152 Vấn đề quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Thực trạng và giải pháp - Pdf 24

MỤC LỤC

Trang

Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN
1
1.1. Khái niệm về vốn và bản chất của vốn 1
1.2. Phân loại vốn 1
1.2.1. Căn cứ theo đặc điểm vận động của vốn 1
1.2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành vốn 3
1.2.3 Căn cứ theo yêu cầu đầu tư và sử dụng 3
1.3. Quản lý vốn của doanh nghiệp nhà nước 3
1.3.1. Vấn đề tạo lập vốn và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu 3
1.3.1.1. Vấn đề tạo lập vốn 3
1.3.1.2. Vấn đề xây dựng cấu trúc vốn tối ưu 5
1.3.1.3. Chi phí sử dụng vốn 6
1.3.2. Vấn đề quản lý vốn 8
1.3.2.1. Quản lý vốn cố định 9
1.3.2.2. Quản lý vốn lưu động 12
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VỐN TẠI 15
TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (TCTDKVN)
2.1. Tổng quan về Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
15
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 15
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của TCTDKVN 16
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của TCTDKVN 17
2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của TCTDKVN 17

50
3.2.2.1. Giải pháp đối với vốn cố định 50
3.2.2.2. Giải pháp đối với vốn lưu động 53

3.2.2.3. Giải pháp đối với vốn đầu tư 53
3.2.2.4. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát quá trình sử dụng
55
vốn sản xuất kinh doanh trong TCTDKVN.
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện chế độ phân phối trong DN 55
3.2.3.1. Cơ chế phân phối tiền lương hợp lý
55
3.2.3.2. Hoàn thiện chế độ phân phối lợi nhuận 56

Một số kiến nghị 57
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TCT : Tổng Công ty
TCTDKVN : Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ : Tài sản cố định
TSLĐ : Tài sản lưu động
VCĐ : Vốn cố định

2003
30
12 2.12
Bảng tính hiệu quả vốn lưu động của TCTDKVN năm
2001-2003
30
13 2.13
Tình hình khoản phải thu của TCTDKVN năm 2001-
2003
31
14 3.1 Tỷ trọng TSCĐ của TCTDKVN năm 2000-2003 48
15 3.2 Bảng so sánh mức khấu hao các TSCĐ chủ yếu 50

LỜI MỞ ĐẦU

I. LÝ DO NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Vốn kinh doanh có một vai trò quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp
nào trong nền kinh tế thị trường. Một mặt, vốn kinh doanh là tiền đề để các doanh
nghiệp có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, vốn kinh
doanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
một cách liên tục và có hiệu quả. Hơn thế nữa, tiềm lực vốn mạnh sẽ giúp doanh
nghiệp có một chỗ đứng trên thị trường, tạo lợi thế trong cạnh tranh. Ngoài ra, vốn
kinh doanh cũng là công cụ để phản ánh, đánh giá sự vận động của tài sản, giám
sát quá trình sản xuất kinh doanh.
Để nâng cao vai trò của vốn kinh doanh trong hoạt động của các doanh
nghiệp, bên cạnh việc tạo vốn, doanh nghiệp cần có những biện pháp thiết thực
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đi đôi với việc bảo toàn và phát triển vốn tại
doanh nghiệp mình.
Ngành dầu khí được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đề ra. Sau

Không kể phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương chính như
sau:
Chương I : Tổng quan về vốn và quản lý vốn.
Chương II : Thực trạng về quản lý vốn tại Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam.
Chương III : Giải pháp quản lý hiệu quả vốn tại Tổng Công ty Dầu khí
Việt Nam.


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN

1.1. Khái niệm về vốn và bản chất của vốn

1.2. Phân loại vốn
1.2.1. Căn cứ theo đặc điểm vận động của vốn
1.2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành vốn
1.2.3 Căn cứ theo yêu cầu đầu tư và sử dụng

1.3. Quản lý vốn của doanh nghiệp nhà nước
1.3.1. Vấn đề tạo lập vốn và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu
1.3.2. Vấn đề quản lý vốn

CHƯƠNG I

đối tượng lao động. Trong nền kinh tế hàng hóa, DN phải dùng đến tiền của mình

để đầu tư mua sắm những tư liệu lao động nói trên. Do đó, mỗi DN phải ứng trước
một số tiền vốn nhất định về tư liệu lao động. Số vốn này luân chuyển theo mức
hao mòn của tư liệu lao động. Tư liệu lao động của DN bao gồm nhiều loại với giá
trị và thời gian sử dụng khác nhau. Vì vậy, để thuận tiện cho công tác quản lý tài
sản, theo chế độ hiện hành ở nước ta những tư liệu lao động nào hội đủ hai điều
kiện sau đây sẽ được coi là tài sản cố định:
- Giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên (tiêu chuẩn này có thể thay đổi theo thời
gian).
- Thời gian sử dụng trên 1 năm.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa, TSCĐ của DN không chỉ bao gồm
những TSCĐ có hình thái hiện vật gọi là TSCĐ hữu hình mà còn bao gồm cả
những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể như bằng phát minh, các bí quyết
công nghệ, thương hiệu, thị phần… gọi là TSCĐ vô hình.
Đặc điểm chủ yếu của tất cả TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD mà
vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Trong quá trình SXKD, TSCĐ sẽ bị hao
mòn dần và được chuyển từng phần vào giá trị của sản phẩm hàng hóa và như vậy
vốn đầu tư sẽ được thu hồi dưới hình thức khấu hao tương ứng với giá trị hao mòn
của TSCĐ.
Trong nền kinh tế thị trường, muốn có TSCĐ thì DN phải bỏ tiền ra để đầu
tư, đó chính là vốn cố định và khái niệm này được phát biểu như sau: Vốn cố định
là giá trị ứng trước về tài sản cố định hiện có của DN. Khi đề cập đến quản lý vốn
cố định có nghĩa là chúng ta phải quản lý từ lúc bắt đầu bỏ vốn ra đầu tư cho đến
khi thu hồi đủ vốn.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN, hình thái vật chất của VCĐ
vẫn giữ nguyên (đối với TSCĐ hữu hình) nhưng hình thái giá trị của nó lại thông
qua hình thức khấu hao chuyển dần thành quỹ khấu hao. Vì vậy, quản lý VCĐ phải
bao gồm hai mặt: Đảm bảo cho TSCĐ được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử
dụng của nó đồng thời phải tính toán chính xác số trích lập quỹ khấu hao tạo điều

b) Vốn DN đầu tư ra bên ngoài: là số vốn DN không trực tiếp sử dụng bao gồm
toàn bộ tài sản như: Tiền, giá trị quyền sử dụng đất, tài sản được doanh nghiệp góp
vốn, liên doanh liên kết, mua các loại cổ phiếu…

1.3. QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.3.1. Vấn đề tạo lập vốn và xây dựng cấu trúc vốn tối ưu
1.3.1.1. Vấn đề tạo lập vốn
So với thời kỳ bao cấp, các nguồn cung cấp vốn trong điều kiện nền kinh tế
thị trường rất phong phú, đa dạng. Đối với DNNN, ngoài nguồn vốn do ngân sách
nhà nước cấp, tự bổ sung từ kết quả kinh doanh của mình, DN có thể huy động vốn
thông qua thị trường chứng khoán và các tổ chức tài chính trung gian, tín dụng thuê
mua và một số nguồn tài trợ khác.
- Nguồn vốn ngân sách: Theo chế độ quy định hiện nay, DNNN được ngân
sách nhà nước cấp vốn ngay từ khi thành lập. Trong quá trình kinh doanh, căn cứ
vào hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mà nhà nước có thể xem xét đầu tư bổ
sung cho DN trong những trường hợp cần thiết và theo nguyên tắc không hoàn trả.
- Nguồn vốn tự bổ sung: DN hoạt động kinh doanh có hiệu quả sẽ dùng phần
lợi nhuận thu được sau khi đã nộp thuế TNDN bổ sung cho nhu cầu vốn của mình.
Mặt khác, DNNN còn sử dụng toàn bộ số khấu hao để tái đầu tư TSCĐ. Đây là
một nguồn vốn có tính chất ổn định, khi sử dụng nguồn vốn này sẽ phụ thuộc vào
kết quả hoạt động SXKD của DN.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: Là nguồn vốn mà DN có được thông qua
hình thức hợp tác kinh doanh hoặc liên kết với các tổ chức và cá nhân trong và
ngoài nước để có thêm một khoản vốn nhất định nhằm đáp ứng cho nhu cầu về vốn
của DN.
- Huy động vốn trên thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là nơi
diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán và các loại giấy ghi nợ trung
và dài hạn. Thông qua thị trường chứng khoán giúp cho các DN, tổ chức, cá nhân
trao đổi với nhau quyền sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu thiếu hụt
vốn cho các DN, tạo điều kiện cho các nguồn cung và cầu về vốn gặp gỡ nhau

a) Nợ dài hạn:
Nợ dài hạn là số tiền mà DN đi vay và cam kết thanh toán cho các chủ nợ
trong một thời gian nhất định lớn hơn 1 năm. Nợ dài hạn có thể là nợ vay ngân
hàng, phát hành trái phiếu Công ty. Đây là khoản nợ lâu dài và ổn định, tác động
trực tiếp đến cấu trúc vốn của DN. Khi nợ dài hạn thay đổi, cấu trúc vốn của DN sẽ
bị ảnh hưởng. Các khoản nợ vay dài hạn sẽ tạo ra một khoản chi phí trả lãi vay cố
định. Các khoản chi phí cố định này chính là nguyên nhân gây ra rủi ro tài chính

khi DN gặp khó khăn trong việc chi trả nợ. Một DN làm ăn rất có hiệu quả ở hiện
tại vẫn có thể gặp phải khó khăn trong tương lai khi vay dài hạn. Do đó, việc vay
(nợ) dài hạn luôn đi kèm với rủi ro tài chính.
Nợ dài hạn là thành phần quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát
triển cũng như mở rộng hoạt động SXKD của DN. Các DN thường xem nợ dài hạn
là một bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc vốn. Nợ dài hạn thường được dùng
để đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản
xuất, cải tiến chất lượng sản phẩm, cải thiện vị trí cạnh tranh của DN trên thị
trường.
b) Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà DN không phải cam
kết thanh toán. Trong một DN, thông thường nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn
cổ phần thường và lợi nhuận giữ lại (nguồn nội bộ), Vốn cổ phần ưu đãi và Vốn bổ
sung.
Đối với DNNN, số vốn ban đầu do Nhà nước cấp. Đối với các DN liên
doanh, số vốn ban đầu do các bên tham gia liên doanh góp vốn. Đối với các công
ty cổ phần, vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các DN luôn phải mở rộng quy mô
hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh của mình nên đã không ngừng bổ sung, phát
triển vốn của DN. Vốn chủ sở hữu có thể lấy từ 2 nguồn: nguồn tài trợ bên trong và
nguồn tài trợ bên ngoài. Nguồn tài trợ bên trong là từ các quỹ chuyên dùng và kết
quả hoạt động kinh doanh. Nguồn tài trợ bên ngoài là nhận thêm vốn liên doanh,

m
)
m
– 1
Trong đó: K
d
: chi phí sử dụng vốn vay
i : lãi suất tiền vay (danh nghĩa) một năm
m : số kỳ tính lãi trong năm
- Chi phí sử dụng vốn vay dài hạn:
V =
A
1
(1+K
d
)
1
+
A
2
(1+K
d
)
2
+ …. +
A
n
(1+K
d
)

Trong thực tế, chi phí sử dụng vốn vay sau thuế được giảm một khoản =
K
d
T so với chi phí sử dụng vốn vay trước thuế (đối với các DN có sử dụng vốn
vay, sử dụng được yếu tố này còn gọi là sử dụng tốt "lá chắn thuế").
K
d
* = K
d
. (1 – T)

Trong đó: K
d
*: chi phí sử dụng vốn vay sau thuế TNDN
K
d
: chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN
T: thuế suất thuế TNDN
b) Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC: Weighted Average Cost of Capital)
- Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN:
WACC = W
d
.K
d
+ W
p
.K
p
+ W
e

+ W
e
.K
e
Trong đó: WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân
W
d
: Tỷ trọng nguồn vốn vay
W
p
: Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần ưu đãi (nếu có)
W
e
: Tỷ trọng nguồn vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
K
d
: Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế TNDN
K
p
: Chi phí vốn cổ phần ưu đãi

K
e
: Chi phí vốn cổ phần thường (hoặc vốn chủ sở hữu)
T : Thuế suất thuế TNDN
Công thức trên cho thấy, chi phí sử dụng vốn bình quân phụ thuộc vào 2
nhân tố, đó là tỷ trọng của từng nguồn vốn và chi phí sử dụng vốn của từng nguồn
tương ứng. Chi phí sử dụng vốn bình quân được sử dụng để tính cơ cấu vốn tối ưu
của DN, cơ cấu vốn tối ưu, như đã nêu ở trên, là một cơ cấu vốn mà tại đó giá trị
của DN đạt lớn nhất.

Thời gian sử dụng
trung bình hàng năm
của tài sản cố định
Mức trích khấu hao

- Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả
năm chia cho 12 tháng.
Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định
bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian sử dụng xác định
lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử
dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của tài sản cố định.
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố định
được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã
thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó.
Đây là phương pháp khấu hao được sử dụng nhiều, khấu hao được tính đều
đặn theo thời gian sử dụng của phương pháp này có ưu điểm là dễ tính góp phần
làm cho chi phí sản xuất kinh doanh ổn định. Nhưng sử dụng phương pháp này chỉ
thu hồi vốn dựa trên hao mòn hữu hình của tài sản. Mặt khác, tỷ lệ khấu hao
thường do các cơ quan có thẩm quyền ấn định vì vậy đôi khi không sát với tình
hình thực tế tại DN trong khi nguyên giá của TSCĐ dùng làm căn cứ tính khấu hao
trong điều kiện giá cả và tỷ giá luôn luôn biến động, nên có khi dẫn tới tình trạng
số tiền khấu hao không đủ để tái đầu tư.

Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:
Mức trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có
điều chỉnh được xác định như sau:
- Xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định:
Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định theo quy định
tại Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo

hao nhanh
Tỷ lệ khấu hao
nhanh (%)
Tỷ lệ khấu hao tài sản
cố định theo phương
pháp đường thẳng
Tỷ lệ khấu hao tài sản
cố định theo phương
pháp đường thẳng (%)
Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy
định tại bảng dưới đây:

Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm)
1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm)
2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp đã dư
giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị
còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu
hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn
lại của tài sản cố định.
- Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho
12 tháng.

Ở phương pháp này, tỷ lệ khấu hao cố định lớn hơn tỷ lệ khấu hao theo
phương pháp khấu hao đường thẳng và mức khấu hao lại giảm dần theo thời gian
sử dụng và vì vậy vốn thu hồi rất nhanh nên vừa tính được hao mòn hữu hình vừa

Mức trích khấu hao
bình quân tính cho
một đơn vị sản phẩm

- Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định bằng tổng mức trích khấu hao
của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:
= x Mức trích khấu
hao năm của tài
sản cố định
Số lượng sản
phẩm sản xuất
trong năm
Mức trích khấu hao
bình quân tính cho
một đơn vị sản phẩm

Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định.

Áp dụng phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm, DN có
thể xác định giá trị khấu hao hàng năm tỷ lệ thuận với hao mòn hữu hình của tài
sản cố định, chi phí khấu hao tỷ lệ thuận với sản lượng sản xuất. Tuy nhiên,
phương pháp khấu hao này không hạn chế được hao mòn vô hình của tài sản cố
định.

Ví dụ, chi phí đầu tư của DN vào khoản phải thu là lãi suất có thể thu được nếu
khách hàng thanh toán hóa đơn của họ sớm hơn. DN cũng thường hay quên lãi suất
thu nhập khi giữ vốn tiền mặt mà không đầu tư vào các loại chứng khoán thanh
khoản cao. Vì vậy, định kỳ các DN phải dự tính trước một lượng VLĐ cần thiết tối
thiểu để không những đảm bảo đáp ứng đủ vốn cho hoạt động SXKD mà còn tránh
được tình trạng vốn bị lãng phí, ứ đọng và đó cũng là cơ sở tạo điều kiện cho DN
sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng VLĐ:
*
Tốc độ luân chuyển VLĐ: được phản ánh qua 2 chỉ tiêu:
- Số lần luân chuyển VLĐ (số vòng quay vốn): Nói lên sự vận động của vốn nhanh
hay chậm, nó phản ánh số vòng quay VLĐ thực hiện được trong một thời kỳ nhất
định, thường tính trong một năm
Số lần luân chuyển VLĐ =
Doanh thu thuần
Số VLĐ bình quân trong kỳ

- Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh số ngày của một vòng quay VLĐ. Kỳ luân
chuyển càng ngắn thì VLĐ quay vòng càng nhanh.
Kỳ luân chuyển VLĐ =
Số ngày trong kỳ (365 ngày)
Số lần luân chuyển VLĐ

* Mức tiết kiệm VLĐ: Do tăng nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ, DN có thể tiết
kiệm được một số VLĐ nhất định.
V
tk
=
M
1

Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam có tên giao dịch với nước ngoài là
Vietnam Oil and Gas Corporation (gọi tắt là Petrovietnam).
Tổng Công ty có trụ sở tại số 22 Ngô Quyền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04-8252526 Fax: 04-8265942
Website:
www.petrovietnam.com.vn
E-mail:
Chủ tịch Hội đồng Quản trị hiện nay là ông Phạm Quang Dự.
Tổng Giám đốc hiện nay là ông Trần Ngọc Cảnh.
Kể từ khi được thành lập, hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Dầu khí
Việt Nam (Tổng Công ty) đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, mang lại hiệu quả
cao từ khâu đầu đến các khâu sau. Hiện nay, Tổng Công ty có hơn 40 đơn vị thành
viên, triển khai các hoạt động liên quan đến công nghiệp dầu khí không chỉ ở lãnh
thổ Việt Nam mà còn cả ở nước ngoài. Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam là đơn vị
đóng góp một phần hết sức quan trọng vào Ngân sách nhà nước, trong những năm
gần đây, tỷ lệ đóng góp của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vào Ngân sách nhà
nước trung bình khoảng 25%.
Cho đến nay, Tổng Công ty đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh
tế quốc gia. Trong những năm vừa qua, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
Tổng Công ty liên tục đạt mức phát triển cao. Với mức sản lượng khai thác bình

quân 50 nghìn tấn dầu thô/ngày và 16 triệu m
3
khối khí/ngày, Việt Nam được xếp
vị trí thứ 31 trên thế giới và thứ ba trong khu vực về sản lượng khai thác dầu khí.
Năm 2004, Tổng Công ty đã đặt mục tiêu khai thác 17 triệu tấn dầu thô và 5,74 tỉ
m
3
khối khí, đồng thời tích cực triển khai các dự án phát triển từ khâu thượng
nguồn đến khâu hạ nguồn, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, các dịch vụ kỹ

làm dịch vụ về dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí, dầu khí, dầu thô,
các sản phẩm dầu khí; lưu thông các sản phẩm dầu khí; tiến hành các hoạt động
kinh doanh khác theo pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao.
2) Tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoài khi Chính phủ
cho phép. Mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của các tổ chức, cá
nhân khác tại Việt Nam chỉ được tiến hành trên cơ sở ký kết hợp đồng với Tổng
công ty Dầu khí Việt Nam.
3) Thực hiện quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, vùng biển, tài nguyên và
nguồn lực khác của Nhà nước giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các
nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được Nhà nước giao cho Tổng công
ty trong từng thời kỳ.
4) Tiếp nhận, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn Nhà nước giao, bao
gồm cả phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác và tiếp nhận, sử dụng có hiệu quả
tài nguyên, đất đai, vùng biển và các nguồn lực khác Nhà nước giao, để thực hiện
mục tiêu kinh doanh và những nhiệm vụ đặc biệt khác được Nhà nước giao.
Các lĩnh vực kinh doanh chính của TCTDKVN:
- Tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí nhằm xác định tiềm năng và gia tăng
trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, bảo đảm nhu cầu về sản lượng
dầu khí cho đất nước.
- Khai thác các tiềm năng khí nhằm tận dụng tiềm năng to lớn về khí thiên
nhiên của đất nước cũng như đa dạng hóa và mở rộng thị trường tiêu thụ khí.
- Tiến hành các hoạt động chế biến dầu khí nhằm đáp ứng cơ bản nhu cầu của
thị trường nội địa về sản phẩm lọc, hóa dầu và phục vụ cho xuất khẩu.
- Cung cấp các dịch vụ dầu khí nhằm phát triển năng lực các loại dịch vụ,
nhất là dịch vụ kỹ thuật cao, đáp ứng được nhu cầu của hoạt động dầu khí trong
nước và từng bước gia tăng hoạt động ở nước ngoài.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status