Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
MỤC LỤC
1
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, xăng dầu là một hàng hóa của thị trường, hình
thành và phát triển như thị trường các hàng hóa khác. Các quan hệ cung -
cầu và giá cả là yếu tố quyết định thị trường xăng dầu. Là một trong
những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và là năng lượng để phục vụ
dân sinh, quốc phòng và an ninh, xăng dầu có một vai trò đặc biệt do
được coi là một loại năng lượng quan trọng chưa thể thay thế được. Do
tính chất đặc biệt của hàng hóa xăng dầu, các quốc gia đều có chính
sách, qui hoạch, chiến lược về sản xuất tiêu thụ và dự trữ xăng dầu nhằm
ổn định sản xuất và tiêu thụ, chống lại các cơn sốt xăng dầu của thế giới.
Giá dầu tăng cao và diễn biến phức tạp của giá dầu trong những năm
gần đây đã trở thành tâm điểm nghiên cứu và thảo luận chính sách trên
phạm vi toàn cầu và của riêng rất nhiều quốc gia. Đó là hai lý do chính
dẫn đến việc chọn lựa của em viết về đề tài “ Quản lý giá của mặt hàng
xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Có ba vấn đề thường được đặt ra, một là nguyên nhân của biến động
giá dầu và dự báo giá dầu, cả trong so sánh với giá cả các nguyên nhiên
liệu khác. Hai là tác động của việc giá dầu tăng đối với nền kinh tế toàn
cầu, khu vực, từng quốc gia và riêng Việt Nam. Ba là đối sách thích hợp
của thế giới, khu vực, từng quốc gia trong đó có cả Việt Nam, nhất là việc
quản lý thị trường xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Bài viết này của em đề cập đến các vấn đề trên và đồng thời sử dụng
các kiến thức đã được các thầy cô giảng viên trong khoa Quản trị kinh
doanh cũng như các thầy cô giảng viên khác của trường cung cấp, trau
2
có thể tồn tại trong thị trường đó.
- Tối đa hóa lợi nhuận: có một số doanh nghiệp, tổ chức xác định
giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp mình.
4
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
- Dẫn đầu về thị phần: là xác định giá nhằm chiếm về cho doanh
nghiệp mình thị trường rộng lớn nhất có thể.
- Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm:
- Các mục tiêu khác như là:
+ Ngăn sự gia nhập vào thị trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh
nên xác định giá thấp
+ Vì sự trung thành của người ủng hộ của giới bán lại hoặc để
tránh sự can thiệp của chính phủ.
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc định giá
- Thị trường và nhu cầu: tỉ lệ cung cầu thị trường
- Cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có hay không, mạnh hay yếu…
- Các yếu tố khác: Tình hình kinh tế như lạm phát, tăng trưởng, suy
thoái, lãi xuất…
1.2 . Hoạt động quản lý giá
Hoạt động quản lý giá là hoạt động quản lý để nhằm ngăn chặn các
biến động của giá cả và các tác động liên quan đến sự biến động giá cả
của mặt hàng đó.
Hay xét về một khía cạnh thì là độc quyền tuyệt đối, thị trường chỉ có
một người bán. Đó có thể là một tổ chức Nhà nước, một tổ chức độc
quyền tư nhân có điều tiết hoặc tổ chức độc quyền tư nhân không có sự
5
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
điều tiết. Trong từng trường hợp sự hình thành giá cả diễn ra khác nhau.
các doanh nghiệp kinh doanh, tới tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, các vấn đề
liên quan tới ngành công nghiệp có mặt hàng cần phải quản lý ví dụ như
mặt hàng xăng dầu thì liên quan tới ngành công nghiệp khai thác, chế
biến hay nghiên cứu sản phẩm có thể thay thế xăng dầu vì đây là nguồn
tài nguyên có hạn.
Khi có sự quản lý đúng đắn từ Nhà nước, chúng ta có thể dự báo
được xu hướng biến động của thị trường giá cả cùng các tác nhân gây ra
và đưa ra các giải pháp xử lý nhanh nhất, mang lại hiệu quả nhất cho sự
thay đổi này. Và tất nhiên kèm theo đó là quản lý được những tác động
cả tiêu cực lẫn tích cực đến nền kinh tế thế giới nói chung và của Việt
Nam nói riêng.
Ngoài việc có thể bảo vệ nền kinh tế quốc dân, sự quản lý của Nhà
nước trong một số mặt hàng, lĩnh vực quan trọng cũng chính là sự bảo vệ
quyền lợi của người tiêu dùng, xét về góc độ vĩ mô, còn hơn cả sự thiệt
thòi mà độc quyền hay quản lý của Nhà nước mang lại.
7
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
8
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CỦA
MẶT HÀNG XĂNG DẦU TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Tình hình biến động giá xăng dầu trên thế giới
1.1.Diễn biến giá xăng dầu và nguyên nhân:
Nhìn lại thị trường dầu mỏ trong 4 thập niên qua, chúng ta dễ dàng
nhận thấy giá dầu có những diễn biến phức tạp. Trong suốt 10 năm từ
1960 đến 1970, giá dầu thô trên thị trường thế giới được duy trì ở mức
thấp, không thay đổi với giá 1,8 USD/ thùng. Khi cuộc khủng hoảng dầu
Mặt
hàng
Đơn vị
tính
BQ
(1995
-1999
)
BQ
(2000-
2004)
BQ
năm
2005
BQ 4
tháng
năm
2006
BQ
(2000-
2004)/
BQ
(1995-
1999)
%
BQ
2005/
bq
(2000-
2004)
Giá dầu đã tăng mạnh trong năm 2005, lên đến mức kỉ lục gần 70
USD/thùng vào tháng 8, trước khi giảm xuống còn hơn 60 USD/thùng
vào cuối năm. Quá trình này diễn ra tiếp theo đợt tăng giá dầu vào năm
10
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
2003, sau một thời gian dài giá dầu bình ổn mức hơn 20 USD/thùng.
Tính trung bình giá dầu danh nghĩa trong năm 2005 cao hơn gấp đôi so
với năm 2004 và gần gấp 3 so với năm 2002. Giá dầu thực cũng cao hơn
so với các năm 1974 và 1985, và xấp xỉ so với mức của năm 1980, năm
đỉnh điểm của khủng hoảng giá dầu. Theo nhiều đánh giá, giá dầu còn
tiếp tục có những biến động đáng kể và đứng ở mức cao do tác động của
các nhân tố ở cả phía cung và cầu.
Cung dầu mỏ năm 2005 sụt giảm do tác động của cơn bão Katrina và
Rita.Theo UNESCAP (2005), công suất khai thác dầu tới hạn lại thấp,
làm giảm khả năng phản ứng của tổng cung dầu mỏ khi giá dầu và cầu
dầu mỏ tăng mạnh. Trên thực tế, lượng dầu mỏ cung ứng ra thị trường đã
tăng đáng kể vào năm 2004, nhưng chững lại vào năm 2005. Cung dầu
mỏ cũng thiếu ổn định do bất ổn chính trị ở các nước xuất khẩu dầu.
Trong khi đó nhu cầu dầu mỏ liên tục tăng do kinh tế thế giới tiếp tục đà
tăng trưởng và có lẽ có nhiều ảnh hưởng đến giá dầu hơn (so với cung)
trong thời gian vừa qua. Tổng nhu cầu dầu mỏ trong năm 2004 đã tăng
đến 3,2% so với năm 2003.
Trong 3 quí đầu của năm 2005, nhu cầu dầu mỏ có tăng chậm lại
nhưng cũng ở mức 1,5% so với cùng kỳ năm 2004. Mỹ và các nước khác
thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đóng góp chủ yếu
vào cầu dầu mỏ. Những năm gần đây, Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi
lên là những nguồn tiêu thụ dầu rất lớn. Một nhân tố khác là số lượng
hành khách vận tải theo đường hàng không ăng đột biến, mặc dù giá vé
tăng, cũng làm tăng nhu cầu dầu. Hơn nữa, để đảm bảo an ninh năng
trị như khi nó nằm trong lòng đất. Điều này đòi hỏi các khoản thu từ dầu
thô nên được đầu tư theo hướng đảm bảo lợi xuất tối thiểu nhất định với
sự cân nhắc thích đáng về khả năng hấp thu của quốc gia nếu đầu tư
trong nước. Do đó tăng giá dầu hiện tại tương đối với giá kỳ vọng trong
tương lai dẫn tới việc khai thác nhanh hơn và có sự cân nhắc về tính hiệu
quả. Tất nhiên, trên thực tế, tốc độ khai thác còn tùy thuộc vào những
hiệp định toàn cầu và những hiệp định khu vực khác nhau cũng như năng
lực sản xuất.
Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, phản ứng của các nước nhập khẩu dầu trước
việc tăng giá dầu thô sẽ tùy thuộc vào việc giá tăng là tạm thời hay lâu
dài. Nếu giá tăng tạm thời, phản hồi chính sách ít gây ảnh hưởng đột
ngột nên được áp dụng để giá trên thị trường biến động nhẹ. Tuy nhiên,
nếu giá biến động lâu dài, phản hồi chính sách nên cho phép sự chuyển
tải hoàn toàn (của sự tăng giá dần) nhằm đưa tín hiệu sớm để thị trường
trong nước điều chỉnh theo sự thay đổi về giá tương đối giữa dầu và các
sản phẩm phi dầu.
Hai phản hồi chính sách khác cũng cần được áp dụng. Đầu tiên, chính
phủ nên cố gắng giảm chi phí điều chỉnh băng cách trợn giá cho các
nhóm đối tượng mục tiêu dễ bị tổn thương thay vì cho tất cả các đối
tượng. Thứ hai, để giảm thiểu việc những thay đổi tương đối về giá biến
chuyển thành vòng xoáy chi phí đẩy, các chính sách kinh tế vĩ mô cần
phải được thắt chặt.
13
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
Nếu chính phủ cho phép sự tăng giá dầu chuyển tải hoàn toàn đối với
nền kinh tế, thâm hụt cán cân vãng lai đối ngoại sẽ tăng lên. Tuy nhiên,
nếu chính phủ gánh chịu chi phí (tức là không có chuyển tải) thì nguồn
tài trợ các chi phí sẽ quyết định bản chất của sự tác động nên nền kinh tế.
Chẳng hạn, nếu nguồn tài trợ được thu từ việc tăng thuế thì tác động
các thời kỳ:
Nhất quán với các nguyên tắc trên, thị trường xăng dầu trong nước
được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của
mỗi thời kỳ, cơ chế quản lý của Nhà nước được điều chỉnh cho phù hợp
với tình hình cụ thể.
2.1.1. Giai đoạn trước năm 2000:
- Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cơ chế quản lý đối
với mặt hàng xăng dầu cũng từng bước chuyển đổi từ cơ chế phân
phối theo chỉ tiêu định mức sang cơ chế tự bảo đảm kinh doanh,
được chiết khấu bán hàng theo tỷ lệ phần trăm xác định trên doanh
thu.
- Từ năm 1993, Nhà nước áp dụng cơ chế “ giá trần” (giá bán lẻ),
doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tự quyết định giá nhập khẩu và
hưởng lãi gộp. Tùy theo những biến động của thị trường dầu thế
giới, Nhà nước điều chỉnh giá trần, hoặc điều chỉnh tăng – giảm
15
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
thuế nhập khẩu, hoặc bù lỗ cho doanh nghiệp kinh doang xăng dầu
để thực hiện mục tiêu điều tiết lợi ích giữa Nhà nước – người tiêu
dùng doanh nghiệp theo phương thức sau:
+ Ban vật giá chính phủ (nay là cục quản lý giá của cục bộ tài chính)
chủ trì cùng các bộ ngành có liên quan, xác định mặt bằng giá tối đa trên
cơ sở tương quan với giá các vật tư, nguyên liệu khác trên thị trường,
đảm bảo giá xăng dầu không tác động đột biến đến sản xuất và được
người tiêu dùng chấp nhận.
+ Tùy theo biến động, giá nhập khẩu xăng dầu, bộ tài chính cân đối
điều chỉnh tăng – giảm thuế nhập khẩu trên cơ sở định mức chi phí lưu
thông bình quân của ngành và xăng dầu và giá trần đã được xác định.
trong giai đoạn vừa qua. Cụ thể là:
+ Với cơ chế “ giá định hướng” (được xây dựng trên cơ sở giá nhập
khẩu dự báo cho một thời kỳ nhất định) và doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu được điều chỉnh giá bán trong phạm vi 10% đối với xăng và
5% đối với dầu nhằm tạo ra mặt bằng giá “ tiếp cận” với giá thế giới,
giảm dần sự bảo hộ của Nhà nước đối với người tiêu dùng. Doanh
nghiệp kinh doanh xăng dầu đủ bù đắp chi phí và có lãi hợp lý.
17
Nguyễn thị Lan Thương
QTKD tổng hợp 46A
+ Trong điều kiện thị trường xăng dầu thế giới có nhiều biến động bất
lợi cả về giá và nguồn, song các doanh nghiệp vẫn bảo đảm ổn định
được thị trường do được Nhà nước bảo đảm bằng cơ chế cấp bù.
+ Hệ thống phân phối xăng dầu được phát triển nhanh, mạnh và từng
bước được xác lập tương đối ổn định và có sự chuyển biến cả về nội
dung và phương thức kinh doanh. Người tiêu dùng và xã hội bắt đầu có
những nhận thức mới trước sự điều chỉnh giá của chính phủ.
2.1.3. Thực trạng và những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả tích cực của cơ chế quản lý Nhà nước trong
giai đoạn vừa qua trong điều hành thực tiễn và trước những biến động
của thị trường trong và ngoài nước, cơ chế hiện hành còn chứa đựng
những bất cập cần được xem xét và giải quyết bằng các phương pháp vĩ
mô trong giai đoạn tới, trong đó có thể xét đến:
Thứ nhất, với chính sách bảo hộ được duy trì quá dài, giá thường
được giữ ổn định trong một chu kỳ dài hoặc chỉ điều chỉnh theo một
chiều thông qua việc điều chỉnh thuế hoặc bù giá đã khiến người tiêu
dùng có tâm lý trông chờ, ỷ lại và thường có phản ứng khi Nhà nước
điều chỉnh giá tăng. Điều quan trọng hơn, một khi giá xăng dầu được bảo
hộ sẽ tạo giá thành có tính cạnh tranh ảo, lợi nhuận ảo, khiến các nhà sản
xuất ít quan tâm đến giải pháp tiết giảm chi phí hoặc cải tiến quản lý,