Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia trong
điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Lê Thị Thanh Hảo
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Bá Diến
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận đối với chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
Chỉ rõ thời cơ và thách thức của hội nhập với chủ quyền quốc gia trong điều kiện hiện
nay, thực trạng thực hiện nguyên tắc của các nước trên thế giới. Đưa ra một số quan điểm
và giải pháp để các nước trên thế giới nghiêm túc thực hiện nguyên tắc và một số biện
pháp giúp Việt Nam hội nhập thành công nhưng vẫn giữ vững chủ quyền quốc gia.
Keywords: Luật Quốc tế; Hội nhập quốc tế; Chủ quyền quốc gia
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do thương mại quốc tế hiện nay, vấn đề tôn trọng chủ
quyền quốc gia ngày càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ quyền quốc gia là tối cao, bất khả
xâm phạm, mỗi quốc gia đều bình đẳng trên trường quốc tế và có quyền tài phán tối cao trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia mình. Trong xu thế toàn cầu hóa và đa phương hóa hiện nay chỉ cần
lơ là chút chủ quyền quốc gia sẽ bị xâm phạm ngay và một khi quốc gia bị mất chủ quyền sẽ dễ
dàng bị chi phối trong mọi hoạt động đối nội và đối ngoại. Một số siêu cường trên thế giới
đang giương cao ngọn cờ nhân quyền, lợi dụng can thiệp nhân đạo và chống khủng bố để thao
túng một số quốc gia nhỏ nhằm đạt được lợi ích kinh tế và chính trị từ đó biến những quốc gia
này thành thuộc địa kiểu mới, thực hiện giấc mơ bá chủ thế giới của mình.
Quá trình toàn cầu hóa thúc đẩy các quốc gia hội nhập phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tuy
2.2. Nhiệm vụ
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về chủ quyền quốc gia, nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
- Đánh giá những tác động của hội nhập quốc tế với chủ quyền quốc gia và thực trạng thực
hiện nguyên tắc của Việt Nam và thế giới.
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện nguyên tắc tôn trọng
chủ quyền quốc gia trên thế giới và đưa ra một số giải pháp cụ thể với Việt Nam trong quá
trình hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội và chủ quyền quốc gia.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Những trường phái, học thuyết, tư tưởng trong Luật quốc tế hiện đại về nguyên tắc tôn
trọng chủ quyền quốc gia.
- Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN, Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên hợp
quốc và các quy định hiện hành trong Luật quốc tế, Luật quốc gia liên quan đến nguyên tắc tôn
trọng chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
- Những sự kiện chính trị, xã hội trong quan hệ khu vực và quốc tế liên quan đến nguyên tắc
tôn trọng chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các
phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh.
- Phương pháp bình luận, diễn giải được sử dụng trong chương 1 của luận văn khi nghiên
cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của chủ quyền quốc gia nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc
gia và hội nhập quốc tế.
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá, phân tích được sử dụng trong
chương 2 của luận văn khi nghiên cứu về hội nhập quốc tế, thời cơ và thách thức với chủ quyền
quốc gia.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, sử dụng lý luận khoa học pháp lý được sử dụng
ở chương 2 và chương 3 khi xem xét nghiên cứu và thực tiễn giải quyết những vụ việc liên quan
Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập
pháp, hành pháp, tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể
hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao. Chủ
quyền quốc gia bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền
độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế:
* Quyền tối cao của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ thể hiện ở hai phương diện:
- Quyền sở hữu của mỗi quốc gia dân. Quốc gia có quyền sở hữu đầy đủ và trọn vẹn trên cơ
sở phù hợp với lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên vùng lãnh thổ đó và phù hợp với các
quyền dân tộc cơ bản.
- Quyền lực của quốc gia dân tộc: Là quyền lực hoàn toàn, riêng biệt và không thể chia sẻ
của quốc gia dân tộc trong phạm vi lãnh thổ.
* Quyền độc lập của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế:
Trong quan hệ quốc tế mọi quốc gia dân tộc đều độc lập và bình đẳng, không một chủ thể
nào được đứng trên chủ quyền quốc gia, được đưa ra các mệnh lệnh buộc quốc gia khác phải
phục tùng.
1.1.1.3. Một số đặc tính của chủ quyền quốc gia
Thứ nhất, chủ quyền quốc gia là duy nhất và không thể phân chia.
Thứ hai, chủ quyền quốc gia có tính tối cao. Điều đó có nghĩa là không có quyền lực nào đặt lên
trên quyền lực của quốc gia, buộc các quốc gia phải tuân theo.
Thứ ba, chủ quyền quốc gia là bình đẳng. Tính bình đẳng của chủ quyền quốc gia được nhìn
nhận trong mối quan hệ tương quan giữa chủ quyền của các quốc gia với nhau.
1.1.2. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
1.1.2.1. Khái niệm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
Tôn trọng quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia
trong quan hệ quốc tế
1.1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc
Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia là nguyên tắc xuất hiện sớm trong đời sống quốc
tế. Nó được hình thành trong thời kỳ loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản
chủ nghĩa và trở thành nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế thời kỳ tư bản chủ nghĩa.
1.1.2.3. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia,
hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất. Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung.
1.2.3. Các hình thức hội nhập
* Hội nhập kinh tế quốc tế: Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh
tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình
thức khác nhau.
* Hội nhập chính trị: Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế
quyền lực tập thể nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi
chung.
* Hội nhập an ninh, quốc phòng: Hội nhập về an ninh, quốc phòng là sự tham gia của quốc
gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh.
* Hội nhập về văn hóa-xã hội: Hội nhập về văn hóa, xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn
hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn
hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc;
1.2.4. Vai trò, ý nghĩa của hội nhập quốc tế
Thứ nhất, tham gia hội nhập khu vực và quốc tế cho phép quốc gia sử dụng những cơ sở
pháp lý cần thiết như chế độ tối huệ quốc (MFN); đối xử quốc gia (NT);
Thứ hai, hội nhập giúp các nước đang phát triển có cơ hội chuẩn bị mọi mặt, xây dựng, củng
cố các ngành kinh tế mũi nhọn, có được những chuẩn bị cần thiết để tham gia các thiết chế kinh
tế.
Thứ ba, tham gia vào các tổ chức liên kết kinh tế, các quốc gia cần điều chỉnh lại cơ chế kinh
tế, sắp xếp, bố trí lại ngành, lĩnh vực kinh tế, sắp xếp, đẩy mạnh các cải cách hành chính, chống
tiêu cực, tham nhũng qua đó tăng cường vai trò và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.
Thứ tư, hội nhập quốc tế đã xóa đi nhiểu bức tường ngăn cách dân chúng và nối cả thế giới
với nhau, tạo cơ hội cho bất cứ quốc gia hay cá nhân nào trong tiến trình tìm kiếm và khai thác
những thị trường tiềm năng để phát triển kinh tế.
Chương 2
HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC
VỚI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
Hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, có
cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.
Hội nhập cũng tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và
xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và
không bị lề hóa.
- Về chính trị: Hội nhập quốc tế giúp cho việc củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia bảo
vệ sự xâm lấn lãnh thổ của các thế lực thù địch, bảo vệ đất nước.
Hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế,
giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế
Hội nhập giúp các quốc gia tạo ra những liên minh chính trị như tương hỗ lẫn nhau, bảo vệ
chủ quyền quốc gia cho nhau
- Về văn hóa, xã hội: Hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng
cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; tạo điều kiện cho việc tiếp thu những thành tựu của
văn hóa nhân loại cũng như phổ biến và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Hội nhập giúp giải quyết các vấn đề xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, đảm bảo công
bằng về giới, bảo vệ môi trường giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu.
2.2.1.2. Tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế
- Về kinh tế: Hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành
kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt kinh tế, xã hội.
Hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài và do vậy
khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế.
Hội nhập không phân phối công bằng lợi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác nhau trong
xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu, nghèo.
Trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, họ dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.
Hội nhập có thể làm gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia, cũng làm tăng sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia, làm suy giảm sự độc lập tự chủ về kinh tế của các nước chậm và
đang phát triển
- Về chính trị: Hội nhập cũng dẫn các nước chậm phát triển tới nguy cơ xói mòn quyền lực
khi tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Theo chiều ngược lại, Nhà nước với việc
nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia cũng tác động đến tiến trình hội nhập.
Chủ quyền quốc gia, quá trình "mềm hóa". Quyền lực tuyệt đối của chủ quyền quốc gia dần
bị "mềm" đi bởi tác động của nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài. Hội nhập quốc tế luôn gắn
liền với trách nhiệm quốc tế và để thực hiện được những trách nhiệm này, đôi khi phải chấp nhận
hy sinh một phần lợi ích quốc gia, và sâu xa hơn, là một phần chủ quyền quốc gia.
Hội nhập tạo ra cơ hội cho tăng trưởng kinh tế, tạo ra tiền đề vật chất cho tăng cường hiệu
quả của nhà nước và giải quyết những vấn đề của xã hội, mang lại kinh nghiệm quản lý cho các
nhà nước. Tuy nhiên, tham gia vào toàn cầu hóa tức là quốc gia phải chấp nhận hạn chế quyền
lực của mình trong các quyết sách vì những lợi ích lớn hơn của quốc gia. Hội nhập quốc tế đã,
đang và sẽ thách thức độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia của các dân tộc tự quyết một cách
hiện thực.
Trong quá trình toàn cầu hóa, sự gia tăng ngày càng lớn vị trí, vai trò và quyền lực của các
thể chế quốc tế kéo theo sự thu hẹp quyền tự chủ của các quốc gia đang dần mất đi sứ mệnh của
mình, quyền lực riêng mối nước ngày càng chuyển sang quyền lực chung của cộng đồng quốc tế;
chủ quyền quốc gia ngày nay không còn giữ nguyên giá trị cơ bản như trước đây nữa, địa vị của
nhà nước bị hạ xuống hàng thứ yếu.
Sự ảnh hưởng của hội nhập với chủ quyền quốc gia cụ thể là đối nội và đối ngoại như sau:
Trong hoạch định chính sách kinh tế. Các quốc gia sẽ không còn giữ quyền tối cao trong
việc hoạch định các chính sách kinh tế, thương mại của mình như trước đây mà phải căn cứ vào
chính sách kinh tế chung của những thiết chế kinh tế mà mình là thành viên.
Trong điều chỉnh pháp luật quốc gia: Các thiết chế kinh tế đều yêu cầu các quốc gia thành
viên phải có những điều chỉnh thích hợp các quy định, luật lệ quốc gia cho phù hợp, tiến hành
những cải cách, đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới cách thức quản lý và điều hành nền
kinh tế.
Trong thực thi chính sách: Các chính sách của quốc gia từ đây sẽ phải phù hợp với những
chính sách chung của các thiết chế. Điều này sẽ tác động đến phạm vi thẩm quyền của Chính phủ
trong lĩnh vực hành pháp.
Trong thực hiện chính sách đối ngoại: Việc ký kết điều ước quốc tế phải phù hợp với những
nguyên tắc và quy định của mỗi thiết chế, các quốc gia xin gia nhập phải chủ động đưa ra những
3.1. Vấn đề thực thi nguyên tắc của các quốc gia trên thế giới
3.1.1. Thực trạng thực hiện nguyên tắc
3.1.1.1. Thực trạng thực hiện nguyên tắc các quốc gia trên thế giới.
Đại đa số các quốc gia trên thế giới tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và đặc
biệt là tuân thủ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia. Các tổ chức quốc tế, các quốc gia luôn
đấu tranh lên án các hành vi vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, một
số nước luôn lợi dụng các chiêu bài vi phạm nguyên tắc.
3.1.1.2. Thực trạng thực hiện nguyên tắc trong khu vực ASEAN.
Các nước trong khu vực ASean đã nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền
quốc gia. ASean còn thành lập ra cơ quan nhân quyền ASEAN nhưng hoạt động của cơ quan này
hoạt động trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ
của các quốc gia trong khối
3.1.2. Một số biến tướng của việc vi phạm nguyên tắc
3.1.2.1. Một số dân tộc thiểu số đòi có nhà nước riêng
Hiện nay nảy sinh một vấn đề một số dân tộc thiểu số nằm trong quốc gia nào đó đòi có nhà
nước riêng. Đa số các quan điểm không đồng ý với việc các dân tộc thiểu số đòi có nhà nước
riêng và có chủ quyền.
3.1.2.2. Lợi dụng can thiệp nhân đạo để thực hiện mưu đồ chính trị
Một số tổ chức quốc tế và quốc gia đã lợi dụng can thiệp nhân đạo để can thiệp vào công
việc nội bộ các quốc gia, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia. Nhìn chung dư luận
quốc tế đều cho rằng trong trường hợp đặc biệt cấp bách, cần phải có sự can thiệp nhưng phải
tiến hành trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nếu không sẽ là phi pháp.
3.1.2.3. Lợi dụng chống khủng bố để lật đổ các nhà nước hợp hiến, hợp pháp
Luật pháp quốc tế không cho phép các quốc gia sử dụng vũ lực đối với những nước đã tiến
hành khủng bố, lợi dụng chống khủng bố lật đổ các chính quyền hợp pháp, hợp hiến vì như vậy vi
phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật quốc tế và trước hết là nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền quốc gia.
3.1.2.4. Lợi dụng vấn đề nhân quyền để thao túng các quốc gia
Không thể một quốc gia nào áp đặt giá trị nhân quyền của quốc gia mình lên một quốc gia
khác. Nếu một quốc gia hoặc một giai cấp, một thế lực nào đó tự coi mình là đại diện cho nhân
mặt với những thách thức về độc lập chủ quyền mà nếu không vượt qua chúng, hậu quả tiêu cực
cũng rất khó lường:
- Thách thức trước áp lực ngày càng tăng của bối cảnh quốc tế và trong tương quan so sánh
lực lượng trên thế giới.
- Thách thức trước âm mưu diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng toàn cầu hóa để tiến hành
"diễn tiến hòa bình" kết hợp với gây bạo loạn nhằm tấn công thẳng vào chế độ, xã hội ta.
- Thách thức suy giảm chủ quyền quốc gia về kinh tế, thách thức chính trị to lớn đối với Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Mất tự chủ về kinh tế dần dần mất tự chủ về chính trị.
3.2.1.3. Tác động của hội nhập với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia
Việt Nam khi hội nhập quốc tế, tham gia vào các thiết chế kinh tế chủ quyền quốc gia sẽ
được củng cố và khẳng định.
Thứ nhất, chủ quyền quốc gia sẽ được củng cố và bảo đảm hơn. Tham gia hội nhập khu vực và quốc
tế cho phép Việt Nam sử dụng những cơ sở pháp lý cần thiết như quy chế tối huệ quốc (MFN); đối xử
quốc gia (NT); cơ chế giải quyết tranh chấp để đấu tranh chống bị phân biệt đối xử, chèn ép trong
thương mại quốc tế.
Thứ hai, hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tranh thủ và khai thác những quy chế, điều kiện ưu
đãi mà phần lớn các thể chế quốc tế dành cho các nước đang phát triển.
Thứ ba, tham gia vào các tổ chức liên kết kinh tế tăng cường hiệu lực quản lý kinh tế của nhà
nước.
Thứ tư, tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà cụ thể là WTO, Việt Nam có được vị trí
và tiếng nói trong đàm phán đa phương có cơ hội tham gia bình đẳng vào quá trình hình thành
luật pháp quốc tế sao cho đảm bảo được quyền lợi của nước mình.
Việc tham gia các thiết chế kinh tế quốc tế nói trên đặt ra các nghĩa vụ mà Việt Nam phải
thực hiện, điều đó dẫn đến chủ quyền quốc gia có một số thay đổi trong các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập quốc tế việc hoạch định
chính sách kinh tế của Việt Nam luôn phải vận hành theo các nguyên tắc mới và cuối cùng là đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu của các thiết chế.
Thứ hai, thực hiện mục tiêu chung của các thể chế kinh tế, Việt Nam sẽ cam kết mở cửa thị
trường nội địa ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực kinh tế.
chúng vào các hoạt động chống lại chính quyền, làm mất ổn định chính trị.
Ba là, Trong hoàn cảnh hiện nay chỉ có sức mạnh quân sự không thôi thì chưa đủ để đảm
bảo vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như toàn vẹn lãnh thổ nên cần có một sức
mạnh tổng hợp hay sức mạnh tổng lực bao gồm cả sức mạnh về chính trị, sự phát triển về kinh
tế, sự ổn định về xã hội, thậm chí cả bản sắc văn hóa.
Bốn là, chúng ta chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế theo phương châm:
"Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu
vì hòa bình và độc lập phát triển".
Năm là, để sự hòa nhập có hiệu quả, người ta phải làm chủ được cả nghệ thuật thỏa hiệp nữa.
Chúng ta phải thông qua giao lưu quốc tế mà phát triển. Phải vượt qua cái nhỏ để có được cái
lớn, hy sinh bộ phận vì toàn cục, nhân nhượng cái trước mắt để được cái lâu dài.
3.2.3. Một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị
3.2.3.1. Giải pháp để các quốc gia nghiêm túc thực hiện nguyên tắc
Tác giả xin đóng góp một số đề xuất để các quốc gia trên thế giới thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia trong điều kiện hội nhập hiện nay được thực hiện một
cách nghiêm túc như sau:
Thứ nhất: Củng cố cơ sở pháp lý của nguyên tắc bằng việc thể chế hóa trong các văn bản
luật quốc tế và quốc gia.
Để nguyên tắc được thực hiện triệt để thì cần được ghi nhận trong các hiệp định song
phương và đa phương giữa các quốc gia và cần được thể chế hóa trong luật của các quốc gia.
Thứ hai: Các quốc gia tự nguyện thực hiện nguyên tắc
Cho dù đã có pháp luật, nhưng chỉ dựa vào bản thân pháp luật thì chưa đủ quan trọng hơn chính
là việc các quốc gia phải tự giác tuân thủ pháp luật, thực hiện nguyên tắc và có sự giám sát của
Liên hợp quốc, cần trao thêm quyền cho Liên hợp quốc và có sự đồng thuận nhất trí cao với các
quyết định của Hội đồng bảo an trong việc cưỡng chế một số quốc gia vi phạm nguyên tắc.
Thứ ba: Bảo đảm việc thực thi nguyên tắc trong những quan hệ cụ thể
Cần có chính sách đối nội, đối ngoại một cách hợp lý để không bị chèn áp khi tham gia các
quan hệ quốc tế. Thứ hai, trong đàm phán cần cử các chuyên gia đàm phán có trình độ, hiểu sâu
về lĩnh vực đó để không bị gài bẫy hay bị chèn ép trong quá trình đàm phán.
Thứ tư: Ngăn chặn việc vi phạm nguyên tắc bằng nhiều biện pháp khác.
đãi đó nữa.
- Có lộ trình hợp lý, khoa học cho việc hoàn thiện, điều chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp,
tránh những xáo trộn, biến động trong xã hội nói chung và hệ thống pháp luật nói riêng.
- Cần nghiên cứu, đánh giá những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam về mọi mặt
trong điều kiện thực tế của Việt Nam, có chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lý nhằm tận
dụng, phát huy tối đa lợi thế và khắc phục, hạn chế những thách thức đặt ra trong tiến trình hội
nhập.
- Tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước. Nhà nước ta cần phải tạo ra
môi trường thuận lợi về luật pháp và kinh tế để cho mọi tổ chức kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài,
- Tăng cường đối ngoại, đặc biệt hợp tác các nước khu vực, các nước đang phát triển, tận dụng
các diễn đàn để tạo dựng vị thế, đấu tranh hợp pháp bảo vệ quyền lợi của nhà nước, nâng cao vị
trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
* Giải pháp cụ thể
Thứ nhất: Phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
* Phát huy nội lực và ngoại lực: Kết hợp nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển, phải
có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người
dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, thu hút và sự dụng tốt nhất ngoại lực.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị, xã hội, coi đây là tiền đề để phát
triển nhanh và bền vững.
* Hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ: Hội nhập kinh tế quốc tế
là yêu cầu khách quan, phải chủ động, có lộ trình phù hợp với bước đi tích cực, vững chắc, không
được nóng vội, giản đơn. Cần tích cực mở rộng thị trường bên ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu, đồng
thời phải chủ động mở cửa thị trường trong nước, kể cả thị trường dịch vụ để thu hút mạnh vốn
đầu tư, công nghệ nâng cao hiệu quả sức mạnh của nền kinh tế.
Thứ hai: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nguồn nhân lực
* Xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật:Để thúc đẩy kinh tế phát triển, kiểm soát nền kinh
tế ở tầm vĩ mô nhà nước ta cần xây dựng bộ máy chính quyền năng động, thông minh và chất
lượng.
Nhà nước ta cần ban hành một hệ thống pháp luật đồng bộ, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực
trên mặt trận đối ngoại.
KẾT LUẬN
Tóm lại, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chủ quyền quốc gia là một vấn đề nóng, có rất
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề chủ quyền quốc gia trong thời kỳ hội nhập, trong đó có
quan điểm cho rằng hội nhập quốc tế có thể làm "xói mòn" chủ quyền quốc gia, chủ quyền quốc
gia "có thể bị thu hẹp, thay đổi" trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay.
Các quan điểm trên chỉ nhìn hội nhập ở khía cạnh tiêu cực, phiến diện mà chưa đánh giá hết
những tích cực của hội nhập. Chúng ta cần phải khẳng định rằng hội nhập quốc tế là tất yếu,
không thể đảo ngược và "góp phần để thực hiện chủ quyền quốc gia tốt hơn, hiệu quả hơn". Vì
nếu không tham gia vào hội nhập, quốc gia sẽ bị lệ thuộc vào các nước có tiềm lực kinh tế, chính
trị mạnh hơn. Ngược lại, nếu tham gia vào hội nhập, chủ quyền quốc gia được thực thi tốt hơn vì
các vấn đề như môi trường, nhân quyền, hiểm họa của thế giới được các nước cùng nhau "chung
tay" giải quyết.
Tuy nhiên, hội nhập không chỉ tạo ra cơ hội mà cũng mang đến nhiều thách thức cho các
quốc gia trong quá trình tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa. Vấn đề là ở chỗ quốc gia cần phải
có những điều chỉnh hợp lý để tận dụng được những lợi thế của hội nhập và giảm thiểu rủi ro.
Trong thời đại toàn cầu hóa với biên giới khai thông vai trò của nhà nước quan trọng hơn bao giờ
hết. Một bộ máy nhà nước năng động, hiệu quả với nền hành chính tinh gọn, hệ thống pháp luật
đồng bộ, hợp lý là một mô hình lý tưởng để phát triển đất nước trong thời đại toàn cầu hóa đảm
bảo hòa nhập nhưng không hòa tan, hội nhập nhưng vẫn bảo vệ giữ vững chủ quyền quốc gia.
Các siêu cường trên thế giới luôn mang trong mình tham vọng bá chủ, họ sử dụng đủ các
chiêu bài dưới các hình thức khác nhau kể cả dùng vũ lực để can thiệp kinh tế, chính trị thậm chí
xâm phạm chủ quyền lãnh thổ các quốc gia nhỏ hơn. Vấn đề các quốc gia làm thế nào để tham
gia vào tiến trình toàn cầu hóa mà vẫn giữ vững chủ quyền quốc gia. Do vậy, các quốc gia trên thế
giới cần hợp tác cùng nhau để lên án những hành vi vi phạm luật quốc tế, nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền quốc gia. Các quốc gia trên thế giới cần "luật hóa" nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
trong luật quốc gia và các điều ước quốc tế song phương và đa phương thì nguyên tắc sẽ được thực
thi hiệu quả. Ngoài ra, Liên hợp quốc cần có một cơ chế giám sát chặt chẽ vấn đề tôn trọng chủ
quyền quốc gia, có một chế tài đủ mạnh hợp lý để xử lý những quốc gia vi phạm nguyên tắc, nhưng
15. Nguyễn Tấn Dũng (2002), "Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng xã hội chủ
nghĩa", Báo Nhân dân, ngày 13/9.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 27/11 của Bộ Chính trị về
hội nhập kinh tế quốc tế năm, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Thanh Giang (1999), "Hội nhập và chủ quyền", nguyenthanhgiang.com, ngày 16/12.
21. Nguyễn Thanh Giang (2006), "Nhân quyền và chủ quyền ở Việt Nam", amazonaws.com,
ngày 20/5.
22. Nguyễn Hoàng Giáp - Mai Hoàng Anh, "Chủ quyền quốc gia - dân tộc trước xu thế toàn cầu
hóa kinh tế hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (3).
23. Xuân Hải (2006), "Quan điểm của Đảng ta về hội nhập quốc tế", dangcongsan.vn, ngày
06/7.
24. Lê Quang Hòa (2005), Thách thức về chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong quá trình toàn
cầu hóa ngày nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
25. Vũ Khoan (2001), "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa", Khoa học và Tổ quốc, (10).
26. Hồng Lam (1998), "Hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới", Tạp chí Cộng sản, (11).
27. Nguyễn Ngọc Lâm (2012), "Giải quyết tranh chấp về biển: nhìn từ thực tiễn một số vụ vi
phạm công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 trong vùng biển thuộc chủ quyền
Việt Nam" www.hcmulaw.edu.vn, ngày 26/3.
28. Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong (2004), "Giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong
quá trình giao lưu, hội nhập", luatminhkhue.vn, ngày 18/6.
29. Liên hợp quốc (1945), Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 24/10.
30. Liên hợp quốc (1948), Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế, ngày 10/12.
31. Liên hợp quốc (1960), Nghị quyết số 1415 ngày 14/12 của Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố
50. Ramses Amer (1997), "Các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam và sự ổn định
khu vực", Đông Nam Á hiện đại, tập 19, (1).
51. Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng Giáp (2010), Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn
cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
52. Dương Xuân Sơn (2007), "Toàn cầu hóa - những mặt tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng của nó
đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc" Hà nội tháng 7 năm 2007
53. Nguyễn Đức Thắng (2007), "Thực chất của luận thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền",
tapchicongsan.org.vn, ngày 13/9.
54. Duy Thao (2000), "Chủ quyền kinh tế của các nước đang phát triển trong toàn cầu hóa", Tạp
chí Cộng sản, (9), tr. 61- 64.
55. Nguyễn Viết Thảo (2011), "Đảm bảo mối quan hệ giữa độc lập và quyền tự chủ trong hội
nhập quốc tế", tapchiqptd.vn, ngày 22/8.
56. Đào Trí (2001), Những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý của quá trình hợp tác và hội
nhập quốc tế - khu vực của Việt Nam, Đề tài độc lập cấp nhà nước, Viện Nghiên cứu Nhà
nước và pháp luật, Hà Nội.
57. Phạm Quốc Trụ (2010), "Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm qua và
triển vọng những năm tới", Nghiên cứu quốc tế, 1(80).
58. Phạm Quốc Trụ (2011), "Đảm bảo mối quan hệ giữa độc lập và quyền tự chủ trong hội nhập
quốc tế", nghiencuubiendong.vn, ngày 31/8.
59. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
60. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
61. Từ điển ngoại giao (1985), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
62. Nguyễn Thị Hồng Vân (2005), "Về nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
trong quan hệ quốc tế", Khoa học pháp lý, (3).
63. Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (2001), Những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý
của quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế - khu vực của Việt Nam, Đề tài độc lập cấp nhà
nước, Hà Nội.
64. Vụ hợp tác kinh tế đa phương - Bộ Ngoại giao (2001), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu
thế toàn cầu hóa - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.