Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh ngành Dệt may xuất khẩu Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế.” Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
2
văn cũng không xem xét sự cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
3
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, so sánh, tổng hợp
phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận làm
sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: “Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và sự cần thiết
phải nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may xuất khẩu Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
Chương 2: “Thực trạng năng lực cạnh tranh ngành Dệt may xuất
khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế”
Chương 3:“Định hướng giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành
Dệt may xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
Chương 1
5
Trên bình diện doanh nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh luôn là
mục tiêu phát triển thường trực và lâu dài của mỗi doanh nghiệp. Bằng sự
thúc đẩy của lợi nhuận, doanh nghiệp luôn muốn đi đầu về chất lượng, giá cả,
mẫu mã, dưới áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp không ngừng
cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới cách
quản lý doanh nghiệp một cách hiệu quả.
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trong thực tế, tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về sức cạnh tranh hay
năng lực cạnh tranh. Đó là bởi cụm từ này là một phạm trù quá lớn để có thể tiếp
cận từ mọi khía cạnh. Chủ thể cạnh tranh có thể là của các tổ chức, ngành, lĩnh
vực, sản phẩm hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới nó như
hiệu quả thị trường, như các chính sách, cơ cấu thị trường và nghiệp vụ kinh
doanh về thương mại, đầu tư và các quy định…
M. Porter, người trong Hội đồng về năng lực cạnh tranh các ngành ở
Hoa Kỳ cho rằng chưa có định nghĩa thống nhất nào về năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, Hội đồng về năng lực cạnh tranh của Hoa Kỳ cũng đề nghị một
định nghĩa năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh là năng lực
kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của nền sản xuất của một nước có thể vượt qua
thử thách trên thị trường thế giới trong khi sức sống của dân chúng nước ấy
có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài”
1
. Định nghĩa này tuy lột
tả được được tính cạnh tranh nhưng lại bị bó hẹp về năng lực cạnh tranh cấp
quốc gia, chưa nhấn mạnh đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của
ngành.
1
The First Report to the President and Congress, 1992, Requested by Mr. Fred Bergsten, Chairman of
the Competitiveness Policy Council in the US House of Representatives, 15 March 1995.
của OECD trong phân tích. Tuy nhiên, tác giả muốn bổ xung khái niệm này
dựa vào các định nghĩa trên như sau:
2
Goode, W., Dictionary of Trade Policy, Center for International Economics Studies, University of
Adelaide, 1997.
3
Từ điển thuật ngữ kinh tế học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001, tr. 349.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
7
“Năng lực cạnh tranh là khả năng một doanh nghiệp, một ngành hay
một quốc gia có khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh
để tạo ra thu nhập và việc làm cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
1.1.3. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được chia ra thành ba cấp độ:
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành/ doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
Việc phân chia cấp độ năng lực cạnh tranh như trên chỉ có tính tương
đối. Mỗi một cấp độ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, bất cứ một
doanh nghiệp nào cũng đều sản xuất hoặc kinh doanh một loại hàng hóa dịch
vụ nhất định. Chỉ khi hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp có sức cạnh tranh
thì doanh nghiệp mới có sức cạnh tranh trên thị trường. Một ví dụ khác, ngành
Dệt may Việt Nam có sức cạnh tranh, có thị phần lớn trên thị trường thế giới
cũng có thể nói Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới,…
Do vậy, cần phải nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên mối quan hệ giữa các
cấp độ.
6
.
Tuy là định nghĩa của cấp ngành nhưng OECD đã gắn với điều kiện cạnh
tranh quốc tế. Định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế hiện nay. Năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. Nói
chung, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành tuỳ
thuộc vào khả năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ, chất lượng, mức giá bằng
hoặc thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không cần đến trợ giá.
1.1.3.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá
4
Prepared jointly by UNIDO and DSI - Development Strategy Institute - Ministry of Planning and
Investment, Vietnam industrial competitiveness review , 1999, p. 6.
5
Global Competitiveness report, 1997.
6
OECD, Competitive Policy: A New Agenda
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
9
Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự
khác biệt, thương hiệu, bao bì hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hoá
cùng loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá lại được định
đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của sản
phẩm hàng hoá yếu khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh sản phẩm đó thấp. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm,
không những doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
quả các thể chế pháp lý, luật và các văn bản pháp quy khác.
1.1.4.2. Yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh
nghiệp
Năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp được xác định trên cơ sở
bốn nhóm yếu tố cơ bản bao gồm:
- Chất lượng và khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa đầu vào:
bao gồm khả năng chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất, nguồn công
nghệ và nguồn vốn. Việc sản xuất của ngành hay doanh nghiệp có được
chuyên môn hóa qua từng khâu hay không, khả năng cung ứng sản phẩm triên
thị trường thế nào?
- Công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ: bao gồm hệ thống giao thông, thông
tin liên lạc hay hệ thống tài chính, tư vấn…
- Nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu của khách hàng về chất
lượng sản phẩm, dịch vụ: Điều này là đánh giá năng lực cạnh tranh trên
phương diện nhu cầu sản phẩm, dịch vụ ngành/ doanh nghiệp cung ứng.
Thông qua nghiên cứu nhu cầu, ta có thể xác định được khả năng cung ứng
của ngành/ doanh nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
11
- Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực mà ngành/doanh nghiệp kinh doanh
và vị thế của ngành/doanh nghiệp so với các ngành/doanh nghiệp khác: Đây
là yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh nghiệp
trên thị trường. Các thông số có thể đánh giá là so sánh thị phần của ngành
hay doanh nghiệp trên thị trường, quy mô của ngành…
1.1.4.3. Yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thể hiện tập trung ở 4 yếu tố:
Giá cả:
Giá cả sản phẩm là biểu hiện về khả năng sản xuất hiệu quả hay không,
nay, các doanh nghiệp ngày càng đầu tư nhiều cho thương hiệu sản phẩm và
marketing sản phẩm
1.2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH/DOANH NGHIỆP
1.2.1. Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của ngành
1.2.1.1. Phương pháp 1: Phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh
giá lợi thế so sánh hay khả năng sinh lời trên một đơn vị sản phẩm
Phương pháp này đánh giá năng lực cạnh tranh trong trạng thái động
dựa trên hệ thống các chỉ số. Các chỉ số này cho phép xác định được mức độ
đóng góp của ngành/doanh nghiệp vào nền kinh tế. Khi phân tích năng lực
cạnh tranh theo phương pháp này cần tính đến một số dự báo như: Biến động
chu kỳ sản phẩm, mức độ phổ biến công nghệ và tích lũy kinh nghiệm, chi phí
đầu vào, những thay đổi trong chính sách của Chính phủ và khuynh hướng
phát triển…
Ưu điểm của phương pháp này là đưa ra được những phân tích định
lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, phương pháp này khá phức
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
13
tạp và khó thực hiện, ít được áp dụng trong thực tế, đặc biệt rất khó ứng dụng
vào việc phân tích năng lực cạnh tranh của một ngành ở nước ta.
1.2.1.2. Phương pháp 2: Phân tích theo quan điểm tổng hợp
Hầu hết các khái niệm cạnh tranh xét từ phạm vi của ngành/doanh nghiệp
đều đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở chi phí thấp, sản phẩm tốt,
công nghệ cao hoặc là tổ hợp của các yếu tố này. Một nhà sản xuất thường
được gọi là nhà sản xuất cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng một sản phẩm
có chất lượng tốt với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh. Một doanh
nghiệp được xem là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó duy trì được
vị thế của mình trên thị trường cùng các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay
1.2.1.3. Phương pháp 3: Phân tích năng lực cạnh tranh theo cấu trúc
ngành của Michael Porter
Đây chính là phương pháp phân tích theo “Quan điểm quản trị chiến
lược” của Michael Porter. Theo phương pháp này, đối với mỗi ngành, năng
lực cạnh tranh được xem xét theo 5 yếu tố:
Sự thâm nhập của các tổ chức mới vào lĩnh vực kinh doanh;
Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế;
Sức mạnh của nhà cung ứng;
Sức mạnh của người mua;
Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành .
(Tham khảo phụ lục 2: Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
theo mô hình kim cương của Michael Porter)
Đây là một phương pháp phân tích sâu những nhân tố chính tác động
đến lợi thế cạnh tranh của ngành. Tuy nhiên, cả năm nhân tố trên đây là
những nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành. Sẽ rất
thiếu xót nếu đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành nếu không xét đến
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
15
yếu tố bên trong của ngành (năng lực sản xuất của ngành). Hơn nữa, trong mô
hình có xét đến sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, nhưng trong phạm vi luận
văn tác giả không nghiên cứu sự cạnh tranh trong ngành. 1.2.2. Xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
Tác giả xin được đề xuất mô hình riêng trong nghiên cứu đề tài này. Về
cơ bản mô hình này phỏng theo mô hình của Michael Porter, tác giả có lược
đi một vài yếu tố “ngoại vi” và thêm vào yếu tố “nội vi” cho phù hợp với mục
đích nghiên cứu của đề tài.
tích đối thủ cạnh tranh của nước khác trong ngành Dệt may trên thị trường
quốc tế
Ngành hỗ trợ liên quan: Trong một nền kinh tế có thể nói không có
một ngành nào lại độc lập hoàn toàn với ngành khác. Các ngành luôn có sự
tác động qua lại với nhau. Một ngành chỉ có thể phát triển được nếu có các
ngành hỗ trợ liên quan mà bản thân ngành đó không tự đáp ứng được. Trong
luận văn này, tác giả chỉ phân tích công nghiệp phụ trợ cho ngành Dệt may
xuất khẩu của Việt Nam.
Môi trường cơ chế chính sách: Có thể nói đây là yếu tố bên ngoài
quan trọng nhất đối với khả năng phát triển của ngành. Mỗi một quốc gia đều
lựa chọn cho mình một số ngành mũi nhọn và đưa ra những chính sách thích
hợp để tạo môi trường thuận lợi nhằm mở rộng quy mô của ngành, tăng lợi
thế cạnh tranh của ngành như: Xây dựng một chiến lược dài hạn cho phát
triển ngành, xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở, quy hoạch vùng nguyên liệu
nhằm tạo điều kiện phát triển cho ngành, hay tạo ra các rào cảng thuế và phi
thuế làm giảm áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, và không thể không nhắc tới
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
17
các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường thế giới… Trong luận văn này, tác giả chỉ phân tích môi trường cơ chế
chính sách của Việt Nam đã áp dụng tác động đến năng lực cạnh tranh của
ngành Dệt may xuất khẩu của Việt Nam. 1.2.3. Lý thuyết về mô hình SWOT
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được
sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ
thảo luận và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra
và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính
sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vự hoạt động của tổ chức, từ sự thay
đổi khuôn mẫu xã hội, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực. Phương thức tìm
kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của tổ chức và tự đặt câu hỏi liệu
các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không. Cũng có thể làm ngược lại, rà
soát các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu
loại bỏ được chúng.
- Threats: Những trở ngại đang gặp phải là gì? Các đối thủ cạnh tranh
đang làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có
thay đổi gì không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với tổ chức hay không?
Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? Liệu có yếu điểm nào đang đe doạ
tổ chức không? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải
làm và biến yếu điểm thành triển vọng.
Mô hình phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng của tổ
chức thông qua việc phân tích tình hình bên trong (Strengths và Weaknesses)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
19
và bên ngoài (Opportunities và Threats) của tổ chức. SWOT thực hiện lọc
thông tin theo một trật tự dễ hiểu và dễ xử lý hơn.
Trong phần cuối chương 2 của luận văn, tác giả sử dụng mô hình này
để tổng kết lại năng lực cạnh tranh của ngành Dệt may xuất khẩu Việt Nam.
Mô hình SWOT là một công cụ quan trọng để đề xuất, giải pháp sau khi phân
tích và đánh giá thực trạng. Lý thuyết về mô hình SWOT trên đây không chỉ
dành để phân tích trong các doanh nghiệp mà nó còn áp dụng để đưa ra những
giải pháp vĩ mô như trong luận văn này.
1.3. VỊ TRÍ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH NGÀNH DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG ĐIỀU
KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
2015, định hướng đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 10/3/2008 tại Quyết định 36/2008/QĐ-TTg. Chiến lược đưa ra mục tiêu
cụ thể giai đoạn 2008-2010, ngành Dệt may tăng trưởng sản xuất hàng năm từ
16-18%, tăng trưởng xuất khẩu đạt 20%. Giai đoạn 2011-2020, tăng trưởng
sản xuất hàng năm từ 12-14%, tăng trưởng xuất khẩu đạt 15%. Doanh thu
toàn ngành đến 2010 đạt 14,8 tỷ USD, tăng lên 22,5 tỷ USD vào năm 2015 và
lên 31 tỷ USD trong đó, xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.
Bảng 1.1. Bảng so sánh kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may
với tổng kim ngạch xuất khẩu và GDP (ĐV: Ngàn USD)
Năm
2000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
XKDM
(1)
1892 1975 2732 3609 4385 4862 5784
7780
KNXK
(2)
14482
15029
16706
20149
13,1 13,1 16,3 17,9 16,5 15 14,9 16
(1)/(3)
ĐV: %
6,8 6,6 8,1 9,4 9,8 9,3 9,5 11,8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
21
Từ đó đến nay, ngành Dệt may Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu trong
10 ngành có kim ngạch lớn nhất của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khoảng
20 – 40% và tốc độ tăng trưởng này khá ổn định. Kim ngạch xuất khẩu của
ngành Dệt may luôn chiếm khoảng từ 13 đến 17% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nước, chiếm khoảng 6% cho GDP hàng năm, đóng góp đáng kể vào tăng
tưởng GDP của cả nước. Đặc biệt, năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu cả
nước đạt 48 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may đạt
7,78 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ chiếm 16% tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước, đóng góp 11% cho GDP, cao nhất trong giai đoạn từ năm
2000 đến nay. Cũng trong năm 2007, Lần đầu tiên Việt Nam đã lọt vào top 10
nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu Dệt may. Ngành Dệt may đã phát triển
thành một trong những ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất của Việt Nam.
Với tỷ lệ trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ đóng góp vào GDP
như trên, ngành Dệt may thực sự xứng đáng là một ngành công nghiệp xuất
khẩu mũi nhọn của Việt Nam. Không những thế, lần đầu tiên ngành dệt may
Việt Nam nằm trong top 10 nước xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới.
Qua đó, ngành Dệt may đã góp phần tạo dựng danh tiếng và hình ảnh Việt
Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Dệt may
- Nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất, tăng năng
suất lao động, thúc đẩy sự sáng tạo…
Hai là, Ngành Dệt may Việt Nam có lợi thế để phát triển như: Đây là
ngành mà nước ta có truyền thống lâu đời; do bản chất của người Việt Nam
cần cù chịu khó, khéo tay nên thích hợp với nghề Dệt may; nguồn lao động
của Việt Nam khá dồi dào và rẻ. Đây là lợi thế lớn so với các nước trong khu
vực. Tuy nhiên, trình độ phát triển ngành Dệt may Việt Nam còn hạn chế so
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
23
với các nước tiên tiến là một thách thức lớn. Sớm nhận thức được lợi thế và
cơ hội này, Chính phủ đã chủ trương phát triển ngành Dệt may thành ngành
công nghiệp mũi nhọn, ngành chủ lực xuất khẩu trong tiến trình công nghiệp
hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Ngày 23 tháng 4
năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dệt
may đến năm 2010 theo QĐ số 55/2001/QĐ-TTg và Chiến lược phát triển
ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm
2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 10/3/2008 tại Quyết
định 36/2008/QĐ-TTg. Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh để ngành Dệt
may là một ngành chủ lực của Việt Nam là một chiến lược của Việt Nam
trong điều kiện Việt Nam thực hiện Công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Dệt may xuất khẩu Việt
Nam trên thị trường thế giới sẽ đem về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng
kể để phát triển đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao
mức sống cho người dân… đồng thời còn nâng cao uy tín của hàng Việt Nam,
nâng cao uy tín và tạo dựng hình ảnh của Việt Nam với bạn bè thế giới.
Bốn là, trong tiến trình tự do hóa thương mại và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam, các rào cản thương mại dần bị cắt giảm hay xóa bỏ,
Về chính sách, Nét nổi bật trong chính sách phát triển ngành công
nghiệp Dệt may xuất khẩu của mình là đầu tư mạnh cho tài sản cố định và
công nghệ sản xuất. Trung Quốc đã triển khai kế hoạch tái cơ cấu một cách
triệt để từ năm 1998 nhằm hiện đại hóa ngành Dệt may. Chính phủ Trung
Quốc cho thành lập tổ chức nghiên cứu phát triển (commercial R&D
organization), Tập đoàn phát triển công nghệ và khoa học dệt Trung Quốc
(The Chinese Textile Science and Technology Development Corporation)
nhằm tìm ra những thế mạnh mới trong ngành công nghiệp Dệt may . Hiện
tại, Trung Quốc đang khởi động kế hoạch 5 năm lần thứ 10 với khẩu hiệu “Từ
ngành Dệt may quy mô lớn sang một ngành Dệt may mạnh”. Năm 2000,
Chính Phủ và Nhà nước Trung Quốc trợ cấp không hoàn lại 4,2 tỷ USD và
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Đỗ Thị Hương
25
2,9 tỷ USD cho vay ưu đãi để nâng cấp thiết bị công nghệ thuộc dạng hiện đại
nhất thế giới cho toàn ngành. Tổng cộng trong 3 năm 2001 đến 2004, Trung
Quốc đầu tư 21 tỷ USD nhằm nâng cấp 3500 nhà máy toàn ngành.
Công nghệ phụ trợ cho công nghiệp Dệt may Trung Quốc rất phát triển,
đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu. Các doanh nghiệp Dệt may liên
kết chặt chẽ với nông dân bằng cách bao tiêu sản phẩm, đảm bảo giá thu mua
nguyên liệu nên vùng nuôi trồng nguyên phụ liệu luôn được ổn định. Năm
2002 sản lượng bông của Trung Quốc là 8,2 triệu tấn, sản lượng vải là 32,2 tỷ
mét vuông. Năm 2005, Trung Quốc chiếm 26% sản lượng sợi dệt, 33% sản
lượng chỉ, 25% sản lượng vải của toàn thế giới. Phó chủ tịch Hội đồng ngành
Dệt may Trung Quốc, Ông Xu Kunyuan cho biết Trung Quốc hiện có tới 19
triệu lao động ngành Dệt may và khoảng 100 triệu nông dân tham gia vào quá
trình sản xuất nguyên liệu cung cấp cho ngành Dệt may .
Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực đặc
biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lực trong lĩnh vực thiết