Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành Dệt may xuất khẩu Việt Nam sớm trở thành ngành công nghiệp
xuất khẩu chủ lực trong quá trình công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam. Mấy năm gần đây, ngành Dệt may xuất khẩu
Việt Nam liên tục giành được những thành tựu lớn, biểu hiện qua những con số
ấn tượng về tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tỷ trọng trong kim ngạch xuất
khẩu của cả nước và tổng thu nhập quốc dân.
Tuy nhiên, gần đây có nhiều cảnh báo về tình trạng bất ổn trong thị
trường lao động, tình trạng yếu kém của công nghiệp phụ trợ cho ngành Dệt
may , tình trạng gia công chiếm đa số…Bên cạnh đó là áp lực cạnh tranh ngày
càng tăng trong quá trình hội nhập của Việt Nam. Do vậy, đã đến lúc năng lực
cạnh tranh của ngành Dệt may xuất khẩu Việt Nam cần được đánh giá một
cách khách quan, qua đó tìm ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh, xây dựng một ngành Dệt may xuất khẩu một cách bền vững, có khả
năng thích nghi với môi trường cạnh tranh toàn cầu. Đó là lý do tác giả chọn
đề tài: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may xuất khẩu Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực cạnh tranh của ngành
Dệt may xuất khẩu Việt Nam
Số liệu nghiên cứu chủ yếu được thu thập từ khoảng năm 2000 trở lại
đây.
Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành Dệt may
xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế, nghĩa là phân tích năng lực
cạnh tranh ngành Dệt may Việt Nam so với ngành Dệt may của quốc gia khác
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
mà không xem xét sự cạnh tranh trên thị trường nội địa. Mặt khác, luận văn
cũng không xem xét sự cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, so sánh, tổng hợp
phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận làm sáng
rộng quy mô hoạt động và thị trường. Thông qua cạnh tranh, giao thương quốc
tế ngày càng được mở rộng, thúc đầy quá trình chuyên môn hóa sản xuất.
Trên bình diện quốc gia: Cạnh tranh khiến các nguồn lực được phân bổ
một cách hiệu quả nhất, cạnh tranh giúp các nhà sản xuất luôn sử dụng các
nguồn lực một cách tiết kiệm nhất. Cạnh tranh còn góp phần phân phối lại thu
nhập và nâng cao phúc lợi xã hội
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Trên bình diện doanh nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh luôn là
mục tiêu phát triển thường trực và lâu dài của mỗi doanh nghiệp. Bằng sự
thúc đẩy của lợi nhuận, doanh nghiệp luôn muốn đi đầu về chất lượng, giá cả,
mẫu mã, dưới áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp không ngừng
cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới cách
quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả.
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về sức cạnh tranh hay
năng lực cạnh tranh. Đó là bởi cụm từ này là một phạm trù quá lớn để có thể tiếp
cận từ mọi khía cạnh. Chủ thể cạnh tranh có thể là của các tổ chức, ngành, lĩnh
vực, sản phẩm hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới nó như
hiệu quả thị trường, như các chính sách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh
doanh về thương mại, đầu tư và các quy định…
M. Porter, người trong Hội đồng về năng lực cạnh tranh các ngành ở
Hoa Kỳ cho rằng chưa có định nghĩa thống nhất nào về năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ cũng đề nghị một
định nghĩa năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh là năng lực
kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất của một nước có thể vượt qua
thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy có
thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài”
1
. Định nghĩa này tuy lột tả
Như vậy, mỗi một định nghĩa đều có mặt ưu điểm và nhược điểm riêng,
nhưng định nghĩa của OECD là hoàn thiện nhất khi nêu được chủ thể cạnh
tranh và cụm từ cạnh tranh. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm
của OECD trong phân tích. Tuy nhiên, tác giả muốn bổ xung khái niệm này
dựa vào các định nghĩa trên như sau:
2
Goode, W., Dictionary of Trade Policy, Center for International Economics Studies, University of
Adelaide, 1997.
3
Từ điển thuật ngữ kinh tế học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001, tr. 349.
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
“Năng lực cạnh tranh là khả năng một doanh nghiệp, một ngành hay
một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh để
tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
1.1.3. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được chia ra thành ba cấp độ:
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/ doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Việc phân chia cấp độ năng lực cạnh tranh như trên chỉ có tính tương
đối. Mỗi một cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, bất cứ một
doanh nghiệp nào cũng đều sản xuất hoặc kinh doanh một loại hàng hóa dịch
vụ nhất định. Chỉ khi hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp có sức cạnh tranh
thì doanh nghiệp mới có sức cạnh tranh trên thị trường. Một ví dụ khác,
ngành Dệt may Việt Nam có sức cạnh tranh, có thị phần lớn trên thị trường
thế giới cũng có thể nói Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế
giới,… Do vậy, cần phải nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên mối quan hệ
giữa các cấp độ.
1.1.3.1. Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
6
. Tuy
là định nghĩa của cấp ngành nhưng OECD đã gắn với điều kiện cạnh tranh
quốc tế. Định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay. Năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. Nói chung,
năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành tuỳ thuộc vào
khả năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ, chất lượng, mức giá bằng hoặc thấp hơn
mức giá phổ biến trên thị trường mà không cần đến trợ giá.
1.1.3.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự
khác biệt, thương hiệu, bao bì... hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá
5
Global Competitiveness report, 1997.
6
OECD, Competitive Policy: A New Agenda
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định
đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá yếu khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó thấp. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm,
không những doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
doanh nghiệp còn phải có chiến lược quảng bá, phát triển thị trường sản
phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm…
1.1.4. Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1.4.1. Yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
Theo các tiêu chí của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) có 8 nhóm tiêu
chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm:
thị trường thế nào?
- Công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ: bao gồm hệ thống giao thông, thông
tin liên lạc hay hệ thống tài chính, tư vấn…
- Nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu của khách hàng về chất
lượng sản phẩm, dịch vụ: Điều này là đánh giá năng lực cạnh tranh trên
phương diện nhu cầu sản phẩm, dịch vụ ngành/ doanh nghiệp cung ứng.
Thông qua nghiên cứu nhu cầu, ta có thể xác định được khả năng cung ứng
của ngành/ doanh nghiệp.
- Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực mà ngành/doanh nghiệp kinh doanh
và vị thế của ngành/doanh nghiệp so với các ngành/doanh nghiệp khác: Đây
là yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh nghiệp
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
trên thị trường. Các thông số có thể đánh giá là so sánh thị phần của ngành
hay doanh nghiệp trên thị trường, quy mô của ngành…
1.1.4.3. Yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thể hiện tập trung ở 4 yếu tố:
Giá cả:
Giá cả sản phẩm là biểu hiện về khả năng sản xuất hiệu quả hay không,
năng suất lao động cao hay thấp hay mức độ trang bị công nghệ của doanh
nghiệp. Cuộc chiến giá cả giữa các đối thủ cạnh tranh không bao giờ kết thúc.
Thông qua cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất không ngừng
được nâng cao, đồng thời giá cả sản phẩm được hạ đến mức thấp nhất. Người
tiêu dùng luôn chọn giá cả làm tiêu chí để lựa chọn sản phẩm. Do vậy, yêu
cầu đối với các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh quốc tế phải không
ngừng giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng lao động, cải tiến công
nghệ…
Chất lượng sản phẩm:
Chất lượng là thuộc tính không thể thiếu trong bất cứ hàng hoá và dịch
vụ nào. Khi mức sống của con người ngày càng tăng, thì nhu cầu được hưởng
phát triển…
Ưu điểm của phương pháp này là đưa ra được những phân tích định
lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, phương pháp này khá phức
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
tạp và khó thực hiện, ít được áp dụng trong thực tế, đặc biệt rất khó ứng dụng
vào việc phân tích năng lực cạnh tranh của một ngành ở nước ta.
1.2.1.2. Phương pháp 2: Phân tích theo quan điểm tổng hợp
Hầu hết các khái niệm cạnh tranh xét từ phạm vi của ngành/doanh nghiệp
đều đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt,
công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này. Một nhà sản xuất thường
được gọi là nhà sản xuất cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng một sản phẩm
có chất lượng tốt với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh. Một doanh
nghiệp được xem là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó duy trì được
vị thế của mình trên thị trường cùng các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay
thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc cung
cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng
hoặc cao hơn.
Ưu thế cạnh tranh của một nhà sản xuất hay một doanh nghiệp so với
các đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp được thể hiện trên hai
mặt: ưu thế cạnh tranh bên trong (ưu thế về chi phí) và ưu thế cạnh tranh bên
ngoài (ưu thế về mức độ khác biệt hoá).
Ưu thế cạnh tranh bên trong (ưu thế về chi phí) là ưu thế được thể
hiện trong việc làm giảm các chi phí sản xuất, chi phí quản lý của nhà sản
xuất hay các giải pháp nâng cao năng suất lao động nhờ áp dụng những
công nghệ hiện đại… Ưu thế này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ
giá cả và chất lượng sản phẩm.
Ưu thế cạnh tranh bên ngoài (ưu thế về mức độ khác biệt hoá) là ưu
thế dựa vào khác biệt của các sản phẩm mà nhà sản xuất tạo ra so với các
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Chất lượng khác biệt của sản phẩm phụ
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
yếu tố bên trong của ngành (năng lực sản xuất của ngành). Hơn nữa, trong mô
hình có xét đến sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, nhưng trong phạm vi luận
văn tác giả không nghiên cứu sự cạnh tranh trong ngành.
1.2.2. Xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
Tác giả xin được đề xuất mô hình riêng trong nghiên cứu đề tài này. Về
cơ bản mô hình này phỏng theo mô hình của Michael Porter, tác giả có lược
đi một vài yếu tố “ngoại vi” và thêm vào yếu tố “nội vi” cho phù hợp với mục
đích nghiên cứu của đề tài.
Mô hình này xem xét năng lực cạnh tranh của ngành dưới 4 tác động:
Năng lực sản xuất;
Thị trường tiêu thụ và các đối thủ cạnh tranh;
Các ngành hỗ trợ liên quan (Công nghiệp phụ trợ)
Môi trường cơ chế, chính sách .
(Nhân tố năng lực sản xuất được xem như là yếu tố bên trong đánh giá
năng lực cạnh tranh của ngành, bốn nhân tố còn lại là những yếu tố bên
ngoài)
Tiếp theo tác giả sẽ giải thích rõ hơn về các nhân tố:
Năng lực sản xuất: Năng lực sản xuất là nhân tố bên trong quan trọng
nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành. Năng lực sản xuất được cấu
thành từ các yếu tố: Nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực, công nghệ sản xuất,
và quy mô sản xuất. Còn yếu tố giá cả, chất lượng, sản lượng sản phẩm là
những nhân tố biểu hiện hay đo lường năng lực sản xuất.
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Thị trường tiêu thụ và đối thủ cạnh tranh: Thị trường tiêu thụ quyết
định mức cầu của ngành. Thị trường tiêu thụ ở đây xét trên quy mô quốc tế
nghĩa là cả thị trường tiêu thụ trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, luận văn
chỉ nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành Dệt may xuất khẩu của Việt Nam
nên sẽ tập trung đi sâu vào thị trường tiêu thụ quốc tế mà ngành Dệt may Việt
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được
sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ
thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra
quyết định. Mẫu phân tích SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận 2
hàng 2 cột, chia làm 4 phần: Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu),
Opportunities (cơ hội), and Threats (thách thức).
Mô hình SWOT thường đưa ra 4 chiến lược cơ bản: (1) SO (Strengths -
Opportunities): Các chiến lược dựa trên ưu thế của tổ chức để tận dụng các cơ
hội thị trường. (2) WO (Weaks - Opportunities): Các chiến lược dựa trên khả
năng vượt qua các yếu điểm của tổ chức để tận dụng cơ hội thị trường. (3) ST
(Strengths - Threats): Các chiến lược dựa trên ưu thế của của tổ chức để tránh
các nguy cơ của thị trường. (4) WT (Weaks - Threats): Các chiến lược dựa
trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm của tổ chức để tránh
các nguy cơ của thị trường.
Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một tổ chức,
người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:
- Strengths: Lợi thế của tổ chức là gì? Công việc nào mình làm tốt
nhất? Nguồn lực nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người khác thấy
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
được ở mình là gì? Phải xem xét vấn đề từ trên phương diện bản thân và của
người khác. Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh
tranh. Chẳng hạn, nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh đều cung cấp các sản
phẩm chất lượng cao thì một quy trình sản xuất với chất lượng như vậy không
phải là ưu thế mà là điều cần thiết phải có để tồn tại trên thị trường.
- Weaknesses: Cần đặt câu hỏi, tại sao đối thủ làm tốt hơn mình? Điều
gì làm hạn chế năng lực cạnh tranh của tổ chức mình. Phải xem xét vấn đề
trên cơ sở bên trong và cả bên ngoài. Người khác có thể nhìn thấy yếu điểm
mà bản thân mình không thấy.
- Opportunities: Cơ hội tốt cho tổ chức đang ở đâu? Xu hướng đáng
Nghề ươm tơ, dệt vải đã trở thành một nghề truyền thống lâu đời của
Việt Nam được truyền từ đời này qua đời khác nhờ vào những đôi bàn tay
khéo léo của người phụ nữ Việt Nam. Những nghề truyền thống này là một
nền tảng vô cùng quý báu cho ngành Dệt may của Việt Nam phát triển. Tuy
nghề Dệt may được hình thành khá sớm ở Việt Nam nhưng chủ yếu mang
tính thủ công, lạc hậu so với thế giới.
Thời điểm năm 1985 nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập
trung bao cấp, đầu vào và đầu ra của sản xuất được cung ứng theo chỉ tiêu của
Nhà nước. Ngành Dệt may chủ yếu cung cấp cho tiêu dùng nội địa, một số
lượng nhỏ xuất khẩu sang Liên Xô và Đông Âu. Đến cuối năm 1990, khi hệ
thống các nước xã hội chủ nghĩa bị tan rã, ngành Dệt may xuất khẩu của nước
ta gần như mất hết thị trường xuất. Từ năm 1991 trở đi, nhờ có chính sách
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của ngành Dệt may Việt Nam.
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Ngày 23 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt chiến
lược phát triển ngành Dệt may đến năm 2010 theo QĐ số 55/2001/QĐ-TTg.
Với chiến lược này ngành Dệt may có nhiều cơ hội mới để phát triển đó là:
Chính phủ có nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ, khuyến khích phát triển hoạt
động sản xuất kinh doanh như được hưởng ưu đãi về tín dụng đầu tư, được
Ngân hàng đầu tư và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh bảo
lãnh hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu, cho vay đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh với lãi suất ưu đãi, được hưởng thuế thu nhập ưu đãi 25%.
Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm
2015, định hướng đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 10/3/2008 tại Quyết định 36/2008/QĐ-TTg. Chiến lược đưa ra mục tiêu
cụ thể giai đoạn 2008-2010, ngành Dệt may tăng trưởng sản xuất hàng năm từ
16-18%, tăng trưởng xuất khẩu đạt 20%. Giai đoạn 2011-2020, tăng trưởng
sản xuất hàng năm từ 12-14%, tăng trưởng xuất khẩu đạt 15%. Doanh thu
tưởng GDP của cả nước. Đặc biệt, năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả
nước đạt 48 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may đạt
7,78 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ chiếm 16% tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước, đóng góp 11% cho GDP, cao nhất trong giai đoạn từ năm
2000 đến nay. Cũng trong năm 2007, Lần đầu tiên Việt Nam đã lọt vào top 10
nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu Dệt may. Ngành Dệt may đã phát
triển thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất của
Việt Nam.
Với tỷ lệ trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ đóng góp vào GDP
như trên, ngành Dệt may thực sự xứng đáng là một ngành công nghiệp xuất
khẩu mũi nhọn của Việt Nam. Không những thế, lần đầu tiên ngành dệt may
Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới.
Qua đó, ngành Dệt may đã góp phần tạo dựng danh tiếng và hình ảnh Việt
Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may
xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may xuất khẩu
là vì những lý do sau:
Một là, như ta đã biết, cạnh tranh là yếu tố đặc trưng của cơ chế thị
trường và không ai có thể phủ nhận vai trò tích cực của nó trong cơ chế thị
trường.
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Cạnh tranh thúc đẩy sự lưu động các yếu tố sản xuất và phân phối lại
tài nguyên. Các Mác cho rằng: Cạnh tranh là sức ép từ bên ngoài buộc các
nhà tư bản không ngừng tích lũy tư bản. Trong cuộc cạnh tranh một mất một
còn, để tăng cường thực lực giúp mình chiến thắng trong cạnh tranh, nhà tư
bản cũng phải đầu tư ngày càng nhiều tư bản để mở rộng sản xuất, áp dụng kỹ
thuật mới, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Mà năng suất
lao động thì lại trực tiếp do trình độ kỹ thuật sản xuất, qui mô sản xuất và việc
định 36/2008/QĐ-TTg. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh để ngành Dệt
may là một ngành chủ lực của Việt Nam là một chiến lược của Việt Nam
trong điều kiện Việt Nam thực hiện Công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Dệt may xuất khẩu Việt
Nam trên thị trường thế giới sẽ đem về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng
kể để phát triển đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao
mức sống cho người dân… đồng thời còn nâng cao uy tín của hàng Việt Nam,
nâng cao uy tín và tạo dựng hình ảnh của Việt Nam với bạn bè thế giới.
Bốn là, trong tiến trình tự do hóa thương mại và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam, các rào cản thương mại dần bị cắt giảm hay xóa bỏ,
một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu toàn
cầu nhưng nó cũng tạo ra những áp lực cạnh tranh to lớn buộc ngành Dệt may
nước ta phải tự biến đổi. Thứ nhất, Việt Nam cam kết xóa bỏ rào cản thương
mại về hàng hóa nói chung và hàng Dệt may nói riêng, ngành Dệt may không
chỉ bị cạnh tranh ở nước ngoài mà còn gặp phải nguy cơ “thua ngay trên sân
nhà” như một số nhận định của một số chuyên gia. Thứ hai, áp lực cạnh tranh
sẽ tăng khi các nước xuất khẩu đều được hưởng những ưu đãi từ nước nhập
khẩu (như giảm thuế nhập khẩu, xóa bỏ hạn ngạch hay quy chế giám sát…)
22
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may là cách duy nhất vừa
khống chế đuợc nguy cơ từ cạnh tranh vừa tận dụng tốt những cơ hội trong
tiến trình hội nhập.
1.4. KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY XUẤT KHẨU
1.4.1. Trung Quốc
Cách đây 20 năm, ngành Dệt may Trung Quốc còn chưa đáp ứng nổi
những nhu cầu của thị trường trong nước, thì đến nay, nhờ sự đột phá mạnh
về đầu tư nhằm hiện đại hóa và phát triển, công nghiệp Dệt may Trung Quốc
triệu lao động ngành Dệt may và khoảng 100 triệu nông dân tham gia vào quá
trình sản xuất nguyên liệu cung cấp cho ngành Dệt may .
Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực đặc
biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lực trong lĩnh vực thiết
kế thời trang. Hệ thống đào tạo của Trung Quốc là một hệ thống rất chặt chẽ
và quy mô lớn. Hiện tại, cả nước đã có 140 trường đào tạo về thời trang.
Trung bình 1 năm, các doanh nghiệp bỏ ra 70 giờ cho công tác đào tạo công
nhân, trong khi Canada là 32 giờ, Ấn Độ là 10 giờ ( thống kê của chandra et
al. , 1998).
Đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã là một nét đặc trưng của ngành công
nghiệp Dệt may xuất khẩu Trung Quốc. Trung Quốc sớm theo đuổi chiến
lược kép trong việc thiết lập thị trường: “Sản xuất khối lượng lớn sản phẩm
với giá trị thấp và khối lượng nhỏ hơn những sản phẩm giá trị cao”. Nhờ chiến
lược này, hàng hóa Trung Quốc có thể thỏa mãn đa dạng nhu cầu thị trường
và chiếm lĩnh hầu hết các phân khúc thị trường Dệt may thế giới.
24
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
Cuối cùng, Hồng Kông đóng vai trò chủ chốt cho tăng tưởng của ngành
công nghiệp Dệt may Trung Quốc. Hồng Kông là trung tâm thiết kế mẫu mã
thời trang của Trung Quốc cũng như toàn thế giới. Đồng thời Hồng Kông có
hệ thống tài chính, dịch vụ cảng biển hiện đại nhất thế giới, nó cho phép
doanh nghiệp Dệt may rút ngắn thời gian giao hàng, đáp ứng được nhu cầu
giao hàng gấp của khách hàng.
Một mạng lưới sản xuất chi thấp ở Trung Quốc đại lục, một trung tâm
thiết kế thời trang hiện đại, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi và chi phí thấp, bên cạnh đó
là những nhà tạo lập thị trường rộng khắp Châu Âu và Hoa Kỳ… Tất cả
những yếu tố trên khiến Ngành Dệt may Trung Quốc luôn chiếm vị trí số một
trong thị trường Dệt may thế giới.
1.4.2. Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia lớn thứ hai thế giới về sản xuất dệt may với 31000