VIỆN DINH DƯỠNG
THE NATIONAL INSTITUTE OF NUTRITION
MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
CURRENT RESEARCHES IN
NUTRITION AND
FOOD HYGIENE & SAFETY
NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC
Hà Nội – 2000
Bàn về mấy vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp
Hà Huy Khôi
(Viện Dinh Dưỡng)
Tóm tắt
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong những năm qua, bữa ăn
của nhân dân ta đã có sự cải thiện đáng kể. Nước ta đã tự túc được lương
thực và đã có gạo để xuất khẩu. Kinh tế thị trường cho phép sự chọn lựa
thứuc ăn theo khả năng kinh tế. Chế độ ăn uống thay đổi một cách nhanh
chóng theo thu nhập và lối sống. Hiện tượng gia tốc trong tăng trưởng của
con người Việt Nam đã được nhìn nhận, trong khi đó đã xuất hiện những
biểu hiện bước đầu của thời kỳ chuyển thiếp về dân số học, mô hình bệnh
tật. Những vấn đề dinh dưỡng trong thờikỳ chuyển tiếp về dân số học, mô
hình bệnh tệt, Những vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp ở nước ta
là một bức tranh đa dạng xem kẽ giữa thiếu dinh dưỡng và các bệnh mạn
tính liên quan đến dinh dưỡng, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong nền
kinh tế thị trường. Tác giả cho rằng, đã đến lúc phải nhìn nhận hiện tượng
này một cách đầy đủ và đề ra các cách lược phù hợp về xây dựng một chế độ
ăn hợp lý, bảo vệ và kế thừa cách ăn truyền thống Việt Nam nhằm tránh các
hậu quả không mong muốn từ bài học mà một số nước công nghiệp phát
triển đã gặp phải.
ABSTRACT
Disscussion on some matters pf nutrition in transition.
một ý nghĩa quan trọng trong hoạch định một đường lối sức khoẻ vừa giải
quyết các nhiệm vụ trước mắt vừa chủ động hướng tới tương lai.
I. Thiếu dinh dưỡng và các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng.
Hiện nay nước ta là một trong những nước có tỷ lệ tử vong trẻ em
vào loại thấp nhất so với các nước có cùng mức thu nhập về kinh tế, những
tỷ lệ thiếu dinh dưỡng còn cao. Trong 10 năm vừa qua, tỷ lệ trẻ em bị suy
dinh dưỡng nặng, bị bệnh khô mắt do thiếu vitamin A dẫn đến mù loà đã
giảm đi đáng kể. Đó là các kết quả đáng khích lệ của nhiều chương trình sức
khoẻ ở cộng đồng nư trong phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn, tiêu chảy,
thiếu vitamon A và bệnh khômắt, giáo dục sức khoẻ và dinh dưỡng. Tuy
vậy, đã đến lúc chúng ta trở ngại cho sự phát triển thể chất và trí tuệ con
người Việt Nam. Các bằng chứng nếu ở phần trên cho thấy người Việt Nam
vốn không phải là người bé nhỏ, yếu tố và trí tuệ kém cỏi về mặt di truyền.
Tình trạng dinh dưỡng kém đã hạn chế các tiềm năng đó. Các nghiên cứu
gần đâu còn cho thấy cải thiện điều kiện dinh dưỡg trong thời kỳ bào thai và
hai năm đầu tiên của cuộc đời có ảnh hưởng tích cực đến phát triển trí tuệ
hơn là tác động vào các thời kỳ thanh thiếu niên 11 – 24 tuổi [11].
Nghèo và thiếu kiến thức là hai nguyên nhân cơ bản của đói và thiếu
dinh dưỡng [12]. Do đó, điều kiện đầu tiên để đầu tiên để có an ninh dinh
dưỡng (nutritional security) là đảm bảo an ninh thực phẩm, đặc biệt an ninh
thực phẩm ở hộ gia đình. Nó đến an ninh thực phẩm nghĩa là thực phẩm
không bị khan hiếm, ổn định trong năm và người nghèo có thể mua được. Vì
vậy, chương trình dinh dưỡng cần gắn với chương trình sản xuất, xóa đói
giảm nghèo và tăng thu nhập của người nghèo. Yếu tố thứ hai trong an ninh
dinh dưỡng là bảo vệ sức khoẻ. Ở trẻ em, đó là các hoạt động chăm sóc bà
mẹ nhất là từ khi có thai, nuôi con bằng sữa mẹ, phòng chống các bệnh
nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng; ở người lớn, đó là xây dựng một lối sóng
lành mạnh, cả về ăn uống [13, 14]. Yếu tố thứ ba gần đây được nhấn mạnh
nhiều là công tác chăm sóc (care) các đối tượngcó nguy cơ cao ở tại gia đình
và cộng đồng. Đời người luôn luôn là sự đối đầu vớ các nguy cơ và thách
thời kỳ trước đó vì suy dinh dưỡng là một bệnh mạn tính chứ không tiến
triển nhanh như một số bệnh nhiễm khuẩn. Vì vậy, trong chiến lược phòng
chống suy dinh dưỡng cần tập trung vào các thời kỳ sớm, cụ thể là ngay từ
khi bắt đầu ăn sam (4 – 6 tháng) nhằm loại trừ tối đa những trường hợp đi
chệch khỏi đường phát triển bình thường để sa vào thung lòng của suy dinh
dưỡng. Các nghiên cứu ở nước ta cũng chothấy trong 3 tháng đầu tiên, trẻ
em Việt nam nói chung phát triển không kém tiêu chuẩn quốc tế, nhưng từ
tháng thứ tư trở đi thì phát triển kém hẳn và thời kỳ kém nhất là khoảng thời
gian từ tháng thứ tư đến tháng thứ sáu, trung bình chỉ đạt 60% tăng cân nặng
theo tiêu chuẩn [4, 16].
Tình trạng thiếu năng lượng trườn diễn cao (BMI < 18,5) ở người
trưởng thành đặc biệt ở phụ nữ lữa tuổi sinh đẻ cùng rất đáng chú ý. Đảm
bảo an ninh lương thực cần kèm theo chế độ làm việc, ăn uống và chỉ ngơi
một cách hợp lý.
Sù gia tăng tình tạng béo trệ, các bệnh mạn tính liên quan đến dinh
dưỡng đòi hỏi một sự quan tâm và hành động kịp thời. Dư luận xã hội đã bắt
đầu chú ý đến tình trạng béo phì ở một số trẻ em, không Ýt người lớn đã
phải dùng thuốc chống béo hoặc đến các thẩm mỹ viện để lấy bớt lớp mỡ
dưới da thay cho rèn luyện thân thể và các chế độ ăn hợp lý. Sù song song
tồn tại giữa mô hình bệnh tật do thiếu ăn và thừa ăn là đặc điểm của dinh
dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp. Ở nước ta, chính sách đổi mới nền kinh tế
có nhiều thành phần đã đem lại những hiệu quả tăng trưởng kinh tế rõ rệt
nhưng cũng xuất hiện sự phân cực không tránh khỏi trong xã hội giữa người
giàu và người nghèo. Nhiều tệ nạn xã hội, thói hư tạt xấu xuất hiện, kể cả
những sai lầm về dinh dưỡng. Tỉnh trạng chung ở các nước đang phát triển là
bệnh béo trệ hay gặp ở tầng lớp nghèo ở các nước có thu nhập trung bình và
ở tầng lớp giàu có ở các nước có thu nhập thấp [14].
Trẻ em nuôi nhân tạo hay béo trẹ hơn trẻ em nuôi bằng sữa mẹ quá
quan tâm bồi dưỡng cho con, nghĩa rằng ăn càng nhiều chất bổ càng tốt
(thường là các thức ăn nhiều protein và lipid như thịt, trứng, giò chả), càng
35-55%
II. Vệ sinh thực phẩm và kinh tế thị trường
Ăn uống sạch sẽ hợp vệ sinh là một mặt rất quan trọng của dinh
dưỡng hợp lý Ông cha ta đã từng nói: “Bệnh tật từ miệng ăn vào”. Quan sát
cách ăn truyền thống của người Việt nam chóng ta thấy các thức ăn động vật
thường dùng kèm nhiều gia vị, rau thơm, một mặt làm món ăn ngon miệng
hơn, mặt khác cũng là cách chống các rối loạn tiêu hoá.
Trong thời kỳ chuyển tiếp, vấn đề vệ sinh thực phẩm tở nên gay cấn
hơn vì những lý do sau đây:
- Sù gia tăng sử dụng các thực phẩm nguồn động vật là những thức
ăn dễ bị nhiễm khuẩn, hư hỏng trong điều kiện thanh tra vệ sinh, thiếu bị bảo
quản và sự hiểu biết đều chưa đạt yêu cầu.
- Nhu cầu trao đổi hàng hoá thực phẩm thúc đẩy công nghiệ sản xuất
và chế biến thực phẩm, trong đó nhiều qui trình công nghệ không đảm bảo
tiêu chuẩn vệ sinh.
- Sù gia tăng các chất cho thêm (additive) với nhiêu mục đích khác
nhau (chất bảo quản, chất màu, chất tạo hương vị, kể cả thuốc và chất kích
thích…) vào trong thực phẩm.
- Nguy hiểm trầm trọng hơn cả là vì mục đích lợi nhuận mà nhiều
người sản xuất, cơ sở sản xuất (kể cả trong và ngoài nước) vi phạm các qui
trình kỹ thuật, bất chấp sức khoẻ và lợi Ých người tiêu dùng.
- Sự yếu kém về kiến thức, trang bị và tổ chức của cơ quan quản lý
và thanh tra vệ sinh thực phẩm trong nền kinh tế thị trường cùng với sự chưa
đầy đủ và hoàn thiện các qui định về luật lệ vệ sinh an toàn thực phẩm.
Người dân hiện nay lo nhất là dùng phải thuốc giả và thức ăn giả.
Mua phải hàng giả còn tự an ủi: “của đi thay người” , còn mua phải thuốc
giả, thức ăn giả thì: “tiền mất tật mang”, cái hai không lường được. Ngộ độc
ăn uống là một trong 10 loại bệnh hay gặp nhất ở các cơ sở y tế xã, còn các
loại ngộ độc mạn tính nguy hiểm hơn thì chưa thể lường hết được. Thiệt hại
về sức người, sức của do ngộ độc thức ăn, một nguyên nhân phần lớn có thể
buôn bán thự phẩm về các hiểu biết vệ sinh an toàn thực phẩm bao gồm thực
hành sản xuất và buôn bán thực phẩm hợp vệ sinh, các biện pháp nhằm hạ
thấp khả nạng ô nhiễm và hư hỏng thực phẩm. Cả người sản xuất, buôn bán
va tiêu thụ cần được phổ biến về tiêu chuẩn, luật lệ về vệ sinh thực phẩm.
Một số đối tượng quan trọng của chương tình giáo dục là những người nội
trợ, người buônn bán thức ăn đường phố, người nông dân trồng rau, giám sát
viên vệ sinh các xí nghiệp thực phẩm, nhân viên ngành y tế và giáo dục.
5. Theo dõi cẩn thận sự xuất hiện và nguyên nhân các vụ ngộ độc
thức ăn cũng như hồ sơ các tài liệu kiểm nghiệm thanh tra vệ sinh thực
phẩm. Thông qua các hồ sơ này sẽ nắm được khuynh hướng diễn biến tình
hình có các can thiệp thích hợp.
6. Vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành mối quan tâm lớn của
Nhà nước và xã hội trong thời kỳ chuyển tiếp. Các tíên bộ về mặt này là các
tiến bộ của kỹ cương phép nước và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ và
hành phúc của mọi người.
III. Bảo vệ và kế thừa cách ăn truyền thống việt nam.
Những vấn đề của thời kỳ chuyển tiếp, mở cửa không những tác động
đến văn hoá, đạo đức, lối sóng mà cả tập quán ăn uống nữa. Mỗi dân tộc tồn
tại trên mảnh đất tự nhiên của mình đều tự đúc kết kinh nghiệm, hình thành
một cách ăn uống đặc thù để tự bảo vệ và phát triển trước mọi thử thách của
lịch sử.
Mc Carrison - người sáng lập cơ quan nghiên cứu dinh dưỡng đầu
tiên ở Ên độ năm 1918 đã nghiên cứu mô hình ăn uóng và bệnh tật của cư
dân 7 bang của xứ này [20]. Ông nhận thấy dân ở các bang phíaNam, mà gạo
là lương thực chính người gày và mảnh mai hơn các bang phía Bắc ăn lúa mì
và có nhiều sữa. Họ cũng mắc một số bệnh tật khác nhau. Đó là bước đầu
của địa lý học dinh dưỡng. Ngày nay người ta đã biết cư dân ở Nam Mỹ hay
bị bệnh pelagrơ vì trong ngô, lương thực chính ở vùng đó, thiếu niaxin;
những vùng ăn gạo hay gặp bệnh khô mắt do thiếu vitamin; những vùng ăn
gaoh hay găp bệnh khô mắt do thiếu vitamin A; người dân vùng Địa Trung
ứng. Cứ ngửi mùi rau thìa là, người ta nghĩ ngay đến canh cá dấm. Ngửi mùi
nước mắm hạt tiêu là nghĩ ngay đến bún chả. Tương gừng nhắc nhở thịt bò
tái. Húng lá nhắc đến tiết canh. Mỗi loại thịt yêu cầu gia vị riêng [21]. Phải
chang bên cạnh tính hấp dẫn, ngon miệng người xưa đã quan tâm đến khía
cạnh vệ sinh thực phẩm để phòng các rối loạn tiêu hoá khi sử dụng nhiều
thức ăn động vật? Chúng ta biết rằng nhiều người theo đạo Hồi không ăn thịt
lợn, bên cạnh vấn đề tín ngưỡng còn có khía cạnh vệ sinh vì lợn là một gia
sóc hay bị các bệnh kỹ sinh vật [22].
Các sản phẩm từ đậu tương (đậu phụ, tào phởm nước tương) rất quen
thuộc với mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam ngày nay đang đươi coi là một
loại thức ăn có giá trị sinh học cao và có giá trị trong đề phòng nhiều loại
bệnh mạn tính [22, 23].
Người Việt Nam uống nước chè (chè tươi, chè xanh, trà). Trong sách
Vũ Trung tuỳ bút (thể kỷ XVIII), Phạm Đình Hổ đã mô tả cách uống chè của
người Việt Nam thời đó [24]. Trong chè có nhiều chất có hoạt tinh sinh học
cao như vitamin C, vitamin P, tính kháng thể và kích thích hoạt động hệ thần
kinh. Ngày nay người ta nhận thấy chè là một thức uống có giá trị và đang
được nghiên cứu [25, 26, 27].
Khoảng 500 năm trước đây, Tuệ Tĩnh đã cho rằng “Thức ăn là thuốc,
thuốc là thức ăn” và ông đã viết bộ Nam dược thần hiệu trong đó có nhiều vị
thuốc là thức ăn. Người Việt Nam khi cảm cúm có bát cháo ành giải cảm,
mùa hè nóng nực thích ăn canh hẹ, chè đỗ đen, canh cua cho mát. Khoa học
dinh dưỡng hiện đại rất quan tâm đến phương diện đó của thức ăn, với thuật
ngữ “thức ăn chức phận” (functional foods) hoặc “Các thức ăn cho các sử
dụng đặc hiệu về sức khoẻ” [26]. Đây là một lĩnh vực mới của khoa học dinh
dưỡng mà ông cha ta đã chú ý từ lâu. Có biết bao nhiêu điều bí Èn trong củ
tỏi, củ gừng, củ nghệ, các loại rau thơm, rau mùi vốn rất phong phó trong
bữa ăn Việt Nam?
Trong thời kỳ chuyển tiếp chung ta cần kế thừa và duy trì các tinh
hoa của cách ăn uống truyền thống của người Việt Nam và tiếp thu có chọn
nhiều Natri vậy cũng nên giới hạn đối với người lớn tuổi có bệnh tăng huyết
áp và tim mạch [28].
IV. Xây dựng một chế độ ăn hợp lý.
Các nghiên cứu và theo dõi ở nhiều nước phát triển đã cho thấy sự dư
thừa, quá thoải mái về ăn uống đã không đem lại sự an toàn về sức khoẻ của
cộng đồng [7, 28]. Ở Trung Quổc trong những năm gần đây song song vớ sự
tăng trưởng về kinh tế người ta nhận thấy rõ rệt (tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em
ở Trung Quốc đã dưới 30%) song song với sự gia tăng các bệnh mạn tính có
liên quan với dinh dưỡng (28). Vì vậy hiện nay đã xuất hiện nhiều thuật ngữ
nh “Chế độ ăn lành mạnh” (healthy diet), “Chế độ ăn khôn ngoan” (prudent
diet), “Chế độ ăn hợp lý” (healthy diet) [30, 31].
Nhằm mục đích phòng ngừa các bệnh mạn tính liên quan đến dinh
dưỡng đặc biệt là cá bệnh tim mạch, cơ quan của Tổ chức Y tế thế giới khu
vực châu Âu [29] đã đề ra các mục tiêu dinh dưỡng trong khu vực nh sau:
Bảng 2: MỤC TIÊU DINH DƯỠNG Ở CHÂU ÂU.
Mục tiêu trung hạn Mục tiêu
cuối cùng
Nó
i chung
Nhóm
nguy cơ bệnh
tim mạch
Tỷ lệ % năng lượng
(a):
Glucid phức tạp
Protein
Đường
Tổng sè Lipid
Lipid bão hoà
Tổng sè P:S (B)
10
≤ 1,0
> 30
5
< 100
0,7-1,2
45-55
12-13
10
20-30
10
≤ 1
> 30
5
< 100
0,7-1,2
Ghi chó: a) Tính năng lượng toàn bộ thức ăn không có rượu.
b) Tỷ lệ giữa acid béo chưa no/acid béo no.
c) Chất xơ là các polysacarit không tinh bột và các loại tinh bột
kháng enzym do nấu nướng hoặc chế biến.
Đây làcác mục tiêu trung hạn và dài hạn đối với mọi người và các đối
tượng có nguy cơ cao về bệnh tim mạch. Việc sử dụng rượu nên hạn chế.
Các biện pháp phòng thiếu iod nên áp dụng khi cần và nên tăng tỷ trọng chất
dinh dưỡng trong thức ăn. Cuối cùng, chỉ số khối cơ thể (BMI) trong khoảng
20-25 vừa là mục tiêu trung hạn và dài hạn.
Vấn đề của châu Âu khác chúng ta ở chỗ họ đặt mục tiêu giảm bớt tỷ
trọng lipid trong khẩu phần khoảng 40% năng lượng hiện nay xuống 20-30%
và BMI của người trưởng thành chỉ ở mức 20-25%. Hạn chế cholesterol
nghĩa là bớt ăn thịt và các thức ăn nguồn gốc động vật. Chung ta biết trong
100g thịt bò hoặc lợn nạc có 60mg cholesterol; thịt gà 75 mg; cá 70 mg; bầu
của tình trạng này là hút thuốc lá, rèn luyện thể lực và đảm bảo calci trong
khẩu phần.
Dịch tế học các bệnh ngộ đọc do ăn uống cần phải quan tâm đúng
mức. Chúng ta chưa có hệ thống theo dõi giám sát đầy đủ các vụ ngộ độc
thức ăn và nguyên nhân của chúng. Đây là nhược điểm cần đuợc khắc phục.
Dinh dưỡng học so sánh là một sinh vực có nhiều thuận lợi trong thời
kỳ chuyển tiếp. Do không dễ dàng tiến hành các thực nghiệm trên người nên
nhiều phát hiện quan trọng của dinh dưỡng học là nhờ sự so sánh các mô
hình ăn uống khác nhau giữa các quần dân cư. Sự song song tồn tại nhiều mô
hình, tập quán ăn uống khác nhau của cùng con người Việt Nam sống trên
lãnh thổ Việt Nam sẽ giúp chúng ta có điều kiện tìm hiểu vấn đề bổ Ých và
lý thó.
Quá tình đô thị hoá cũng đặt ra nhiều vấn đề dinh dưỡng quan trọng.
Do sù gia tăng cá dự án đầu tư và cơ chế thị trường, tình trạng thiếu việc làm
ở nông thôn nên các đô thị là nơi thu hút người lao động đến tìm công ăn
việc làm. Những người nghèo, đặc biệt là những người mới nhậ cư với điều
kiện ăn ở tạm bợ kém vệ sinh là những đối tượng có nguy cơ cao về bệnh tật
và dinh dưỡng không hợp lý.
Khoa học về thực phẩm cũng có nhiều đòi hỏi phải vươn lên. Sự tăng
trưởng kinh tế và đời sống được cải thiện làm cho mọi người quan tâm hơn
đến vệ sinh ăn uống và giá trị dinh dưỡng của thức ăn. Bảng thành phần dinh
dưỡng thức ăn Việt Nam cần không ngừng được bổ sung hoàn thiện và trở
thành một công cụ bổ Ých, cần thiết cho mọi người. Các phương diện khác
nhau của thức ưn nh thành phần các chất dinh dưỡng, các chấy gây màu sắc
hương vị cũng nh các chất phản dinh dưỡng, chất độc cần được chú ý.
Ông cha ta đã từng chú ý đến tác dụng dược lý của thức ăn. “Thứ ăn
là thuốc, thuốc là thức ăn”. Tìm hiểu giá trị chức phận của thức phẩm cũng là
một hướng quan trọng của dinh dưỡng học hiện đại và đã từng có truyền
thống ở nước ta.
Nghiên cứu xây dựng các mô hình can thiệp dinh dưỡng ở cộng đồng
Nutriment Sinica, 1995, 6: 123-134.
10. Barry M., Popkin: The Nutrition transition. SCN News
No. 10, 1993, 13-18.
11. Ernesto Politt, Kathleen S. Gorman, Ratrice L. Engle,
Reynaldo Martorell Rivera: Early supplementary feeding and
cognition. Monographs of the Society for Research in Child
Development. Seria No. 235, Vol. 58, Vol. 7, 1993.
12. International Conference on Nutrition, Rome, December
1992: Final Report of the Conference.
13. James P.Grant: Nutritional security: An Ethical
Imperative of the 1990s. Paper presented at ICN, Rome, December
1992.
14. Ramalingaswami: New global perspectives in
overcoming malnutrition. Rditors: Mark L. Wahlqvist, A. Stewlart
Truswell, Richard Smith, Paul J. Nestel.Proceedings of the XV
International Congress of Nutrition 1994 Smith – Gordon, U.K.
15. Garrow J.S, James W.P.T.: Human nutrition and dietetics.
Churchill Livingstone 1993.
16. Lê Thị Hợp: Theo doi phát triển thể lực va sức khoẻ của
trẻ theo chiều dọc từ sơ sinh đến 13 tuổi tại Hà Nội. Đề tài NCKH Bé
Y tế - Viện Dinh dưỡng 1995.
17. Phạm Khuê: bệnh học tuổi già. Nhà xuất bản Y học, Hà
Nội 1992.
18. Mason J.E.: The primary preventiong of myocardial
infraction. New england Journal of Medicine, 1992: 332 [21]: 1406-
1416.
19. Nutritin and development - A global assessment.
Fao/WHO 1992. Interational Conference of Nutrition.
20. Mc Carrison R., Sinclair: Nutritiona and health. Faber,
Lomdon 1961.
which emphsis on the recent evidence of the consequences of micronutrient
deficiencies for public, so that they could move to an adequate awareness of
these problems and know how to prevent it themselves by getting the best
from local avilable foods.
Creation the micronutrient fortification approaches: more studies on
fortification with vitamin A and iron in foods should be carried out.
Meanwhile, all families use iodized salt to eliminate IDD woul be
encouraged. Not only a single food but more should be created as the
vehicles for micronutrien fortificatino.
I Mở đầu:
Hơn nửa thập kỷ qua, từ Hội nghị thượng đỉnh về quyền trẻ em
(9/1990) đưa ra các mục tiêu giảm nhẹ và thanh toán thiếu vi chất dinh
dưỡng, nhiều diễn đàn quốc tế đã đề xuất các chiến lược và hành động
đương đầu với những thách thức để thực hiện cam kết đó (1,2 ,3).
Ở Việt Nam, từ đầu những năm 70, Chính phủ đã quan tâm tới phòng
chống bệnh bướu cổ do thiếu iod ở các vùng miền núi và gần đây, chính phủ
đã quyết định phát độn toàn dân sử dụng muối iod [4]. Chương trình phòng
chống thiếu vitamin A triển khai từ năm 1988 sau đó mở ra toàn quóc, đã đạt
được mục tiểutung hạn vào năm 1995 [5]. Sau cuộc điều tra toàn quốc về
thiếu máu dinh dưỡng (1995), tầm quan trọng và nguyên nhân của thiếu máu
ở nước ta đã được xác định và hoàn thiện các giải pháp phòng chống thích
hợp [6].
Trong nhưng năm qua, chương trình phòng chống thiếu vi chất dinh
dưỡn ở nước ta đạt được những kết quả quan trọng. Song, để đạt được các
mục tiêu và đầu thế kỷ tới cong rất nhiều thử thách.
Ngày 16/9/1995 chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia
về dinh dưỡng (KHQGDD), đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2000 về thiếu vi
chất dinh dưỡng [7]. Tiểu ban vi chất dinh dưỡng do Bé Y tế thành lập có
nhiệm vụ tư vấn, đề xuất các giải pháp chiến lược loại trừ tình trạng thiếu vi
chất dinh dưỡng ở Việt Nam trên cơ sở của bản kế hoạch quan trọng này.