫn viên trực tiếp cùng khách hàng thực hiện các chương trình du
lịch. Các công việc cụ thể bao gồm:
+Căn cứ vào kế hoạch khách, tổ chức điều động bố trí hướng dẫn viên
cho các chương trình du lịch.
+Phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong công ty để tiến hành công
việc một cách có hiệu quả nhất.
+Tiến hành các hoạt động quảng cáo tiếp thị thông qua hướng dẫn.
II.HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ.
II.1 Hệ thống sản phẩm của Công ty lữ hành.
7
Sự đa dạng trong hoạt động lữ hành du lịch là nguyên nhân chủ yếu dẫn
tới sự phong phú , đa dạng của các sản phẩm cung ứng của Công ty lữ hành.
Căn cứ vào tính chất và nội dung, có thể chia các sản phẩm của các Công ty lữ
hành thành 3 nhóm cơ bản:
1. Các dịch vụ trung gian
Sản phẩm dịch vụ trung gian chủ yếu do các đại lý du lịch cung cấp.
Trong hoạt động này, các đại lý du thực thực hiện các hoạt động bán sản phẩm
của các nhà sản xuất tới khách du lịch. Các đại lý du lịch không tổ chức sản
xuất các sản phẩm của bản thân đại lý, mà chỉ hoạt động như một đại lý bán
hoặc một điểm bán sản phẩm của các nhà sản xuất du lịch. Các dịch vụ trung
gian chủ yếu bao gồm:
-Đăng ký chỗ và đặt vé máy bay.
-Đăng ký chỗ và đặt vé trên các loại phương tiện khác như tàu thuỷ,
đường sắt và ôtô....
-Môi giới cho thuê xe ôtô.
-Môi giới và bán bảo hiểm.
-Đăng ký đặt chỗ và bán các chương trình du lịch.
-Đăng ký và đặt chỗ trong khách sạn.

các đơn vị dịch vụ khác.
Để thực hiện chức năng đó, các Công ty lữ hành nội địa và quốc tế tiến
hành hoạt động trên 4 mảng chủ yếu sau:
1.Hoạt động nghiên cứu thị trưòng.
Thị trường luôn là mối quan tâm hàng đầu của tổ chức kinh doanh. Bởi
lẽ, muốn tồn tại và phát triển thì tổ chức đó phải có một vị trí nhất định trên thị
trường. Để xây dựng một chiến lược kinh doanh cho phù hợp trong một thời kỳ
nhất định, tất yếu phải có sự nghiên cứu thị trường.
10
Trong mảng hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế công ty chia thị
trường thành hai lĩnh vực là thị trường quốc tế chủ động và thị trường quốc tế
bị động.
Trên cơ sở xác định thị trường mục tiêu và vị trí ưu tiên của từng thị
trường, công ty phải nghiên cứu kĩ lưỡng từng thị trưòng. Có hai phương pháp
mà Công ty sử dụng nghiên cứu là: phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương
pháp điều tra trực tiếp.
Đối với phương pháp nghiên cứu tài liệu điều quan trọng là phải tìm
kiếm nguồn tài liệu đặc biệt là các thông tin về nhu cầu, sở thích tâm lý, trình
độ văn hoá xã hội...
Còn phương pháp điều tra trực tiếp tức là phải đi khảo sát thị trường, ký
kết hợp đồng, thăm dò thị trường hoặc tổ chức nói chuyện tiếp xúc với khách
hàng.
Tóm lại, hoạt động nghiên cứu thị trưòng là bước đầu tiên và quan trọng
nhất trong việc công ty đề ra những mục tiêu, phương hướng chiến lược của
công ty.
2.Hoạt động xây dựng chương trình du lịch trọn gói.
Mỗi hoạt động sản xuất đều tạo ra sản phẩm đặc trưng. Trong hoạt động
lữ hành quốc tế thì chương trình du lịch là sản phẩm đặc trưng. Sản phẩm của
lữ hành quốc tế được cấu thành từ ba yếu tố: kỹ thuật, kinh tế, pháp luật.
Yếu tố có tính chất kỹ thuật (hành trình tour, phương tiện vận chuyển,

Công ty lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình du lịch
- Phương pháp tính giá thành theo khoản mục chi phí bằng cách nhóm
toàn bộ các chi phí phát sinh vaò hai khoản mục chi phí cố định và chi phí biến
đổi để xác định giá thành.
12
+ Chi phí cố định là chi phí tính cho cả đoàn khách hay đó là mức chi phí
cho các hàng hoá và dịch vụ mà mức giá của chúng không thay đổi một cách
tương đối so với lượng khách trong đoàn. Trong một chương trình du lịch, chi
phí cố định bao gồm: chi phí vận chuyển, chi phí hướng dẫn, chi phí thuê bao
và chi phí cố định khác.
+ Chi phí biến đổi là chi phí tính cho từng đoàn khách du lịch hay đó là
mức chi phí gắn liền trực tiếp tới sự tiêu dùng riêng biệt của từng du khách. Khi
tính giá thành một chương trình du lịch, chi phí biến đổi thường bao gồm: chi
phí về lưu trữ, chi phí ăn, chi phí bảo hiểm, chi phí tham quan, chi phí visa- hộ
chiếu và chi phí biến đổi khác.
Giá thành cho một du khách được tính theo công thức:
Z = b +
A
N
Giá thành cho cả đoàn khách:
Z = N×b + A
Trong đó:
N: Số thành viên trong đoàn.
A: Tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn khách.
b: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách.
+ Phương pháp xác định giá thành theo lịch trình.
Về cơ bản phương pháp này không có gì khác biệt xo với phương pháp
trên, tuy nhiên các chi phí ở đây được liệt kê cụ thể và chi tiết lần lượt theo
từng ngày của lịch trình.
Sau khi đã xác định giá thành của một chương trình du lịch thì công việc

+ Xác định các khoản chi phí, lợi nhuận thuế trên cơ sở giá bán theo
công thức:
G =
Z
1- βp-βb-βk-βt
=
Z
1-(βp+βb+βk+βt)
=
Z
1- β∑
Trong đó:
β: Hệ số tính theo %; βp, βb, βk, βt là hệ số các khoản lợi nhuận chi phí
bán, chi phí khác và tính thuế trên giá bán
β∑; Tổng các hệ số trên
+ Phương pháp hỗn hợp:
14



+
=
t
Cb
p
ck
Z
G
β
α

phẩm. Trong kênh tiêu thụ gián tiếp Công ty lữ hành không trực tiếp tiêu thụ
sản phẩm mà uỷ nhiệm cho các đại lý của mình hoặc các Công ty lữ hành gửi
khách bán sản phẩm. Hệ thống các kênh phân phối đó được thể hiện bằng sơ đồ
sau:
Sơ đồ 2: Hệ thống kênh phânh phối sản phẩm du lịch của Công ty lữ
hành.
Kênh tiêu thụ trực tiếp là loại kênh bán hàng của Công ty lữ hành quốc
tế. Người tiêu thụ sản phẩm ở đây là khách du lịch quốc tế hay khách ở trong
nước đi du lịch nước ngoài do công ty lữ hành quốc tế đảm bảo theo đúng chất
lượng sản phẩm do mình bán ra và chịu mọi rủi ro, uy tín về sản phẩm của
mình bán ra.
Đối với những doanh nghiệp của các ngành kinh tế khác thường thì sản
xuất tạo ra sản phẩm và khi sản xuất xong thì gần như là "hết" trách nhiệm.
Nhưng trong du lịch, khi sản xuất xong sản phẩm là chương trình du lịch, lại
khác hẳn kể cả khi đã bán sản phẩm cho du khách, du khách trả tiền rồi nhưng
quá trình tiêu thụ chưa kết thúc, Công ty lữ hành còn phải tổ chức thưc hiện
chương trình du lịch đó.
Thực chất của việc thực hiện chương trình du lịch là thực hiện các mối
quan hệ giữa Công ty lữ hành với các nhà cung cấp dịch vụ, giữa Công ty lữ
hành với khách du lịch, giữa Công ty lữ hành tổ chức và Công ty lữ hành gửi
16
Công ty lữ
hành
Khách du
lịch
Đại lý du
lịch bán lẻ
Đại lý du
lịch bán
buôn

hành đã được mở rộng và các hoạt động cũng được phát triển phong phú như
bán hàng lưu niệm, dịch vụ thông tin liên lạc, làm thủ tục xuất nhập cảnh, đổi
tiền, cho thuê xe...
18
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ Ở
CÔNG TY DU LỊCH HÀ NỘI-TOSERCO.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
HÀ NỘI- TOSERCO.
I.1. Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển của Hà Nội-Toserco.
Sự phát triển của Công ty được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ khi thành lập đến cuối năm 1989.
Công ty du lịch dịch vụ Hà Nội-tên giao dịch Hà Nội-Toserco được
thành lập ngày 14-4-1988 theo quyết định số 625/QĐ-UB của UBND thành phố
Hà Nội trên cơ sở sáp nhập Công ty du lịch Hà Nội với khách sạn Thăng Long
thuộc UNIMEX Hà Nội (nay là khách sạn Hà Nội) vào làm một. Bắt tay vào
hoạt động với số vốn ít ỏi (khoảng 20 triệu VND) cùng với việc sáp nhập một
số khách sạn như Đồng Lợi, Long Biên, Phùng Hưng, Giảng Võ, Chi Lăng
cùng hai xí nghiệp cắt tóc I và II, văn phòng của Công ty đặt tại số 8 Tô Hiến
Thành.
Tuy có một hệ thống khách sạn như vậy nhưng Công ty thực sự lo ngại
khi bắt tay vào hoạt động vì hầu hết các khách sạn đều chịu ảnh hưởng sâu sắc
của chế độ cũ và hoạt động kém hiệu quả, chất lượng phục vụ thấp, không có
khả năng đón tiếp khách quốc tế.
Khi bước sang cơ chế thị trường, để đảm bảo cho sự tồn tại và phảt tiển
thì Công ty đã thay đổi cơ chế hoạt động và kinh doanh.
Giai đoạn 2: 1990-1994- giai đoạn cầu lớn hơn cung.
Giai đoạn này hoạt động chủ yếu của Công ty vẫn là hoạt động kinh
doanh khách sạn. Mảng lữ hành còn rất yếu, đến năm 1993 Công ty đã thành
19

ngày
khách
Đồng Lợi 2.345 9.415 2.950 11.800 3.183 10.987
Phùng
Hưng
3.049 12.195 3.560 14.240 4.065 14.905
Giản
g võ
22.275 107.500 31.171 109.100 29.700 118.800
Chi lăng 1.481 4.442 1.921 4.496 1.974 3.897
Hồng Hà 4.325 7.183 5.122 8.059 4.948 8.592
Tổng số 33.483 140.734 44.729 147.695 43.825 157.178
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh các năm 1992,1993,1994.
Tuy hoạt động kinh doanh của các khách sạn chưa đồng đều, hiệu quả
doanh thu cũng khác nhau nhưng quá trình hoạt động của các khách sạn này có
những bước đổi mới rõ rệt và ngày càng phát triển vững mạnh hơn để hoà nhập
với cơ cấu khách du lịch trên thị trường.
Giai đoạn 3: Từ 1995 đến nay-giai đoạn cung lớn hơn cầu.
20
Tháng 10-1995 các khách sạn được tách về cho Sở du lịch Hà Nội quản
lý (trừ khách sạn BSC tại 77B Kim Mã-Ba Đình).
Giai đoạn này hoạt động kinh doanh nói chung gặp nhiều khó khăn do
cung lớn hơn cầu. Công ty đã mạnh dạn tạo nguồn vốn đầu tư kinh doanh, tạo
nguồn vốn bằng cách lấy tiền thuê nhà trả trước của khách để cải tạo nâng cấp
khách sạn, biệt thự cho thuê. Trong 5 năm hoạt động (1990-1995) doanh thu
của toàn Công ty đã tăng lên 3,68 lần, nộp ngân sách Nhà nước tăng 16,27 lần,
tổng lãi thực hiện tăng30,98 lần, vốn kinh doanh tăng 5,98 lần và thu nhập bình
quân cán bộ công nhân viên tăng 6,1 lần. Hoạt động liên doanh đã đem lại cho
công ty nguồn vốn quan trọng là 123.670.000 USD bằng 21 lần số vốn góp của
công ty (5.787.000 USD).

Sơ đồ: Bộ máy tổ chức của Hà Nội - Toserco.
Hiện nay, công ty chỉ tồn tại hai phó Tổng giám đốc:
- Phó Tổng giám đốc I trực tiếp quản lý lãnh đạo phòng xây dựng cơ bản,
trung tâm dịch vụ nhà, khách sạn BSC:
+ Phòng xây dựng cơ bản: Có nhiệm vụ mua bán, cung cấp các nguyên
liệu hàng hoá cho toàn bộ công ty và các liên doanh của Công ty.
22
Tổng giám đốc
P.TGĐ II P.TGĐ IIIP. TGĐ I
Phòng
xây
dựng

bản
Các
liên
doanh
Trung
tâm
dịch
vụ
nhà
Khách
sạn
BSC

nghiệ
p cắt
tóc
Du

bảo
vệ
+ Trung tâm dịch vụ nhà có trách nhiệm quản lý và cho thuê hai khu nhà
33B và 34B tại Kim Mã (Hà Nội) và một số ngôi biệt thự khác.
+ Khách sạn BSC: Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, phục vụ khách trong
nước và quốc tế. Đồng thời kinh doanh các dịch vụ bổ sung như: đồ lưu niệm,
thuê ôtô, xe máy, xe đạp, dịch vụ y tế, cắt tóc.
- Phó tổng giám đốc II: trực tiếp quản lý, lãnh đạo bộ phận giải phóng mặt
bằng, chịu trách nhiệm đối với công trình của Công ty và liên doanh (do năm
1998 vì điều kiện của Công ty và do nguyên nhân về nhà đất chưa thật cần thiết
nên bộ
phận này tạm ngừng hoạt động và phó Tổng giám đốc thứ hai cũng tạm thời
không xuất hiện trong cơ cấu tổ chức của Công ty)
-Phó Tổng giám đốc thứ III trực tiếp quản lý và lãnh đạo trung tâm điều
hành du lịch. Trung tâm có nhiệm vụ tổ chức các chương trình du lịch trọn gói,
làm thủ tục xuất nhập cảnh...
- Các bộ phận kinh doanh trực tiếp trực thuộc Tổng công ty
+ Xí nghiệp cắt tóc.
+ Du thuyền Hồ Tây.
+ Bộ phận liên doanh liên kết: quản lý các dự án liên doanh liên kết, các
đối tác trong và ngoài nước.
- Các bộ phận quản lý hành chính trực thuộc Tổng giám đốc:
+ Phòng kế hoạch nghiệp vụ: xây dựng, theo dõi và tổng kết việc thực
hiện kế hoạch mà Công ty đặt ra. Tiến hành tổ chức xây dựng kế hoạch hoạt
động trong toàn bộ Công ty.
+ Phòng kế toán tài vụ: tổ chức việc hạch toán kế toán trong toàn bộ các
bộ phận của Công ty, tính và nộp thuế chính xác, đầy đủ, thống kê khai báo tài
chính.
+ Phòng hành chính tổ chức: giải quyết và xem xét các công văn đến và
đi của Công ty đông thời xem xét bổ nhiệm, tuyển dụng, di chuyển và thôi việc

- Tất cả cán bộ nhân viên trung tâm đều có thể giao tiếp bằng tiếng Anh,
một số khác có thể giao tiếp bằng các thứ tiếng như Pháp, Trung Quốc,
Nhật...Toàn bộ nhân viên đều sử dụng thành thạo vi tính ở trình độ soạn thảo
trở lên.
24
Ngoài ra, Công ty còn có đội ngũ hướng dẫn viên đông đảo phần lớn là
làm theo hợp đồng và các cộng tác viên. Họ có trình độ nghiệp vụ cao, thành
thạo ít nhất một ngoại ngữ và đều có thể hướng dẫn khách du lịch.
c. Vốn kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nguồn vốn của Công ty không
ngừng được bổ sung và tích luỹ. Công ty đã mở rộng liên doanh liên kết với
nước ngoài nên đã đem lại nguồn vốn quan trọng.
25

Trích đoạn Hoạt động kinh doanhlữ hành quốc tế bị động. BẢNG 6: SỐ LƯỢT KHÁCH QUỐC TẾ CHỦ ĐỘNG CỦA HÀ NỘI TOSERCO Các mối quan hệ của Công ty với các nhà cung cấp. Thị trường mục tiêu Công ty đang hướng tới. Chính sách giá.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status