Nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành đường mía việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế - Pdf 20


B GIO DC V O TO
TRNG I HC BCH KHOA H NI

NGUYN HU IP

NGHIÊN CứU NĂNG LựC CạNH TRANH
CủA NGNH Đờng mía việt nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế

Chuyên ngành: kinh tế công nghiệp
M số : 62.31.09.01



8. Nguyễn Hữu Điệp (2003) “Phát triển cơ cấu hàng nông sản xuất
khẩu” Báo Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt
Nam, số 31 ngày 16/4/2003.
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cạnh tranh là sự tranh giành, sự ganh đua giữa các
thành viên tham gia kinh tế thị trường để đạt được lợi nhuận tối
đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Cạnh tranh trong kinh tế
thị trường có thể mang lại lợi ích cho người này, doanh nghiệp
này nhưng lại gây ra các thiệt hại cho người khác doanh nghiệp
khác. Song, xét trên phạm vi toàn xã hội thì cạnh tranh luôn có
tác động tích cực: C
ạnh tranh tạo ra động lực cải tiến khoa học
công nghệ và đào thải các công nghệ lỗi thời. Cạnh tranh
hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có có
lợi thế để sản xuất ra của cải xã hội ngày càng có hiệu quả hơn.
Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang kinh t
ế thị trường và
đang trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, các doanh
nghiệp trong nước đang từng bước phải chấp nhận và đối diện
với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Trong khoảng 3 thập kỷ vừa qua, việc trồng mía và
công nghiệp chế biến đường mía ở Việt Nam phát triển khá
mạnh và có những bước tiến đáng khích lệ, đặc biệt là quy mô

của ngành công nghiệp đường mía trong bối cảnh hội nhập quốc
tế” do Quỹ nghiên cứu ICARD-MISPA tài trợ (2004); ”Nghiên
cứu ngành đường mía Việt Nam đến 2010-2020”; do Bộ NN và
PTNT và Cơ quan Phát triển Pháp thực hiện (1999); ”Nghiên
cứu về qui hoạch vùng nguyên liệu, nghiên cứu tổng quan ngành
hàng đường mía” của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
(2005); “Nghiên cứu giải pháp cơ bản để ngành đường mía phát
triển bền vững” c
ủa Nguyễn Xuân Thảo (2004) và nhiều nghiên
cứu khác. Các nghiên cứu tiêu biểu trên đây đã đề cập một số
vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngành hàng đường
mía. Song, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá
thực sự toàn diện và đầy đủ về năng lực cạnh tranh của công
nghiệp đường mía làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp và
đề xuất cơ chế chính sách đối v
ới ngành hàng này. Do vậy,
chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của ngành đường mía Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế” nhằm nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tế để đánh giá
năng lực cạnh tranh và đề xuất các giải pháp của ngành đường
mía Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế Thế giới.
3. Mục đ
ích của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về năng lực
cạnh tranh của ngành kinh tế nói chung ngành đường mía nói
riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía của Việt Nam, chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu và

3

(iii). Tiếp cận theo phương pháp phân tích kinh tế ngành hàng.
5.2. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu:
Luận án đã vận dụng các phương pháp: (i). Phương
pháp kế thừa; (ii). Phương pháp thống kê kinh tế.

4
5.3. Phương pháp phân tích
Để hoàn thành các nội dung nghiên cứu, tác giả luận án
đã vận dụng các phương pháp phân tích sau: (i). Các phương
pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh tế; (ii).
Phương pháp phân tích kinh tế ngành hàng; (iii). Phương pháp
phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (phân tích
SWOT); (iv). Phương pháp phân tích đối chiếu chính sách.
6. Những đóng góp của luận án
Luận án có những đóng góp chủ yếu sau đây:
Một là: Hệ thống hoá, làm rõ các vấ
n đề lý luận về cạnh
tranh. Đặc biệt, đề tài đã làm rõ chuỗi giá trị ngành hàng đường
mía, xây dựng phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành đường mía trong kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập.
Hai là: Mô tả bức tranh tổng quát về sự hình thành và
phát triển của ngành đường mía Việt Nam, những đóng góp của
ngành đường mía đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam trong
điều kiệ
n đổi mới.
Ba là: Đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía Việt Nam, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân hạn chế năng lực cạnh tranh của ngành đường mía
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực.
Bốn là: Đề xuất về định hướng và giải pháp ở cả tầm vi

những lợi thế để hạ thấp giá cả các yếu tố “đầu vào” hoặc nâng
cao giá sản phẩm “đầu ra” để tối đa hoá l
ợi nhuận.
Cạnh tranh là xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế
thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con
dao hai lưỡi. Nó đào thải các doanh nghiệp có chi phí cao, chất
lượng sản phẩm thấp; Nó buộc tất cả các doanh nghiệp không
ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của
sản phẩm, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm.
1.1.1.2. Các phương pháp cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, để cạnh tranh, các doanh
nghiệp thường sử dụng các phương pháp:
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ: Với
cùng một mức chi phí, doanh nghiệp sẽ canh tranh bằng cách
bán ra thị trường sản phẩm cùng loại với cùng mức giá nhưng
chất lượng tốt hơn.
+ Sử dụng công cụ giá cả để nâng cao năng lực cạnh tranh:
(i) dựa vào năng suất; (ii) bán phá giá; (iii) phân biệt giá; (iv)
ch
ỉ đạo giá; (v) cạnh tranh phi giá cả.
+ Tổ chức phân phối nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh:
(i) các doanh nghiệp luôn tìm cách có được phương án vận
chuyển hợp lý nhất; (ii) cải tiến các phương pháp quản lý tồn
kho; (iii) xây dựng hệ thống kênh phân phối trung gian mạnh
và hiệu quả.

6
1.1.2. Vai trò của cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế
Cạnh tranh có các vai trò quan trọng: Cạnh tranh đảm bảo

thực hiện chính sách của Trung ương; ưu đãi đối với doanh nghiệp
nước ngoài; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; và
các chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Năng l
ực cạnh tranh của một ngành kinh tế: Năng lực cạnh
tranh của ngành chịu tác động của các nhân tố có thể kiểm soát
bởi công ty (chiến lược phát triển và cạnh tranh, năng suất,
chủng loại sản phẩm); các nhân tố có thể kiểm soát bởi Chính
phủ (môi trường kinh doanh, chính sách khoa học công nghệ);

7
các nhân tố chỉ có thể kiểm soát được phần nào (giá các yếu tố
đầu vào, công tác giáo dục đào tạo); những nhân tố khó có thể
kiểm soát được (biến động tự nhiên, dịch bệnh). Khi đánh giá
năng lực cạnh tranh của ngành, người ta sử dụng các chỉ tiêu: Tỷ
lệ bảo hộ hiệu quả (ERP), chi phí các nguồn lực nội địa (DRC):
VAi
d ERP
i
=
_________
* 100
VAi
b

ΣQ
di

yếu t
ố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh là: Sự mở cửa nền
kinh tế, vai trò của Nhà nước, khả năng tài chính, cơ sở hạ tầng,
công nghệ, quản lý, lao động, thể chế;
Có thể phân tích năng lực cạnh tranh của ngành theo nhóm
yếu tố: (i) Các yếu tố nội tại (năng suất chế biến, quy mô các
nhà máy; giá cả trong nước và quốc tế; năng lực tài chính;
năng lự
c quản lý; các mối quan hệ xã hội và truyền thống
doanh nghiệp; uy tín và thương hiệu sản phẩm; và (ii) Các yếu
tố bên ngoài (môi trường pháp lý cho hoạt động cạnh tranh;
môi trường chính sách kinh tế cho hoạt động cạnh tranh; tổ
chức, quản lý của Nhà nước; hình ảnh của quốc gia).
Ngày nay các nhà kinh tế học thường sử dụng mô hình kim
cương của M.Porter và mô hình SWOT. Mô hình kim cương của

8
M.Porter cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
gồm: Chiến lược, cấu trúc và mức độ cạnh tranh cho biết chiến
lược phát triển, điều kiện về các yếu tố đầu vào điều kiện về cầu,
các ngành liên quan và hỗ trợ. Mô hình SWOT phân tích các mặt
mạnh (S), mặt yếu (W), Cơ hội (O), thách thức (T).
1.2.2.2. Phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía
Để
đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành đường mía, có
thể sử dụng một số chỉ tiêu như: (i).Nhóm chỉ tiêu về năng suất
như sản lượng, doanh thu, thị phần; (ii). Nhóm chỉ tiêu về hiệu
quả của sản xuất gồm các chỉ tiêu: Chi phí, giá cả, lợi nhuận,
doanh thu/vốn và doanh thu/lao động.

Chi phí mía
nguyên liệu
Giá thành
tiêu thụ
đườn
g
mía
CP lưu thông,
t
i
êu

t
h

CPchế biến

9
chuyển. Chi phí chế biến đường tại các nhà máy phụ thuộc 3
nhóm yếu tố quan trọng là: Công suất chế biến, công nghệ chế
biến và tỷ lệ huy động công suất nhà máy. Chi phí lưu thông
phụ thuộc 3 nhóm yếu tố quan trọng là: Hiệu quả của kênh
phân phối, chi phí bán hàng và tỷ lệ tồn kho.
Bảng 1. Các chỉ tiêu phân tích năng lực cạnh tranh ngành
đường mía
Nhóm các chỉ tiêu Sử dụng đánh giá cho
1. Chỉ tiêu về NS, sản lượng

1.1. Năng suất mía nguyên liệu SX mía nguyên liệu
1.2. Năng suất lao động SX nguyên liệu, chế biến, tiêu thụ SP

ĐƯỜNG MÍA HIỆN NAY
2.1.1. Thực trạng phát triển của ngành đường mía Việt Nam
Kết quả nghiên cứu về sản xuất đường mía ở Việt Nam
những năm gần đây cho thấy (i) tốc độ phát triển sản lượng
đường ở Việt Nam tăng rất nhanh. Nếu so với Thái Lan, thì
trong 20 năm tốc độ tăng của Thái Lan chỉ đạt 290% còn Việt
Nam chỉ trong vòng 11 năm tăng tới 203%. Tuy nhiên, về sản
lượng đườ
ng trên đầu người hiện nay ở Việt Nam chỉ bằng 1/5-
1/4 của Thái Lan; (ii) năng suất lao động ngành đường mía của
Việt Nam còn thua xa các nước khác trên Thế giới. Năng suất
mía của Việt Nam chỉ cao hơn Cu Ba và thấp hơn các nước
khác. Sản lượng đường trung bình của Việt Nam là 2,6 tấn/lao
động (Thái Lan 14 tấn/lao động, Brazil 68 tấn/lao động, Úc 221
tấn/lao động). Qua các chỉ số bình quân của toàn chuỗi ngành
hàng đường mía về sản xuất mía c
ũng như chế biến đường có
thể khẳng định rằng khả năng cạnh tranh của ngành đường mía
Việt Nam là rất kém.
2.1.2. Hiệu quả của ngành đường mía
Để phân tích chỉ tiêu hiệu quả của ngành đường mía, đã
tiến hành phân tích (i) chi phí sản xuất ở các khâu. Trong khâu
trồng mía, chi phí lao động trung bình cho sản xuất 1 tấn mía
nguyên liệu bình quân chung cả nước là 3,8 công/tấn mía. Giá
thành sản xuất 1 tấn mía cây bình quân chung cả nước là 169,5
ngàn đồng, (10,9 USD/tấ
n); (ii) chi phí lao động sản xuất mía,
giá thành nguyên liệu mía và năng suất mía hoà vốn cho từng
vùng, làm rõ những nơi có chi phí và giá thành thấp, trung bình
và cao để thấy rõ lợi thế của từng vùng; (iii) đồng thời đã so

142,1 216,6 254,8 32,6
5. Đông NB 186,9 216,8 258,1 47,2
6. ĐBSCL 155,3 259,2 318,7 42,3
Nguồn: Viện QHTK Nông nghiệp 2005.
Đối với sản phẩm đường, qua nghiên cứu đã chỉ ra (i) giá
thành sản xuất đường còn khá cao. Đa số các NMĐ có giá
thành sản xuất đường cao hơn giá bán. Bình quân 5 năm trở lại
đây giá thành sản xuất đường trắng chưa tính thuế khoảng 4900
đ/kg, tương đương 310 USD/tấn.; (ii) các nhà máy đường quy
mô lớn thường có giá thành đường thấp hơn so với các nhà máy
đường quy mô nhỏ và trung bình; (iii) Hiệu suất thu hồi đườ
ng
của các nhà máy đạt 80-82%, xấp xỉ bình quân của thế giới
nhưng gấp đôi so với Uc và thấp hơn 1 số nước như Trung
Quốc, Đài Loan, Cu Ba và Mỹ. Tỷ lệ tiêu hao mía đường của
các nhà máy chế biến đường công nghiệp vẫn còn khá cao từ
mức 13 mía/1 đường trước khi thực hiện chương trình mía
đường nay xuống còn khoảng 11 mía/1 đường; (iv) Trong cơ
cấu chi phí sản xuất đường, chi phí nguyên liệu chiếm tỷ l
ệ lớn
nhất (53–55%) và có sự khác nhau giữa các nhà máy, tiếp đến
là chi phí khấu hao (gần 10%), chi phí lao động chiếm 12%, chi
phí vật liệu phụ, nhiên liệu, năng lượng chiếm tỷ lệ 8%, chi phí
quản lý trên 7%, ngoài ra là các chi phí khác.

12
Nghiên cứu và phân tích tình hình giá bán đường cho thấy:
giá bán đường thường không ổn định do yếu tố cung-cầu trong
nước và tình trạng đường nhập lậu chưa được ngăn chặn triệt
để. Bình quân trong cả niên vụ 2003-2004, giá bán của các nhà

Nguồn: Báo cáo của các NMĐ, năm 2005
Qua các chỉ số bình quân của toàn ngành về sản xuất mía
và chế biến đường, có thể khẳng định rằng khả năng cạnh tranh
của ngành đường mía Việt Nam là rất kém. Không có một chỉ
số nào về sản xuất mía cũng như sản xuất đường cho thấy Việt
Nam tiếp cận được với tiêu chuẩn trung bình của Thế giới.
2.2. THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NGÀNH ĐƯỜNG MÍA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1. Những nhân tố liên quan đến các điều kiện về yếu tố
đầu vào của ngành đường mía.
Phân tích các yếu tố đầu vào như khí hậu, như đất đai, địa
hình, thổ nhưỡng, thời gian nắng, lượng mưa, biên nhiệt độ

13
trong vụ mía, khả năng đất trồng mía, tổ chức sản xuất mía
nguyện liệu, cơ cấu giống mía của các vùng, đặc điểm lao động
của hộ nông dân trồng mía, hệ thống cơ sở hạ tầng và vốn đầu
tư, đã rút ra kết luận là, Việt Nam có điều kiện nông nghiệp để
phát triển mía đường trên mức trung bình Thế giới, vớ
i điều
kiện phải đảm bảo đủ nước tưới, cung ứng các loại giống mía
có năng suất cao, mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc vận
chuyển nguyên liệu, cơ giới hoá khâu làm đất và thu hoạch.
Trên cơ sở phân tích về công suất thiết kế, trình độ kỹ thuật
của các nhà máy đường, chi phí hoạt động của các nhà máy
đường, đã rút ra kết luận: các nhà máy chế biến đường
ở Việt
Nam có quy mô trung bình nhỏ, công suất đầu tư nhà máy thấp
so với các nước, công nghệ sản xuất đa dạng trong đó khoảng
gần một nửa công suất thiết kế sử dụng công nghệ thiết bị đơn

đường Thế giới làm cho giá đường nhập khẩu rẻ hơn, tạo cho
ngành đường mía phải đối mặt với vấn đề tăng năng suất và
giảm chi phí sản xuất.
2.2.4. Những nhân tố về các ngành liên quan và các ngành hỗ trợ
Luận án đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhà máy đường và
hộ trồng mía thông qua các loại h
ợp đồng kinh tế trồng–thu mua
mía, đã phân tích rõ tình hình thực hiện mối quan hệ dưới hình
thức hợp đồng, chỉ ra những mặt được và hạn chế. Kết quả cho
rằng, trong toàn bộ hoạt động ngành mía đường không thực sự
tồn tại một tác nhân nào đóng vai trò chủ đạo, có ý nghĩa quyết
định đối với hoạt động của toàn chuỗi. Thay vào đó, là các mối
quan hệ đan xen, ràng buộc l
ẫn nhau, vừa cạnh tranh vừa liên
kết giữa các tác nhân. Việc giải quyết hài hoà mối quan hệ này
sẽ góp phần quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
chuỗi ngành hàng mía đường về lâu dài.
2.2.5. Những nhân tố liên quan đến vai trò Nhà nước
Luận án đã phân tích các yếu tố về chính sách như: Chính
sách thương mại và giá cả, các quy định về kiểm soát và can
thiệp về đầu tư vào các nhà máy, phân chia lợi nhuận của các nhà
máy Nhà nướ
c, tạo lập môi trường cạnh tranh giữa các nhà máy,
chính sách hỗ trợ cho các nhà máy gặp khó khăn. Qua phân tích
cho thấy các chính sách vĩ mô khi vận hành vào thực tiễn cũng
đã thể hiện một số hạn chế như: Chính sách tài chính có nhiều
điểm chưa phù hợp như thời gian vay vốn ngắn, lãi suất vay
vốn cao, áp lực trả vốn vay lớn; thời gian khấu hao ngắn; tỷ giá
thay đổi theo hướng mất giá đồng VND; doanh nghiệp không
được c

3. Đã hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với các
NMĐ
Điểm yếu

1. Phát triển tự phát, sản xuất có quy mô nhỏ, phân tán, thiếu
nước tưới, năng suất, sản lượng không ổn định.
2. Kỹ thuật thâm canh thấp, cơ cấu giống mía chưa hợp lý,
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới còn yếu.
3. Quản lý, xây dựng vùng nguyên liệu còn bộc lộ nhiều yếu
kém, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển không đồng bộ.
4. Quan hệ và sự ph
ối hợp giữa NMĐ và hộ nông dân trồng
mía chưa chặt chẽ.

Cơ hội

1. Thị trường mía đường trong nước thế giới có nhiều thuận
lợi.
2. Các NMĐ đã được sắp xếp củng cố lại, nhu cầu về mía
nguyên liệu ngày càng lớn.
3. Có sự hỗ trợ của Chính phủ và Bộ chủ quản.
Thách thức

1. Thị trường đường thế giới biến động sản phẩm đường của

Điểm yếu
1. Sản xuất quy mô nhỏ, phân tán, thiếu tưới, năng suất, hàm
lượng đường thấp; Mối quan hệ và sự phối hợp giữa NMĐ và
hộ nông dân trồng mía chưa chặt chẽ.
2. Đa số có quy mô công suất nhỏ, năng lực chỉ đạo tổ chức
sản xuất yếu, giá thành đường cao, cơ cấu chi phí chưa hợp lý,
hiệu suất thu hồi đườ
ng thấp, tiềm lực tài chính hạn chế.
3. Nhiều NMĐ, trước đây được xây dựng, ngoài mục đích về
kinh tế còn có ý nghĩa thực hiện chương trình xoá đói giảm
nghèo, khó có thể thay đổi theo cơ chế thị trường trong thời
gian ngắn. Cơ hội
1. Thị trường mía đường trên thế giới đang có nhiều thuận lợi.
2. Nhu cầu về đường trong nước các năm tới còn rất lớn.
3. Các NMĐ đã được sắp xếp củng cố lại.
4. Được ưu đãi về tiến trình giảm thuế quan.

Thách thức
1. Thị trường đường thế giới và khu vực biến động.
2. Giá nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào biến động tăng, chi
phí sản phẩm cao, hiệu qủa kinh tế giảm.

a vòng đàm phán Doha và xu hướng bỏ trợ cấp nông
sản; lộ trình giảm thuế đường theo lộ trình gia nhập AFTA;
ngành sản xuất đường của Việt Nam chịu sự cạnh tranh của
Thái Lan là nước nằm trong khu vực và Brazil, Úc là những
nước sản xuất đường lớn nhất trên Thế giới.
Tự do hóa thương mại tác động lớn đến khả năng cạnh
tranh của ngành mía đường, khi Việt Nam gia nhập WTO: Lộ
trình cắt giảm hàng rào thuế quan; tỷ giá hối đoái biến động;
ngành mía đường Việt Nam giai đoạn 2005-2020 sẽ vẫn duy
trì và ổn định khối lượng sản xuất trong nước, ít nhất là bằng
và hơn mức hiện tại.
Nhu cầu tiêu dùng đường trong nước tiếp tục tăng, trong
thời gian tới cầu luôn lớn hơn cung; nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm sau đường và bên cạnh đường có xu hướng tăng khá
nhanh do thị
hiếu tiêu dùng thay đổi.
Quyết định 28/2004/QĐ-TTg của Chính phủ tạo cơ hội và
tiền đề để ngành đường Việt Nam nâng cao khả năng cạnh

18
tranh trong hội nhập vì theo Quyết định này, các nhà máy sản
xuất thua lỗ không cổ phần hoá được sẽ phải bán hoặc phá sản.
Sản xuất mía nguyên liệu tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt bởi
các cây trồng khác có hiệu quả hơn. Dự báo trong 5 năm tới,
năng suất, chất lượng mía phải tăng nhanh hơn, từ trên 51,8
tấn/ha hiện nay lên đến trên 65 tấn/ha, chữ đường 11 CCS. Đó
là thách thức lớn ph
ải có sự tập trung đầu tư thỏa đáng mới giải
quyết được. Vì vậy, tập trung nâng nhanh năng suất, chất lượng
mía, tăng hiệu quả của cây mía trong sản xuất nông nghiệp vừa


19
trong sản xuất nông nghiệp; đầu tư xây dựng hệ thống công
trình thuỷ lợi nhằm tăng diện tích mía được tưới nước.
Để mở rộng công suất sản xuất đường hợp lý, các nhà máy
tập trung đầu tư theo chiều sâu trên cơ sở rà soát quy hoạch
vùng nguyên liệu, áp dụng các biện pháp nâng cao năng suất,
đa dạng hoá sản phẩm đường mía, hiện đại hoá trang thiết bị,
công nghệ của các nhà máy đường
để nâng cao năng suất chế
biến và khai thác tối ưu tính kinh tế nhờ qui mô.
Các Tổng công ty, Công ty triển khai kế hoạch sắp xếp đổi
mới các doanh nghiệp theo Nghị quyết Trung ương III, thực
hiện Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp. Kiên quyết xử lý các
doanh nghiệp không đủ điều kiện cổ phần hóa (CPH) qua
ph
ương thức bán hoặc cho phá sản. Để thực hiện Quyết định số
28/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp
cần phải thực hiện các vấn đề tồn tại như: Xác định số nợ lãi
vay, phí bảo lãnh, phí tái bảo lãnh của các tổ chức tín dụng để
làm thủ tục xoá nợ lãi vay; Đối với số tiền vay trả lãi vay trong
thời gian xây dựng nhà máy, tuy là xuất xứ từ kho
ản lãi vay,
nhưng là nợ gốc, sau khi áp dụng các giải pháp hỗ trợ của Nhà
nước theo Quyết định số 28/2004/QĐ-TTg ngày 04/3/2004 của
Thủ tướng Chính phủ mà vẫn còn lỗ, không thanh toán được các
khoản vay ngân hàng thương mại nhà nước thì trước khi xác
định giá trị doanh nghiệp để CPH, việc xử lý các khoản nợ này
thực hiện theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004

cần tập trung vào các vùng nguyên liệu mía một cách có chọn
lọc trên cơ sở lợ
i thế về điều kiện khí hậu, đất đai, quy mô vùng
trồng mía; tiến tới xoá bỏ các khoản trợ cấp đối với ngành công
nghiệp đường mía và nền kinh tế nói chung; tăng cường hiệu
lực quản lý nhà nước bằng việc tập trung chỉ đạo, hoàn thành
việc thực hiện Quyết định 28/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ; tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước trong
vi
ệc chỉ đạo, giám sát, hỗ trợ các nhà máy đường xây dựng
vùng nguyên liệu tập trung, thực nhiện các nhiệm vụ phát triển
mía nguyên liệu như đã nêu trên; tổ chức thực hiện, đưa nhanh
các chính sách của Nhà nước vào thực tiễn sản xuất mía,
đường. Trước mắt là thực hiện tốt QĐ 28/2004/QĐ-TTg, Quyết
định 80/2002/QĐ-TTg, các chính sách hỗ trợ tài chính và ưu
đãi về thuế phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế bi
ến
nông, lâm, thủy sản, muối được hướng dẫn tại Thông tư số
95/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính. Phát hiện những vướng
mắc và đề xuất các chính sách mới với Nhà nước; Quản lý thị
trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại; tổng hợp, đánh giá sát thực
trạng sản xuất mía đường hàng năm, dự báo chính xác tình hình
cung cầu đường, có kế hoạch chủ động trong việc xuất, nhậ
p
khẩu đường và các chính sách kèm theo để giữ ổn định thị
trường đường; tổ chức có hiệu quả việc chống nhập lậu đường.
Hỗ trợ các nhà máy đường trong việc xây dựng thương hiệu,
lập sàn giao dịch bán đường; tiến hành, kiểm tra, thanh tra
chuyên ngành việc thực hiện nhiệm vụ của các nhà máy đường
về xây dựng vùng nguyên liệu, an toàn lao động, an toàn vệ

trong 2 năm 2001, 2002, nếu còn nợ thuế thì thực hiện xoá nợ
thuế cho doanh nghịêp có lỗ trong 2 năm 2001, 2002.
Về hỗ trợ cho khoa học công nghệ, tiếp tục áp dụng các
chính sách hiện hành về ưu đãi vốn ngân sách cho nghiên cứu
khoa học, phát triển giống mới, nghiên cứu quy trình sản xuất;
hàng năm Nhà nước giành nguồn vốn thông qua chương trình
giống, khuyến nông để tổ chức các lớp tập huấn cho nông dân
về các quy trình kỹ thuật trồng, thâm canh mía;
Về hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, Chính phủ và các địa
phương có kế hoạch và ghi rõ phần vốn ngân sách phân bổ để
hỗ trợ các vùng nguyên liệu mía tập trung trong việc xây dựng
các công trình giao thông và thuỷ lợi đầu mối theo dự án đã
đăng ký của các nhà máy đường; Các địa phương chủ động
phối hợp các chương trình, dự án, nguồn vốn để đầu tư cơ sở hạ

22
tầng có trọng tâm, tạo nên những vùng trồng mía thâm canh với
công nghệ cao, tăng nhanh năng suất, chất lượng mía.
3.2.4. Tăng cường quan hệ phối hợp điều hành của các
ngành các cấp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía.
Các giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường quan hệ phối
hợp điều hành vĩ mô để tăng năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía là: Bộ
NN&PTNT là cơ quan chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành báo cáo Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng
thể ngành mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, dự báo thông tin thị trường và thực hiện các biện pháp
điều tiết thị trường để đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên có
liên quan; Chính quyền địa phương cấp tỉnh cần rà soát lại qui

u người tiêu dùng

23
KẾT LUẬN
Luận án nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành đường
mía Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế đã giải quyết
những vấn đề sau đây:
1. Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh
tranh của ngành trong kinh tế thị trường trên cơ sở phân tích khái
niệm cạnh tranh, phân loại cạnh tranh, các công cụ cạnh tranh kinh
tế. Đã nêu lên 3 cấ
p độ năng lực cạnh tranh kinh tế và chỉ ra những
nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
ngành nói chung, năng lực cạnh tranh ngành đường mía nói riêng.
Đồng thời đã khái quát trình bày kinh nghiệm của một số nước như
Thái Lan, Trung Quốc, Philippines, Indonesia về nâng cao năng
lực cạnh tranh của ngành đường mía và khả năng áp dụng kinh
nghiệm của các nước vào điều kiện cụ thể của Việ
t Nam.
2. Luận án đã đánh giá được năng lực cạnh tranh của ngành
đường mía Việt Nam, cụ thể là: (i) Tổng sản lượng đường sản
xuất trong nước đạt trên 1 triệu tấn, cơ bản đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ đường trong nước; (ii) năng suất, sản lượng, chất lượng
mía nguyên liệu của Việt Nam còn thấp so với một số nước sản
xuất đường như
Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan;
(iii) Giá thành sản xuất đường mía khá cao làm cho ngành hàng
đường mía Việt Nam rất khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế;
(iv) Ba yếu tố quan trọng cấu thành giá thành đường mía là chi
phí mía nguyên liệu (chiếm 62,7% tổng chi phí), chi phí chế

trong nước tiếp tục tăng, cầu luôn lớn hơn cung; sản xuất mía
nguyên liệu tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt bởi các cây trồng
khác. Các yêu cầu c
ần quán triệt để nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngành đường mía của Việt Nam những năm tới là: (i)
cần có biện pháp cứng rắn hơn trong việc xử lý các doanh
nghiệp nhỏ, không có khả năng cạnh tranh; (ii) bảo hộ thương
mại sẽ được sử dụng để tài trợ một số chi phí hiện nay của
chương trình mía đường; (iii) tăng năng suất trong điều kiện
không có bao cấ
p và bảo hộ thương mại, làm tối thiểu hoá chi phí
hiện nay của cạnh tranh đối với nền kinh tế.
6. Những định hướng cơ bản nhằm tăng cường năng lực cạnh
tranh của ngành đường mía đến 2010 và tầm nhìn 2020 là: (i)
nâng cao năng suất sản xuất nguyên liệu mía đường; (ii) tăng
sản lượng và thị phần sản phẩm đường mía; (iii) giảm chi phí
sản xuất và nâng cao hiệu quả s
ản phẩm đường.
7. Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành mía đường
trong thời gian tới, bốn nhóm giải pháp được đề xuất gồm: (i)
Tăng cường năng lực nội sinh của ngành đường mía; (ii) tăng
cường điều tiết và quản lý vĩ mô của Nhà nước; (iii) tiếp tục
hoàn thiện chính sách tài chính đối với ngành đường mía Việt
Nam; (iv) tăng cường quan hệ phối hợp điều hành vĩ
mô từ
Chính phủ đến Bộ NN và PTNT, các cấp chính quyền ở địa
phương, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các công ty, nhà
máy đường và Hiệp hội Mía đường Việt Nam. Giải pháp tăng
cường năng lực nội sinh của ngành đường mía là giải pháp
quan trọng hàng đầu, trong đó cần ưu tiên vào việc rà soát, quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status