ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HẠNH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
WTO CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội – 2013
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Dậu. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là hoàn toàn trung thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được
ai công bố. Nếu có gì gian dối tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm
2013
Học viên Nguyễn Thị Hạnh
cho em tiếp tục nghiên cứu khoa học, những bạn học cùng lớp, những đồng nghiệp
tốt bụng đã có những thảo luận khoa học và đóng góp quý báu, chân thành góp ý
cho em trong thời gian hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa, em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 201
Học viên
Nguyễn Thị Hạnh
MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
Danh mục các hộp iv
Mở đầu 1
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT của doanh nghiệp trong
điều hiện hội nhập WTO 9
1.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp 9
1.1.1. Khái niêm và các yếu tố cấu thành 9
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng 19
1.1.3. Tiêu chí đánh giá 28
1.2. Tác động của hội nhập WTO tới NLCT của doanh nghiệp 35
1.2.1. Tăng khả năng duy trì và mở rộng thị phần 36
1.2.2. Tác động tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 38
1.2.3. Tăng hiệu suất các yếu tố sản xuất 38
1.2.4. Tăng khả năng cạnh tanh của sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu
của thị trường 39
1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc về nâng cao NLCT của DNNN trong môi
trường WTO 40
qua phát huy nội lực trong các DNNN trong điều kiện WTO 111
3.2.2. Nhóm các giải pháp vĩ mô 126
3.3. Đề xuất, kiến nghị 131
3.3.1. Kiến nghị Chính phủ và các bộ ngành liên quan 131
3.3.2. Kiến nghị các doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp 133
Kết luận 135
Tài liệu tham khảo 138
Phụ lục 145
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3
CNTT
Công nghệ thông tin
4
CPH
Cổ phần hóa
5
CTCP
Công ty cổ phần
6
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
7
DNTMNN
Doanh nghiệp thương mại nhà nước
8
HHDN
Hiệp hội doanh nghiệp
9
KHCN
Khoa học công nghệ
10
KTQT
Kinh tế quốc tế
11
KT – XH
Kinh tế - xã hội
12
WTO
Tổ chức thương mại quốc tế (World Trade
Organization)
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
2.1
Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với
WTO
56
2
2.2
Tổng dư nợ của một số tập đoàn lớn tại Việt
Nam
79
3
2.3
NSLĐ xã hội bình quân theo tỷ giá hiện hành
phân theo thành phần kinh tế (USD/người)
82
4
2.4
94
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
Số hiệu
Tên hình vẽ
Trang
1
2.1
Tổng mức bán lẻ/GDP qua một số năm (%)
73
2
2.2
Cơ cấu tổng mức bán lẻ theo loại hình kinh tế (%)
74
3
2.3
Đóng góp GDP của các thành phần kinh tế (tỷ
đồng)
78 iii
DANH MỤC CÁC HỘP
STT
Số hiệu
Tên hộp
Trang
1
1.1
10 Tiêu chí để chọn CEO tài năng
23
2
1.2
Hệ thống một số bộ tiêu chuẩn chất lượng quôc tế
ISO
33
3
1.3
WTO và Đối xử MFN tại Hoa Kỳ
37
4
2.1
CTCP bóng đèn – phích nước Rạng Đông
71
i
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế hiện đại. Cạnh tranh là
động lực thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) và phát triển kinh tế
thị trường (KTTT). Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các hình thức
cạnh tranh cũng được mở rộng và phong phú đòi hỏi các doanh nghiệp, các
chủ thể trong nền kinh tế tất yếu phải nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT)
của mình.
Trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà
nước (DNNN) có vai trò đặc biệt quan trọng. Hơn 20 năm tiến hành đổi mới
kinh tế, cải cách DNNN đã từng bước đưa khu vực doanh nghiệp này hội
nhập và phát triển. Hiện nay, các DNNN đã có sự phát triển về quy mô, mở
rộng và đa dạng các ngành nghề, sự cải thiện về NLCT và sự thích ứng hơn
với những biến đổi của môi trường kinh doanh. Điều đó đã mang lại những
thành tựu, đóng góp quan trọng của DNNN vào sự phát triển chung của nền
kinh tế: sự tăng trưởng trong ngân sách nhà nước, từng bước hội nhập kinh tế
quốc tế, đặc biệt trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo
các vấn đề an sinh xã hội.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khối DNNN vẫn chưa thực sự có được hiệu
quả hoạt động cao về mặt kinh tế, đặc biệt là các hoạt động nâng cao NLCT
của mình trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Điều đó đã ảnh hưởng
không nhỏ tới vị thế của DNNN trong nền kinh tế Việt Nam. Dưới tác động
của WTO và việc thực hiện các cam kết WTO buộc các DNNN ở Việt Nam
phải không ngừng đổi mới cả về quy mô lẫn hiệu quả hoạt động của mình để
trở thành một chủ thể bình đẳng trong một sân chơi chung. Điều đó càng đòi
3
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về DNNN
được công bố. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về sự phát triển của
DNNN như:
*Nghiên cứu DNNN và cải cách DNNN
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Cúc - Kim Văn Chính (2006):“Sở
hữu nhà nước và DNNN trong nền K TTT định hướng XHCN ở Việt Nam”,
NXB Lý luận chính trị, làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về sở hữu nhà nước
và DNNN trong nền KTTT định hướng XHCN; đánh giá quá trình đổi mới và
đề xuất chính sách, giải pháp đối với sở hữu nhà nước và DNNN trong nền
KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; vấn đề đổi mới quản lý đối với sở hữu
nhà nước và DNNN ở Việt Nam.
- Tác giả Ngô Thắng Lợi(2004), DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội
ở Việt Nam đến năm 2010, NXB Chính trị Quốc gia. Tác giả đã đề cập tới
những lý luận về DNNN trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam; những
kinh nghiệm phát triển của DNNN ở nước ngoài để vận dụng cho Việt Nam.
*Những công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TĐKTNN
Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiễn
về TĐKTNN, nhưng đáng chú ý là những bài viết tham gia Hội thảo “Tập
đoàn kinh tế - Lý luận và thực tiễn” tháng 4/2009, trong đó nổi bật là những
công trình sau :
- TS Nguyễn Quang A (Viện nghiên cứu phát triển IDS), Địa vị và vai
trò của các TĐKTNN.
- Trần Xuân Lịch, phó Viện trưởng viện nghiên cứu quả lý kinh tế TW,
TĐKT Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
- TS Trần Du Lịch (Ủy viên Ủy ban kinh tế Quốc hội), Một vài suy nghĩ
về mô hình tổ chức TĐKTNN ở nước ta.
4
nghiệm trong nước, quốc tế về nâng cao NLCT của doanh nghiệp, tác giả
đánh giá về thực trạng cạnh tranh và môi trường pháp lý của cạnh tranh Việt
Nam nói chung, thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp Hà Nội nói riêng.
Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Tác giả Trần Sửu (2006), NLCT của doanh nghiệp trong điều kiện TCH,
NXB Lao động. Tác giả đã phân tích và làm rõ hơn những lý luận về NLCT
của doanh nghiệp trong điều kiện TCH; các nhân tố ảnh hưởng và các nhân tố
cấu thành NLCT của doanh nghiệp.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Hà Thị Cẩm Vân (2011), Phát triển DNNN
Việt Nam – Những vấn đề đặt ra và giải pháp, phân tích những vấn đề đặt ra
trong sự phát triển DNNN Việt Nam cần được tháo gỡ và những giải pháp cần
thiết cho quá trình.
*Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cải cách, phát triển, hội nhập
của DNNN
Công trình của Phạm Sỹ Thành (2005): “Con đường phát triển DNNN
Trung Quốc từ 1949 đến 2004”, NXB Thế Giới viết về: Hệ thống DNNN ở
Trung Quốc trước năm 1978. Sự trói buộc của thể chế kinh tế truyền thống;
hành trình tìm con đường phát triển hiệu quả DNNN - Những biện pháp cải
cách vi mô là vĩ mô; nhận thức về những nhân tố tạo nên thành công của cải
cách DNNN ở Trung Quốc: bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Hữu Tầng và Lưu Hàm Nhạc
(2002): “Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế
ở Trung Quốc” đã đi sâu phân tích, lý giải những cơ sở lý luận và thực tiễn
vấn đề cải cách DNNN ở Trung quốc từ năm 1978 – 2001, vấn đề được tổng
kết theo lộ trình thực hiện trên phượng diện so sánh với công cuộc cải cách
DNNN Việt Nam.
6
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác về các
vấn đề DNNN trong thời gian qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của
yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm: phương pháp logic –
lịch sử, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thống kê, so
sánh…Cụ thể:
Phương pháp lô gích, tổng hợp được sử dụng để xây dựng khung khổ lý
thuyết về NLCT của doanh nghiệp và tác động của hội nhập KTQT tới NLCT
của DNNN. Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu kinh nghiệm
của một số nước trong việc nâng cao NLCT của doanh nghiệp. Sử dụng kết
hợp phương pháp lô gích và phương pháp lịch sử được thể hiện tập trung nhất
trong cấu trúc toàn bộ luận văn, đặc biệt trong nghiên cứu chương 1.
Để phân tích, đánh giá thực trạng NLCT của DNNN Việt Nam trong môi
trường WTO ở chương 2, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích,
so sánh các số liệu, tài liệu, tình hình thực tế tại Tổng cục thống kê, Ban Đổi
mới và Phát triển DNNN, các Bộ, Ban, ngành… Phương pháp phân tích – tổng
hợp, phương pháp so sánh được sử dụng trong việc đánh giá những thành công,
những hạn chế và nguyên nhân của tình hình nâng cao NLCT của DNNN Việt
Nam.
Ở chương 3, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp, phương
pháp logic được sử dụng chủ yếu nhằm làm rõ cơ hội và thách thức đối với
việc nâng cao NLCTcủa DNNN Việt Nam, cũng như việc đưa ra các giải pháp
nhằm tiếp tục nâng cao NLCT của DNNN Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn
đến năm 2020.
Luận văn sử dụng các công cụ phân tích kinh tế như: dãy số liệu, mô hình
kinh tế, biểu đồ để minh họa và phân tích nội dung.
6. Những đóng góp mới của đề tài
8
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT và nâng cao NLCT của
doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng trong điều kiện hội nhập WTO.
- Phân tích, đánh giá NLCT của DNNN; phát hiện ra những bất cập và
nguyên nhân của tình hình.
1.1.1.1. Khái niệm
*Cạnh tranh
Có nhiều cách định nghĩa về cạnh tranh, tùy theo từng giác độ nghiên
cứu. Ở phạm vi doanh nghiệp, cạnh tranh nhằm mục tiêu chủ yếu là tồn tại và
tìm kiếm lợi nhuận tối đa.
Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [18, 60]. Nghiên cứu về
quá trình sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa,
Marx đã phát hiện ra kết quả của cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản là quy luật
tỷ suất lợi nhuận bình quân, từ đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường
và giá cả sản xuất.
Theo cách định nghĩa của Đại từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì:
“Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản
xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền KTTT, bị
chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ,
thị trường có lợi nhất”. Theo quan niệm này, các chủ thể của cạnh tranh là
các chủ thể kinh tế và mục đích của cạnh tranh là giành được các điều kiện
sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng vẫn là theo
đuổi mục tiêu lợi nhuận tối đa.
Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt định nghĩa rằng: “Cạnh tranh là
sự đối nghịch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành
10
được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là
bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa
tốt nhất.”. Định nghĩa này khẳng định cạnh tranh diễn ra giữa các doanh
nghiệp trên cùng một thị trường nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận; đồng
thời cũng chỉ ra hai phương thức cạnh tranh cơ bản là hạ thấp giá bán hoặc
nâng coa chất lượng sản phẩm.
Khái niệm NLCT của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một
cách thống nhất. Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về NLCT của doanh
nghiệp đáng chú ý.
Một là, NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến
hiện nay, theo đó NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ
và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Cách quan niệm này có thể gặp
trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995),
Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban
Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế). Cách quan niệm như vậy tương đồng
với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách
quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách
bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, NLCT của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn
công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của
Mỹ đưa ra định nghĩa: NLCT là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên
thị trường thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho
rằng: NLCT là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác
12
đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về NLCT như vậy mang tính chất
định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, NLCT đồng nghĩa với NSLĐ. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD): NLCT của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương
đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh
nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter
(1990), NSLĐ là thức đo duy nhất về NLCT. Tuy nhiên, các quan niệm này
chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Bốn là, NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Chẳng hạn, TS. Vũ Trọng Lâm cho rằng: “NLCT của doanh nghiệp là khả
Thứ ba, NLCT của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh
tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những
phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế
cạnh tranh, dựa vào quy chế.
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm NLCT của doanh nghiệp
như sau:
NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo
sự phát triển kinh tế bền vững.
*Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở các ưu thế của doanh
nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh
tranh. Ưu thế này có thể dẫn đến chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản
phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp và được thể hiện tành tỷ suất lợi nhuận cao
hơn. Lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có điểm mạnh so với các
14
yếu tố nội tại khác của chính nó; đồng thời phải có điểm mạnh so với các yếu
tố, chức năng tương ứng của các đối thủ cạnh tranh.
*Vị thế cạnh tranh
Vị thế cạnh tranh được ví như một bức ảnh chụp doanh nghiệp trong môi
trường cạnh tranh tại một thời điểm. Vị thế cạnh tranh thể hiện vị trí tương
đối của doanh nghiệp trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Ngoài các
chỉ tiêu quy mô vốn kinh doanh, lượng hàng tiêu thụ, doanh thu…, vị thế
cạnh tranh thường được thể hiện rõ nhất thông qua chỉ tiêu thị phần.
1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành NLCT của doanh nghiệp
Các yếu tố cấu thành NLCT là các yếu tố bộ phận cấu thành nên sức
cạnh tranh Dưới đây là một số các yếu tố cấu thành nên NLCT của doanh
nghiệp: năng lực mở rộng thị phần, năng lực thu hút nguồn lực, năng lực cạnh