ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hoàng Tuấn Anh
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Quốc tế
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà nội - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Hoàng Tuấn Anh
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Quốc tế
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh và quản lý
Mã Số: 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trịnh Thị Hoa Mai
Hà nội - 2007
LỜI NÓI ĐẦU
1.
cửa thị trường tài chính trong nước sẽ dẫn đến quá trình tái cơ cấu lại hệ thống
1
Ngân hàng, phân chia lại thị trường giữa các Ngân hàng theo hướng cân bằng hơn,
thị phần của các NHTM Nhà nước có thể bị giảm, thị phần của các NHTM Cổ
phần và các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ tăng lên. Từ đó sẽ xuất hiện các
Ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên môn hóa (bán buôn, bán lẻ hoặc đa
năng) tùy theo vị thế cạnh tranh của mỗi Ngân hàng. Nâng NLCT và kỷ luật thị
trường trong hoạt động ngân hàng là điều kiện để hình thành những ngân hàng có
quy mô lớn, tài chính lành mạnh và kinh doanh có hiệu quả. Các ngân hàng kinh
doanh yếu kém sẽ bị đào thải hoặc phải vươn lên nếu muốn tồn tại. Do vậy, khả
năng cạnh tranh của ngân hàng sẽ được nâng cao bởi cơ hội liên kết, hợp tác với
các đối tác trong và ngoài nước trong việc chuyển giao công nghệ, phát triển sản
phẩm và khai thác thị trường.
Dưới sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, các
dịch vụ ngân hàng phát triển rất nhanh và có chất lượng hơn, đặc biệt là các dịch
vụ ngân hàng có hàm lượng công nghệ cao. Qua đó, uy tín và vị thế của NHTM sẽ
được nâng lên, ít nhất là ở thị trường khu vực và từ đó sẽ góp phần thúc đẩy sự
phát triển của khu vực tài chính, khơi thông dòng vốn, các NHTM trong nước có
khả năng huy động các nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế và sử dụng vốn
có hiệu quả hơn để giảm thiểu rủi ro và các chi phí cơ hội.
Theo lộ trình ra nhập WTO thì kể từ ngày 1/4/2007 Việt nam cho phép ngân
hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập và đi vào hoạt động tại thị trường Việt
Nam. Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
có năng lực tài chính mạnh, có kinh nghiệm quản lý rủi ro tốt và đặc biệt có quy
trình nghiệp vụ chuẩn mực tiên tiến và công nghệ hơn hẳn các Ngân hàng Thương
mại trong nước. Đó sẽ là một thách thức lớn đối với hệ thống NHTM Việt nam,
đặc biệt là hệ thống Ngân hàng TMCP.
Trong khi đó, các ngân hàng TMCP trong nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ (tính
-
Nguyễn Thị Hiền, Vụ chiến lược NHNN_ Trong bài tham luận đăng trên Tạp
chí Ngân hàng số 5 tháng 03 năm 2006: “ Một số giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của hệ thống NHTM cổ phần Việt Nam” đã khái quát quá trình
hoạt động của hệ thống NHTM cổ phần Việt nam trong thời gian qua, đánh
giá những tồn tại của hệ thống NHTM cổ phần Việt Nam và đưa ra một số
giải pháp nâng cao NLCT của các NHTM cổ phần.
-
Đặng Công Hoàn_Luận án Thạc sỹ “Nâng cao khả năng cạnh tranh của các
NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”_ Đại học Quốc
gia Hà nội, năm 2004. Công trình này đã phân tích thực trạng khả năng
cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp giải
pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3
-
Lê Đình Hạc_Luận án Tiến sỹ Kinh tế “ Giải pháp nâng cao NLCT của các
NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế “_ĐH Kinh tế Hồ
Chí Minh năm 2005. Công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu hoạt động
của NHTM trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế. Thực trạng năng lực cạnh tranh và giải pháp nâng cao NLCT của các
NHTM Việt Nam.
3.2
-
Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá những lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của các
NHTM trong cơ chế thị trường.
4
-
Phân tích, đánh giá thực trạng NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt
Nam.
-
Đề xuất một số giải pháp nâng cao NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1
Đối tượng nghiên cứu
Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến nâng
cao NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế.
trình bày nội dung lý luận và thực tiễn…
6.
Dự kiến đóng góp của luận văn
Dự kiến luận văn đưa ra những đóng góp chủ yếu sau:
-
Phân tích làm sáng tỏ và khẳng định những tác động tích cực của hệ thống
NHTM cổ phần trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
5
-
Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của Ngân hàng
TMCP Quốc Tế Việt Nam
-
Đề xuất các giải pháp khắc phục những điểm yếu, điểm hạn chế để nâng cao
NLCT của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam và đưa Ngân hàng TMCP
Quốc Tế Việt Nam vượt qua những thách thức tụt hậu khi Việt nam ra nhập
WTO.
7.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: NHTM là loại hình tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam: NHTM là một tổ chức mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, trên nguyên tắc hoàn trả, tiến
hành cho vay, chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán. Quan điểm này cho
thấy, hoạt động của các NHTM ở Việt Nam mới chỉ bao gồm các hoạt động
truyền thống, tương ứng với hoạt động của các Ngân hàng trên thế giới ở giai
đoạn thứ nhất từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 và Việt Nam vẫn là một nước thiếu các
dịch vụ ngân hàng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm
1997, NHTM được định nghĩa là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,
góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Như vậy, một cách chung nhất có thể thấy NHTM là một doanh nghiệp đặc
biệt hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng.
7
1.1.2
Các sản phẩm cung ứng của NHTM
Hiện nay ở nước ta , chưa có sự thống nhất về danh mục các chỉ tiêu về dịch
vụ ngân hàng và cũng chưa có công trình nghiên cứu điều tra thống kê về dịch vụ
ngân hàng. Theo một số tác giả, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía
cạnh: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng
8
tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng
phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho
bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy
chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng.
Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
-
Cung cấp các tài khoản giao dịch: Hoạt động này của ngân hàng cho phép
người gửi tiền mở một tài khoản tiền gửi giao dịch và viết séc thanh toán cho việc
mua bán hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được
xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi
vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch
kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
-
Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ
ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ và hưởng phí dịch vụ. Sự
trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và
thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố mà họ đến.
Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các Ngân
hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có độ rủi ro cao, đồng thời
yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
-
Chiết khấu thương phiếu: Ngay ở thời kỳ đầu các ngân hàng đã chiết khấu
phiếu Công ty.
-
Cung cấp các dịch vụ uỷ thác: Thực hiện hoạt động này tức là ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt đông tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp
thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị tài sản hay quy mô
vốn mà họ quản lý. Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ uỷ
thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh
nghiệp.
Thông qua Phòng uỷ thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các
khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho
đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là
người được uỷ thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng
cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả và đảm bảo
cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế. Trong phòng uỷ thác
thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền
lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại
10
lý cho các Công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi
hỏi phòng uỷ thác phải trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi
các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những người nắm
giữ chứng khoán.
-
Bảo lãnh: Các NHTM có thể phát hành chứng bảo lãnh, trong đó ngân hàng
cam kết với bên thứ ba về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng khi
tiền, và tìm hiểu các thông tin khác…Đối với NHTM, từ việc phát hành thẻ sẽ thu
hút được một khối lượng lớn tiền gửi giao dịch, từ đó sử dụng các nguồn vốn huy
11
động với chi phí rẻ này để cho vay. Ngay nay, có nhiều loại thẻ khác nhau và nó
được chia làm hai loại, thẻ nội địa và thẻ quốc tế.
Cho vay tiêu dùng: Trước đây hầu hết các ngân hàng không tích cực cho
vay đối với các cá nhân và hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản cho vay
tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ nhưng rủi ro lại rất cao nên mức sinh
lời thấp. Nhưng với sự cạnh tranh khốc liệt để dành giật thị trường thì buộc
các ngân hàng phải đa dạng hoá các sản phẩm cho vay, trong đó cho vay
tiêu dùng là một trong những sản phẩm tín dụng quan trọng và luôn tăng
trưởng ở mức cao và nhanh nhất. Đây sẽ là một xu thế tất yếu để phát triển
ngân hàng theo định hướng ngân hàng bán lẻ như hiện nay.
-
Tư vấn tài chính: Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài
chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế, thủ tục xuất nhập khẩu và các kế hoạch tài
chính cho các cá nhân đến tư vấn về các cơ hội kinh doanh trong và ngoài nước
cho các khách hàng kinh doanh của họ.
-
Phát hành chứng khoán nợ: Các ngân hàng có thể huy động vốn từ nền kinh
tế bằng việc phát hành các công cụ nợ trên thị trường tài chính như: Phát hành
chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu…Để cạnh tranh và tạo tiện ích cho khách
hàng trong việc chuyển đổi nhu cầu đầu tư, các ngân hàng phát hành các loại giấy
hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư vấn về các cơ hội thị trường trong nước và
ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.
-
Bán các dịch vụ bảo hiểm: Hiện nay các ngân hàng đưa các hợp đồng bảo
hiểm các nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ô tô, nhà
cửa, kho bãi hay hàng hoá trong tương lai thông qua liên doanh hoặc thoả thuận
hợp tác với các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước. Hoạt động này vừa đáp
ứng nhu cầu phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và thuận
tiện, từ đó nang cao sự thoả mãn của khách hàng đồng thời cũng mang lại nguồn
thu cho Ngân hàng từ các dịch vụ này.
-
Cung cấp các dịch vụ hưu trí: Phòng uỷ thác của ngân hàng rất năng động
trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao
động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế.
Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho cá nhân và giữ nguồn tiền
gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
-
Dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn: Những dịch vụ này bao
gồm các nghiệp vụ như: Tài trợ mua lại công ty, bán các chứng khoán cho khách
hàng, cung cấp các dịch vụ marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để
bảo vệ khách hàng. Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ
các khoản nợ do Chính phủ và các công ty phát hành để những khách hàng này có
thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay
khác.
vụ tài chính nói chung và các dịch vụ ngân hàng nói riêng thường có những đặc
điểm cơ bản sau:
Tính vô hình: Đây là một đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt sản phẩm dịch
vụ tài chính với các sản phẩm hàng hoá khác. Các sản phẩm dịch vụ tồn tại dưới
dạng trừu tượng và phức tạp như kinh nghiệm hay một quy trình. Bởi là vô hình
nên sản xuất và cung ứng dịch vụ diễn ra đồng thời nhưng không thể sản xuất ra
hàng loạt và lưu giữ trong kho để sau đó tiêu dùng. Người mua sản phẩm sản
phẩm dịch vụ tài chính thường không nhìn thấy hình thái vật chất cụ thể của loại
dịch vụ này. Từ đặc tính này làm cho người mua khó đánh giá chất lượng và khó
có thể so sánh với những loại hàng hoá khác trước khi mua, người mua chỉ có thể
cảm nhận tiện ích mà nó mang lại. Do vậy, để đưa sản phẩm dịch vụ ra ngoài công
chúng thì ngân hàng cần có một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có đủ năng lực
14
để chuyển tải tính trìu tượng và phức tạp(tiện ích) của sản phẩm dịch vụ ngân
hàng đến khách hàng.
Chu trình phân phối sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mang tính độc quyền
và trực tiếp. Khách hàng thường trực tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ ngân hàng từ
các NHTM mà không thông qua các chủ thể trung gian khác như các doanh
nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Không có quy chế bảo hộ độc quyền sản phẩm dịch vụ trong hoạt động
ngân hàng. Đây là điểm khác biệt lớn giữa kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác vì các NHTM được quyền tự do sao chép
sản phẩm dịch vụ của nhau mà không phải chi trả cho người phát hiện hoặc tạo ra
sản phẩm dịch vụ mới.
1.2
Chức năng của NHTM
mở của và phát triển, không chỉ các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, nhu cầu
vốn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: mua nhà trả góp, mua ô tô, du
học, kinh doanh…không ngừng tăng lên. Các khoản tín dụng tiêu dùng các nhân
có tác dụng điều hòa cuộc sống, nâng cao phúc lợi cũng sẽ là nhân tố thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vai trò trung gian
tài chính phục vụ cá nhân đã và đang có những bước phát triển không ngừng.
1.2.2
Cung cấp phương tiện thanh toán hiện đại và nhiều tiện ích:
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế buộc các hoạt động kinh tế phải tuân
theo quy chuẩn và thông lệ quốc tế, trong đó có vấn đề thánh toán không dùng tiền
mặt. Việc duy trì thói quen thanh toán bằng tiền mặt không chỉ gây ra sự lãng phí
nguồn lực mà còn là một trở ngại lớn cho sự thiết lập các quan hệ kinh doanh với
các đối tác nước ngoài.
Ngày nay, để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí các
ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhanh như: thanh
toán bằng séc, ủy nhiệm chi, thanh toán nhờ thu, quản lý tiền mặt và các loại
thẻ…Ngoài ra các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ cho nhau thông qua
Ngân hàng Trung ương hoặc Trung tâm thanh toán. Công nghệ ngân hàng càng
đạt hiệu quả cao khi khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng, nhiều
hình thức thanh toán được chuẩn hóa đã góp phần tạo ra tính thống nhất trong
thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong nước và còn giữa các ngân hàng
trên toàn thế giới.
Thông qua hệ thống thanh toán swift toàn cầu, các nghiệp vụ mở và thanh
toán L/C, T-T, nhờ thu,.. của các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài đều được thực hiện thông qua các NHTM. Như vậy, với vai trò trung
16
1.3.1
Khái niệm NLCT
Cạnh tranh nói chung là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị
trí hàng đầu trong lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ
khoa học, kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo sản phẩm mới, tạo năng suất và
hiệu quả cao nhất.
17
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản
phẩm bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính
trị, quân sự, tâm lí xã hội.
Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả
năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có
khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó là năng lực cạnh tranh hay sức
cạnh tranh.
NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh,
có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh
thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Để đánh giá năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp người ta dựa vào tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi
nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi
trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp, tỷ lệ
công nhân lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu, sáng tạo…
1.3.2
Tiêu chí đánh giá NLCT của các NHTM
NLCT của NHTM được hiểu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng tự
Chất lượng tài sản có: Chất lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ
tiêu: tỷ lệ nợ xấu/ tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các
khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hoá các danh mục tín dụng, Rủi ro tín
dụng tiềm ẩn,…
Mức sinh lời: Chỉ tiêu mức sinh lời có thể phân tích qua các chỉ tiêu như
giá trị tuyệt đối của mức lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu
lợi nhuận, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu(ROE) = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ
sở hữu; Hiệu quả sử dụng tài sản (ROA) = Thu nhập sau thuế/ Tổng tài sản có.
- Khả năng thanh khoản: Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán: Khả
năng thanh toán nhanh, Khả năng thanh toán hiện hành, Khả năng thanh toán tức
thời.
Hai là, năng lực về công nghệ: Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ ngày
càng đóng vai trò quan trọng như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế
cạnh tranh cho ngân hàng. Công nghệ ngân hàng bao gồm công nghệ mang tính
tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, hệ thống
máy rút tiền tự động,…; hệ thống thông tin quản lí SMS, hệ thống báo cáo rủi
ro,…; và khả năng mở rộng, thay đổi, nâng cấp công nghệ trong tương lai. Vì thế,
năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện đại
19
mà còn bao gồm cả khả năng mở(khả năng đổi mới, nâng cấp) của các công
nghệ…
Ba là, nguồn nhân lực: là yếu tố quan trọng hàng đầu và không thể thiếu của
các ngân hàng, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực thể hiện qua các chỉ tiêu:
trình độ đào tạo, tỉ lệ nhân viên công nhân lành nghề, tỷ lệ các chuyên viên(
Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên) động cơ phấn đấu, mức độ
cam kết gắn bó với ngân hàng. Sản phẩm của ngân hàng là cung ứng dịch vụ nên
trình độ và kinh nghiệm của nguồn nhân lực là rất quan trọng. Vì vậy, nếu một
ngân hàng có tốc độ luân chuyển nhân viên cao sẽ không phải là một ngân hàng có
sản phẩm này không phù hợp với nhu cầu thị trường và ngân hàng cũng không đủ
nguồn lực để triển khai thực hiện thì sẽ không mang lại hiệu quả cho ngân hàng.
Sáu là, Khả năng hợp tác với các đối tác chiến lược
Sự hợp tác giữa các định chế tài chính là xu hướng tất yếu . Chính vì thế mà
các NHTM phải chú trọng phát triển đa liên kết với các tổng công ty lớn, có quy
mô hoạt động rộng để cùng nhau hỗ trợ về kinh nghiệm quản lý, hỗ trợ nhau về
nguồn
Bên canh đó các NHTM trong nước cũng cần hợp tác với các đối tác chiến
lược là các tập đoàn tài chính, các ngân hàng nước ngoài có năng lực tài chính
mạnh, có kinh nghiệm quản lý rủi ro tốt và đặc biệt có quy trình nghiệp vụ chuẩn
mực tiên tiến, công nghệ hiện đại, đặc biệt là các đối tác chiến lược có bề dày
kinh nghiệm về ngân hàng bán lẻ.
1.3.3
Các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của các NHTM
1.3.3.1 Đối thủ cạnh tranh:
Đối thủ cạnh tranh là những đối thủ đang cùng tham gia cung ứng các dịch
vụ tài chính như những dịch vụ mà các NHTM đang cung ứng. Ở Việt Nam hiện
nay các đối thủ cạnh tranh của NHTM là: Các công ty chứng khoán, các quỹ đầu
tư, các công ty tài chính, Công ty bảo hiểm, các quỹ tín dụng, tiết kiệm bưu điện
và các ngân hàng nước ngoài. Tìm hiểu đối thủ cạnh tranh cần chú ý đến: Chiến
lược cạnh tranh hiện tại của, mục tiêu tương lai của đối thủ cạnh tranh, điểm mạnh
điểm yếu của đối thủ…
Đối thủ cạnh tranh trong tương lai là những đối thủ có khả năng và có thể sẽ
cùng kinh doanh những dịch vụ tài chính với các NHTM trong tương lai. Đối thủ
cạnh tranh càng nhiều thì mức độ cạnh tranh trong ngành càng gay gắt và khốc
21
22
ngân hàng. Từ đó, sẽ trực tiếp tác động đến chiến lược kinh doanh của một ngân
hàng.
Những đặc điểm văn hóa có ảnh hưởng tới nguồn lực trong lĩnh vực ngân
hàng, có thể kể đến như: quan điểm về doanh nhân, quan điểm về sự giầu có, quan
điểm về thăng tiến, quan điểm về đạo đức nghề nghiệp, quan điểm về học tập và
đào tạo…Nếu một đất nước mà người dân coi trọng những giá trị trên thì thì
ngành ngân hàng sẽ có cơ hội để tuyển chọn được nguồn nhân lực có nhiều phẩm
chất phù hợp với sự phát triển của mình.
1.3.3.4 Trình độ phát triển của các ngành liên quan và phụ trợ
Ngân hàng là ngành liên quan đến hầu hết tất cả các ngành trong nền kinh tế
quốc dân. Các ngành có quan hệ mật thiết phải kể đến đó là các công ty tài chính,
công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm, các quỹ tín dụng nhân dân…và các
ngành cung cấp cho ngân hàng là bưu chính viễn thông cung cấp các thiết bị thông
tin liên lạc, truyền tải dữ liệu, ngành công nghệ thông tin cung cấp các trang thiết
bị máy móc hiện đại cho ngành ngân hàng…
Trình độ phát triển của các ngành trên có tác động trực tiếp đến sự phát
triển của ngành ngân hàng. Thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán phát triển
tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực ngân hàng phát triển, ngành bưu chính viễn
thông phát triển tạo điều kiện giảm thiểu chi phí giao dịch, ngành công nghệ thông
tin giúp cho ngân hàng ứng dụng các công nghệ hiện đại tạo ra sự đa dạng các
danh mục sản phẩm dịch vụ cung ứng, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng.
1.3.3.5 Môi trường pháp lý:
Vai trò của Chính phủ: Vai trò của Chính phủ là một yếu tố mang chất xúc
tác rất quan trọng đối với sự phát triển của bất cứ ngành nào ở một nước. Đối với
lĩnh vực ngân hàng , chính phủ lại càng đóng vai trò quan trọng.
Chính phủ tác động đến sự phát triển của các ngân hàng trước hết với vai
trò quản lý và giám sát của toàn hệ thống thông qua vai trò của Ngân hàng Trung