ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Nguyễn Anh Tuấn
Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà nội - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Nguyễn Anh Tuấn
Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế
Luận văn Thạc sĩ
Mã Số: 60 31 01
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Văn Đính
Hà nội - 2006
7
trường du lịch thế giới còn thấp. Kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
8
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác thị trường, xúc tiến du lịch chưa được
đẩy mạnh. Sản phẩm du lịch chưa đa dạng và chất lượng còn thấp. Ứng dụng khoa
học công nghệ trong quản lý và kinh doanh du lịch còn yếu. Nguồn nhân lực du lịch
còn hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ năng đón tiếp khách du lịch. Do đó,
lượng khách quốc tế vào Việt Nam thời gian qua chưa nhiều, chưa tương xứng với
tiềm năng to lớn của đất nước.
Xu thế toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang gia tăng
áp lực cạnh tranh đối với ngành Du lịch Việt Nam. Bên cạnh thuận lợi và cơ hội
phát triển, Du lịch Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với những thách thức to
lớn, đó là tình trạng cạnh tranh quyết liệt trên thị trường du lịch thế giới để thu
hút khách quốc tế. Để đứng vững trong cạnh tranh, Du lịch Việt Nam phải tăng
cường vị thế và năng lực cạnh tranh, đặc biệt là với các nước trong khu vực để
thu hút khách quốc tế. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Du lịch
trở thành yêu cầu cấp thiết, quyết định sự phát triển của Du lịch Việt Nam trong tiến
trình hội nhập quốc tế.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, ở Việt Nam, có rất ít công trình khoa học nghiên cứu, phân tích
và đánh giá về năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam. Trong dự án
VIE/89-003 về Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam do Tổ chức Du lịch
thế giới, UNDP và Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch phối hợp xây dựng (năm
1991) có một phần nhỏ phân tích về khả năng cạnh tranh của Du lịch Việt Nam
nhưng đã lạc hậu so với sự phát triển du lịch hiện nay. Năm 2003, Luận án tiến sĩ
kinh tế của tác giả Phạm Hồng Chương có đề cập vài nét tới khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội. Trên Tạp chí Du lịch năm 2005 cũng chỉ
có một số bài viết về sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Hà Nội. Năm 2005,
lực cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.
2. Phạm vi nghiên cứu:
2.1. Phạm vi không gian:
- Luận văn giới hạn nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành Du
lịch Việt Nam trong việc thu hút khách du lịch quốc tế so với một số đối thủ cạnh
tranh trong khu vực, chủ yếu là với Thái Lan, Malaysia và Singapore;
- Luận văn sử dụng kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh ngành Du lịch toàn
cầu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới để đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành Du lịch Việt Nam, không đi sâu phân tích yếu tố cấu thành và cách tính ra
các chỉ số năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch; Chỉ tập trung nghiên cứu kinh
10
nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch của 3 nước là Thái Lan, Malaysia và
Tây Ban Nha;
2.2. Phạm vi thời gian: Khoảng thời gian được nghiên cứu để phân tích, đánh giá
thực trạng năng lực cạnh tranh của Du lịch Việt Nam là từ 1993 đến nay, chủ yếu từ
năm 2000 đến nay. Thời gian để thực hiện các giải pháp là giai đoạn 2006-2010 và
một số giải pháp có thể kéo dài thêm sang một vài năm tiếp theo, phù hợp với Chiến
lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và định hướng tới năm 2020.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
1. Phương pháp lịch sử và lô gic;
2. Phương pháp phân tích và tổng hợp;
3. Phương pháp thống kê;
4. Phương pháp so sánh.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Khái quát, hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực
1.1.1. Một số quan niệm và quan điểm cơ bản về cạnh tranh:
Trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hoá và
sự phát triển của kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện. Hoạt động cạnh tranh gắn
liền với tác động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung
cầu,… Cùng với quá trình hình thành và biến động của kinh tế thị trường, cạnh
tranh trở thành chủ đề lý luận lớn được nhiều học giả kinh tế quan tâm đến. Tuy
nhiên, do cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau của mỗi trường phái kinh
tế nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh.
Các học giả thuộc trường phái Tư sản cổ điển cho rằng: “Cạnh tranh là một
quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên
trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên
một phần xứng đáng so với khả năng của mình”{19, tr3}. Theo Adam Smith, cạnh
tranh có thể phối hợp các hoạt động kinh tế một cách nhịp nhàng và có lợi cho xã
hội. Vì cạnh tranh, trong quá trình của cải của quốc gia tăng lên, chủ yếu diễn ra
thông qua thị trường và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trường.
Theo A.Smith, tự do thôi thúc cá nhân thực hiện các công việc một cách tốt nhất và
năng suất hơn. Từ đó, cạnh tranh có thể khơi dậy nỗ lực của con người và làm cho
của cải của quốc gia tăng lên. Ông chỉ ra rằng, trong điều kiện cạnh tranh, do có
nhiều người tham gia nên chẳng những họ phải thường xuyên theo dõi, chú ý tới sự
biến động của thị trường mà còn phải chú ý tới biến động cung cầu và áp lực cạnh
12
tranh. Bằng tài phán đoán, họ khôn khéo điều chỉnh sản lượng cho thích ứng với
tình hình thay đổi cung cầu và áp lực cạnh tranh. Như vậy, cạnh tranh có thể cân
bằng cung cầu xã hội. Cạnh tranh còn có tác dụng nâng cao năng lực lao động, điều
tiết, phân phối các yếu tố tư bản một cách hợp lý. Mục tiêu của nhà tư bản là theo
đuổi lợi nhuận, cạnh tranh đã làm cho tư bản chảy vào ngành có lợi nhuận cao nhất.
Theo Mác, sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh trước hết dựa vào hai điều kiện
làm thay đổi phương thức cạnh tranh. Có nhiều phương thức cạnh tranh cùng tồn
tại như cạnh tranh giá cả, chất lượng, công nghệ mới, nguồn cung ứng mới,
phương thức tổ chức và quản lý mới. Sự ra đời của tổ chức độc quyền không có
nghĩa là cạnh tranh suy yếu mà làm cho cạnh tranh chuyển sang trạng thái động, đi
vào chiều sâu.
Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, quan điểm cạnh tranh đã thay
đổi. Sự thay đổi đó dựa trên ba tiền đề cơ bản là : Thứ nhất, thế giới đã chuyển từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, và toàn cầu hoá kinh tế thì cần
phải tìm hiểu các quy định và luật chơi về cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức;
Thứ hai, xét từ góc nhìn thương mại quốc tế, cạnh tranh dựa vào lợi thế so sánh
trước đây đã chuyển sang cạnh tranh dựa vào quy chế; Thứ ba, Tính tất yếu của
hợp tác kinh tế để đổi mới quan điểm từ cạnh tranh đối kháng chuyển sang cạnh
tranh có tính hợp tác.
Quan điểm cạnh tranh có thể nâng cao năng suất và làm cho xã hội được lợi
ăn sâu vào toàn bộ lý luận phương Tây. Cạnh tranh được coi là động lực làm giảm
giá thành, cải tiến chất lượng và tạo sản phẩm mới. Trong nền kinh tế tri thức, tầm
quan trọng của cạnh tranh không thay đổi nhưng so với nền kinh tế công nghiệp,
quan niệm về cạnh tranh đã thay đổi. Trong nền kinh tế tri thức, cạnh tranh không
đơn giản là thay đổi hàm số sản xuất và mở rộng thị phần mà là mở rộng không gian
sinh tồn, tư bản hoá giá trị thời gian của cá nhân người tiêu dùng trong không gian
thị trường mới. Không gian này lấy tăng trưởng bền vững, chuyên môn hoá ở trình
độ cao và sáng tạo ra hệ thống sinh thái làm mục tiêu phát triển.
Như chúng ta biết, lý luận thương mại truyền thống chủ yếu sử dụng lợi thế
so sánh để giải thích sự hình thành và phát triển thương mại quốc tế. Điều đó là phù
hợp, bởi vì gia nhập thị trường thuận lợi, Chính phủ can thiệp tương đối mềm mỏng.
Nhưng trong nền kinh tế toàn cầu hoá, gia nhập thị trường khó khăn, đối thủ cạnh
tranh tăng lên và mức độ cạnh tranh gay gắt, không chỉ dựa vào lợi thế lao động
rẻ, tài nguyên nhiều để cạnh tranh mà còn dựa vào mức độ can thiệp của Chính
phủ mỗi nước và cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế chuyển từ lợi thế so sánh
trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh
tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với
người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi {10, tr.9}.
15
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành
giật người tiêu dùng. Cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp thực hiện tốt nhất
việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ chất lượng cao với giá cả rẻ nhất. Cạnh tranh
khuyến khích hoạt động doanh nhân và gia nhập thị trường của các doanh nghiệp
mới qua thoả mãn doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và trừng phạt doanh nghiệp làm ăn
kém hiệu quả. Trong điều kiện thị trường lý tưởng, các doanh nghiệp phản ứng linh
hoạt và nhanh nhạy đối với thay đổi nhu cầu thị trường và sự gia nhập thường xuyên
của các doanh nghiệp mới. Sự gia nhập của doanh nghiệp mới cung cấp tác nhân kích
thích cần thiết cho việc điều chỉnh và tốc độ họ thực hiện là thước đo hiệu quả năng
lực cạnh tranh của họ. Vì vậy, cạnh tranh là một nhân tố chính của năng lực cạnh
tranh.
Tuy nhiên, trên hầu hết các thị trường, các điều kiện thị trường hiếm khi đạt
tới điều kiện lý tưởng như trong lý thuyết kinh tế. Trên thực tế, nhiều rào cản tồn tại
ngăn cản các thị trường cạnh tranh thực sự, vì thế cản trở các doanh nghiệp điều
chỉnh đối với sự thay đổi của điều kiện thị trường và ngăn ngừa việc thành lập các
doanh nghiệp mới. Những rào cản như vậy có thể bắt nguồn từ tính không đối xứng
của thông tin giữa các doanh nghiệp cạnh tranh liên quan tới thị trường và công
nghệ, quy định, quy mô kinh tế và sử dụng thủ đoạn chống cạnh tranh của các
doanh nghiệp đã gia nhập thị trường rồi nhằm mở rộng kiểm soát của họ đối với các
doanh nghiệp khác hoặc chấm dứt gia nhập thị trường của các doanh nghiệp khác.
Theo nghĩa rộng nhất, cạnh tranh có nghĩa là “tồn tại vì thích ứng nhất” và
vì thế, có thể hiểu rằng cạnh tranh thủ tiêu cạnh tranh. Trong điều kiện cạnh tranh
gia tăng và theo đuổi lợi nhuận lớn hơn, những doanh nghiệp tham gia thị trường
tường tận về các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện đó không có doanh
nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của mình trên thị
trường; Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các
ngành sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của
mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và
cạnh tranh độc quyền.
Thứ tư, xét theo công đoạn của sản xuất - kinh doanh, cạnh tranh có ba loại:
cạnh tranh trước bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh tranh sau
bán hàng. Cuộc cạnh tranh này được thực hiện bằng phương thức thanh toán và
dịch vụ.
Thứ năm, xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh: Trong cạnh tranh,
các chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn, để đạt
được mục tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh tranh hợp pháp hay cạnh
17
tranh lành mạnh. Ngược lại, có những thủ đoạn phi pháp, nhằm tiêu diệt đối phương
chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của mình, gọi là cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ sáu, xét theo phạm vi lãnh thổ: cạnh tranh gồm cạnh tranh trong nước và
cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay thị trường nội địa, đó là
cạnh tranh giữa hàng hoá sản xuất trong nước với hàng ngoại nhập.
Ngoài ra, cạnh tranh còn được phân loại dựa trên tiêu chí khác như điều
kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực, đặc điểm tập quán sản xuất, tiêu dùng,
văn hoá,... ở từng dân tộc, khu vực, quốc gia khác nhau.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh:
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn chưa có một
khái niệm rõ ràng cũng như cách thức đo lường năng lực cạnh tranh.
Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng giành
được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng
mức độ theo đó một quốc gia có thể, trong điều kiện thị trường tự do và bình đẳng,
sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng những thử nghiệm của thị trường quốc tế
trong khi duy trì và mở rộng một cách tương ứng thu nhập thực tế của người dân
nước đó trong dài hạn {52, tr. 371}.
Mặt khác, theo quan điểm vi mô, hành vi cụ thể của doanh nghiệp quyết định
năng lực cạnh tranh. Hệ thống phân tích cạnh tranh của M.Porter (Porter, 1980)
nhấn mạnh sự hấp dẫn ngành và tính chất của nó, như khả năng nâng cao sức mạnh
của hãng đối với người mua và người cung cấp, ngăn cản hãng mới gia nhập ngành
và loại bỏ đối thủ cạnh tranh, như là những yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh và
khả năng lợi nhuận trong dài hạn{52, tr372}.
Dựa trên cả quan điểm vi mô và vĩ mô cho thấy, các doanh nghiệp và các
quốc gia đối mặt với những thách thức và ưu tiên rất khác nhau vì họ chuyển từ nền
kinh tế dựa trên tài nguyên sang nền kinh tế tri thức. Vì vậy, nhân tố chính đóng góp
đối với năng lực cạnh tranh toàn cầu, và nhờ đó nâng cao mức sống, sẽ khác với các
nền kinh tế ở mức độ phát triển khác nhau (Porter et al., 2001) {52, tr.372}.
Không xét đến những định nghĩa cụ thể trên, khái niệm năng lực cạnh tranh
xuất hiện là trung tâm đối với phát triển con người, tăng trưởng và nâng cao chất
lượng cuộc sống. Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là tạo ra
những lựa chọn tăng trưởng mới, mang lại giá trị cho các cổ đông. Đối với xã hội,
nâng cao năng lực cạnh tranh là tạo ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn
(Diễn đàn kinh tế thế giới, 2001) {52, tr.372}. Tạo ra sự giàu có là động cơ của
tăng trưởng kinh tế và động lực chính của đổi mới. Mục tiêu căn bản của năng
lực cạnh tranh là duy trì và tăng thu nhập thực tế của công dân, phản ánh mức
sống tăng lên của đất nước.
19
Toàn cầu hoá và tự do hoá, diễn ra nhờ những tiến bộ công nghệ nhanh
chóng, đang tạo ra sự năng động cạnh tranh mới và làm cho những yếu tố quyết
20
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ: năng lực cạnh
tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp ngành, năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm hàng hoá.
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên có mối tương quan mật thiết
và phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá và đề ra giải pháp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, của ngành Du lịch nói riêng cần
thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ cạnh tranh nêu trên.
Một mặt, toàn bộ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp của một nước
tạo thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm
doanh nghiệp đó đều thấp. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia thể hiện qua môi
trường kinh doanh, cạnh tranh quốc tế và trong nước. Trong đó, các cam kết về hợp
tác kinh tế quốc tế, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp có ảnh hưởng
rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và của sản phẩm hàng
hoá trong quốc gia đó. Vì vậy, cần đề cập tới năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
và của sản phẩm trước khi đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Còn
năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của năng lực cạnh
tranh quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.4.1. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Tại Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)
năm 1997, trong bản Báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể đã định nghĩa: “năng lực
cạnh tranh cấp quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và
duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối
và đặc trưng kinh tế khác” {20, tr.9}.
Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng
môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả nguồn lực, để đạt
và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý
Cần phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá và năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Đây là hai phạm trù khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ
với nhau. Năng lực cạnh tranh của hàng hoá có được do năng lực cạnh tranh của
chủ thể (doanh nghiệp) tạo ra; nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không
chỉ do năng lực cạnh tranh của hàng hoá mà có, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nữa. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá có ảnh hưởng lớn
và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG NGÀNH DU LỊCH
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh trong ngành Du lịch:
Để thành công trên thị trường quốc tế, bất kỳ điểm đến du lịch nào cũng
phải đảm bảo rằng tài nguyên du lịch hấp dẫn và toàn bộ sản phẩm, dịch vụ cung
cấp cho khách du lịch phải ngang bằng hoặc vượt hơn nhiều điểm đến thay thế
khác.
22
Trong ngành Du lịch, đánh giá năng lực cạnh tranh ngày càng thu hút sự
quan tâm đáng kể vì nó được coi như nhân tố quyết định thành công của các điểm
đến du lịch. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức tạp bởi vì hàng
loạt yếu tố tính toán ra nó, cả quan sát được lẫn không quan sát được, có thể khó
khăn để đánh giá. Nó là một khái niệm tương đối và đánh giá nó sẽ khác nhau, phụ
thuộc vào sự lựa chọn năm cơ sở và/hoặc nước cơ sở. Điều quan trọng nhất cần lưu
ý là năng lực cạnh tranh là khái niệm đa chiều (có nghĩa là chất lượng của năng lực
cạnh tranh). Hơn nữa, sự phức tạp hơn của năng lực cạnh tranh tăng lên vì đối
tượng phân tích và khả năng của nhà phân tích “các nhà chính trị quan tâm tới
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (quốc gia, khu vực và địa phương), các ngành
hoặc hiệp hội thương mại giới hạn lợi ích đối với ngành của họ, các chủ kinh doanh
và các nhà quản lý lo lắng về khả năng của chính các hãng của họ để cạnh tranh
Nguồn lực
Nguồn lực
thừa hưởng
sáng tạo
Nhân tố và nguồn lực hỗ trợ
Điều kiện thực tế
Quản lý
Điều kiện
điểm đến
cầu
Năng lực cạnh
Triển vọng
tranh điểm đến
kinh tế xã hội
Chỉ số năng
lực cạnh tranh
hạng lưu trú và mức khoảng cách từ thị trường nguồn tới điểm đến. Thực tiễn chỉ ra
rằng, mức giá là chỉ số năng lực cạnh tranh mạnh nhất giữa điểm đến gần và điểm
đến xa vì chi phí ở điểm đến xa cao hơn điểm đến gần.
1.2.2.2. Giá cả và chi phí: Co giãn giá của cầu du lịch thường cao. Vì vậy, bất kỳ sự
thay đổi phần trăm nào trong giá, trực tiếp khuyến khích hoặc không khuyến khích
đi du lịch tới một nơi nhất định. Lãnh đạo chi phí là một trong hai mục tiêu chủ
yếu để đạt được năng lực cạnh tranh (Porter , 1985){53, tr.7}. Giá cả tương đối của
một điểm đến so với điểm đến khác có ảnh hưởng tới động cơ đi du lịch. Tuy
nhiên, giá cả trở thành nhân tố ít ý nghĩa hơn trong quyết định đi du lịch vì co
giãn cầu du lịch giảm. Thay vào đó, chất lượng là yếu tố quyết định sự lựa chọn
của hầu hết khách du lịch. Vì thế, chất lượng sản phẩm là mục tiêu chính để tăng
cường năng lực cạnh tranh.
1.2.2.3. Sử dụng công nghệ thông tin: Năng lực cạnh tranh tương lai của các điểm
đến du lịch sẽ phụ thuộc lớn vào việc công nghệ viễn thông mới được ứng dụng như
thế nào và mức độ điểm đến tiếp cận tới cơ hội marketing và xúc tiến qua các công
nghệ đó. Mặc dù lợi ích của internet là rất lớn, các tổ chức du lịch nhỏ có thể không
sử dụng internet. Vì vậy, các tổ chức lớn có thể duy trì sự lãnh đạo của họ bởi lợi
thế của các hoạt động marketing trên internet.
1.2.2.4. An toàn, an ninh và rủi ro: Hình ảnh là nhân tố then chốt khi lựa chọn
điểm đến cho kỳ nghỉ của khách du lịch. Làm cho khách du lịch cảm thấy an toàn
và an ninh trước và trong kỳ nghỉ là cần thiết đối với năng lực cạnh tranh quốc tế
của điểm đến. Hình ảnh tiêu cực do thiếu an ninh có thể gây nguy hiểm cho ngành Du
lịch bởi vì thông tin truyền miệng tiêu cực về hình ảnh đó không thể tránh được ngay
cả khi điểm đến có sức hấp dẫn du lịch chất lượng cao. Những người cảm nhận rủi ro
25
của điểm đến nhất định bỏ qua trong kế hoạch du lịch tương lai của họ. Bất ổn chính
trị và xã hội trong nước cũng cần được xem xét trong rủi ro tại điểm đến du lịch.
26
quan tâm, Chính phủ khuyến khích mạnh mẽ phát triển ngành Du lịch để thu hút
nhiều khách du lịch hơn.
1.2.3. Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch:
Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới đã đưa ra 8 chỉ số để đánh giá năng lực
cạnh tranh trong ngành Du lịch dưới đây:
1.2.3.1. Chỉ số năng lực cạnh tranh giá: Năng lực cạnh tranh giá là giá của các
hàng hoá chủ yếu do khách du lịch tiêu thụ như lưu trú, đi lại, thuê xe, giải
trí,…Tuy nhiên, nhiều nước không có số liệu nên thành phần giá chỉ bao gồm giá
khách sạn và sức mua tương đương (PPP). Chỉ số giá khách sạn thể hiện mức trung
bình của giá phòng tối thiểu từ các hạng khách sạn khác nhau theo đô la Mỹ hiện
hành. Giá khách sạn cũng được điều chỉnh theo chất lượng, sử dụng giá của chuỗi
khách sạn lớn trên toàn cầu như Hilton, Sheraton, Radisson và Novotel. Chỉ số PPP
là chỉ số được điều chỉnh theo ảnh hưởng tỷ giá mà PPP hoàn toàn phản ánh sự khác
nhau về giá, không phải là tỷ giá. Chỉ số PPP chỉ ra số đô la Mỹ cần thiết để mua
khối lượng hàng hoá dịch vụ tương ứng trong thị trường nội địa. Sự kết hợp giữa chỉ
số giá khách sạn và chỉ số PPP cho thấy chỉ số giá phản ánh giá khách du lịch
mong muốn thanh toán tại điểm đến.
1.2.3.2. Chỉ số phát triển kết cấu hạ tầng: là chỉ số chỉ năng lực cạnh tranh trong
phát triển kết cấu hạ tầng, bao gồm phát triển đường xá, cải thiện phương tiện vệ
sinh và nước uống. Đối với mục đích liên quan đến du lịch, phát triển kết cấu hạ
tầng còn bao gồm mạng lưới đường sắt, số lượng và chất lượng sân bay và hệ thống
viễn thông. Tuy nhiên, dữ liệu về các chỉ tiêu này khó khăn để có được.
1.2.3.3. Chỉ số môi trường: là chỉ số có được chất lượng môi trường vật chất và mở
rộng tới mức độ một nước nhận thức và tham gia vào quản lý môi trường. Chỉ tiêu
này kết hợp chỉ số mật độ dân số, chỉ số toả khí CO2 (sự toả khí CO2 từ đốt than,
sản xuất xi măng và tiêu thụ nhiên liệu rắn, lỏng, khí và phụt khí ga).
ngoài. Nó cho thấy liệu một nước có hay không yêu cầu visa đối với khách du lịch.
Mở cửa du lịch đánh giá mức độ một nước mở cửa đối với kinh doanh quốc tế như
đã đề cập trên và thuế về thương mại quốc tế chỉ ra mức độ bảo hộ của một nước
đối với thương mại quốc tế, được xác định như tỷ lệ của tổng thuế về thương mại
quốc tế đối với tổng doanh thu hiện hành. Thuế bao gồm nghĩa vụ nhập khẩu, nghĩa
vụ xuất khẩu, lợi nhuận của xuất khẩu và độc quyền nhập khẩu, trao đổi lợi nhuận
và trao đổi thuế.
1.2.3.7. Chỉ số du lịch nhân văn (HTI): Chỉ số này đánh giá thành tựu phát triển
con người theo nghĩa du lịch. Đó là chỉ số mới và phù hợp với chỉ số phát triển con
người do UNDP xây dựng để đánh giá thành tựu về con người trên một loạt khía
28
cạnh phát triển con người. HTI được tính như trung bình đơn của chỉ số ảnh hưởng
du lịch (TII) và chỉ số tham gia du lịch (TPI). TII đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của
du lịch lên nền kinh tế và được tính như tổng doanh thu và tổng chi phí từ khách du
lịch quốc tế theo tỷ lệ % GDP. TPI đánh giá sự tham gia của con người vào hoạt
động du lịch, được tính như tổng số khách đến và khách đi du lịch theo tỷ lệ dân số
của nước điểm đến.
1.2.3.8. Chỉ số phát triển xã hội: Chất lượng cuộc sống có được bởi chỉ số phát
triển xã hội. Chỉ số phát triển xã hội được xây dựng dựa trên sự kết hợp chỉ số phát
triển con người (HDI của UNDP), chỉ số báo, máy tính cá nhân và ti vi. Chỉ số HDI
đánh giá thành tựu của một nước trong lĩnh vực phát triển con người và bao hàm 3
chỉ tiêu : triển vọng sống, giáo dục và thu nhập. Tờ báo hàng ngày có liên quan tới
tỷ lệ, trên 1000 người, của số người tiếp cận tới báo ít nhất 4 lần một tuần. Máy tính
cá nhân có nghĩa là tỷ lệ, trên 1000 người, của số người tiếp cận tới máy tính được
thiết kế cho các cá nhân sử dụng. Chỉ số tivi là tỷ lệ của số người tiếp cận tới TV
trên 1000 người.
1.3. KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DU
công dân khoảng 40 nước.
Malaysia đặc biệt chú trọng tới phát triển và đa dạng hoá sản phẩm du lịch,
coi đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh. Malaysia tiếp thị hình
ảnh du lịch đất nước qua logo và khẩu hiệu đầy ấn tượng “Malaysia-Truly Asia”
(Malaysia-châu Á đích thực). Khẩu hiệu trên đã trở nên quen thuộc trên thị trường
du lịch thế giới và thực sự gây ấn tượng với du khách. Họ tăng cường năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp du lịch với mục tiêu xây dựng kế hoạch phát triển và lập
kế hoạch tiếp thị, quảng cáo có hiệu quả hơn. Đồng thời, Malaysia cũng chú trọng
xúc tiến du lịch trong nước thông qua các chương trình nâng cao ý thức công chúng.
Để tăng mức chi tiêu của khách du lịch, ngành Du lịch và tiêu dùng nội địa
Malaysia đã cùng phối hợp thực thi các biện pháp kích thích khách du lịch mua
sắm. Lễ hội “Mega Sale” (siêu giảm giá) là một trong những biện pháp này. Lễ hội
này được tổ chức vào dịp hè hàng năm, kéo dài gần 3 tháng, từ 1999 đến nay. Suốt
dịp lễ hội, hàng loạt trung tâm thương mại lớn đồng loạt giảm giá từ 20-80% đối với
tất cả các loại hàng, từ hàng sản xuất trong nước đến hàng nhập khẩu, từ hàng hiệu
tới hàng bình dân. Nhiều loại hàng hoá được miễn thuế khi mang ra khỏi cửa khẩu.
Với chính sách trên, lễ hội này đã trở thành sự kiện chính thu hút hàng triệu lượt
khách quốc tế hàng năm, mang lại nguồn thu lớn cho ngành Du lịch và thương mại
của nước này.
Trong những năm gần đây, Malaysia rất chú trọng tới phát triển loại hình du
lịch MICE (Gặp gỡ, khích lệ, Hội nghị và triển lãm) và đang tập trung mọi nỗ lực