Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh mô hình luân canh lúa – mè đen – lúa tại Quận Ô Môn, TP Cần Thơ - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một quốc gia về nông nghiệp, nông nghiệp là thế mạnh của
không chỉ vùng đồng bằng sông Cửu Long mà còn là thế mạnh của cả nước. Chính
nông nghiệp đã mang lại một sự tăng trưởng và thu nhập đáng kể cho Việt Nam.
Với thế mạnh về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng…nên đồng bằng sông Cửu Long luôn
chiếm vị trí hàng đầu về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất lương
thực và nhất là lúa, nên sản lượng lúa của đồng bằng sông Cửu Long chiếm khoảng
trên 60% lượng gạo sản xuất của cả nước, giải quyết đáng kể nhu cầu về lương
thực, thực phẩm cho quốc gia và mang lại một nguồn ngoại tệ lớn cho đồng bằng
sông Cửu Long.
Nhưng hiện nay hầu hết việc sản xuất lúa của người nông dân Việt Nam, trừ
một số nơi có thể dễ dàng chuyển giao khoa học kỹ thuật, còn lại thì lạc hậu, kỹ
thuật canh tác truyền thống, điều này vừa gây ảnh hưởng đến môi trường sống vừa
làm cho năng suất thấp và dẫn đến thu nhập của ngưòi trồng lúa cũng rất thấp so với
những lĩnh vực khác. Tình trạng độc canh cây lúa với 2 hoặc 3 vụ lúa một năm vẫn
còn phổ biến ở nhiều địa phương khu vực đồng bằng Sông Cửu Long. Độc canh cây
lúa cùng với thói quen bón phân vô cơ thay vì bón phân hữu cơ, việc sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật bừa bãi, tâm lý càng bón nhiều phân thì lúa càng tốt làm cho môi
trường sống bị ô nhiễm nặng, đất mất độ phì nhiêu màu mỡ, năng suất thấp…
Đứng trước thực trạng đó các nhà khoa học cũng như các cơ quan chức năng
đã đề xuất nhiều biện pháp khắc phục. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất là một trong
những nội dung trọng tâm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông
thôn ở ĐBSCL nói chung và Quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ nói riêng. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhiều mô
hình chuyển đổi cơ cấu đã góp phần làm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện
tích, tăng thu nhập và lợi nhuận cho người nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo,
tạo ra bước đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
1
Theo tổng hợp của trung tâm khuyến nông các tỉnh vùng ĐBSCL, thời gian

Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất và
hiệu quả tài chính của mô hình luân canh lúa- mè đen - lúa từ đưa ra các giải pháp
phát triển và tăng tính bàn vững cho mô hình.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Đánh giá được thực trạng sản xuất, phân tích hiệu quả tài chính và hiệu
quả sản xuất của mô hình luân canh lúa – mè đen – lúa tại quân Ô Môn, TP Cần
Thơ.
(2) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình lúa –
mè đen – lúa.
(3) Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả và tăng tính bền
vững cho mô hình được lựa chọn.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Các nông hộ canh tác theo mô hình lúa – mè đen – lúa được chọn ngẫu nhiên
trên địa bàn Quận Ô Môn.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+Phạm vi về nội dung
Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng được
hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra,
nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp tới nền kinh tế hàng hóa
và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác. Một phương án có hiệu quả
kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là một phương án
đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư [10, tr 5].
Hiệu quả kinh tế liên quan đến nhiều khía cạnh, nhưng trong đề tài này hiệu
quả kinh tế được hiểu là bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả sản xuất. Hiệu quả
tài chính trong đề tài này sẽ được xem xét, đo lường và đánh giá trên cơ sở tài chính
của kết quả sản xuất (thông qua một số chỉ tiêu tài chính) bằng sự so sánh kết quả
3
sản xuất là thu nhập với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Về hiệu quả sản xuất
được phân tích trong đề tài bao gồm hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân phối

1. Phân tích các thuận lợi và khó khăn của các mô hình sản xuất.
2. Các giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất.
5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. 1. Một số lý luận về hiệu quả sản xuất
1.1.1.1. Khái niệm về hiệu quả
Trong kinh tế học tân cổ điển hiệu quả ngụ ý sử dụng tối ưu kinh tế, tập hợp
các nguồn lực để đạt được mức phúc lợi vật chất cao nhất cho người tiêu dùng của
một xã hội nói chung theo một tập hợp giá nguồn lực và giá thị trường đầu ra nhất
định.
Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, phổ thông trong cách nói của mọi người
“Kết quả theo yêu cầu của việc làm mang lại hiệu quả” [13, tr 440].
Hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, chúng có quan hệ
mật thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau. Trong đó, hiệu quả
xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi phí bỏ ra.
1.1.1.2. Hiệu quả tài chính (financial efficiency)
Hiệu quả tài chính là hiệu quả chỉ tính trên gốc độ cá nhân, tất cả chi phí và
lợi ích đều tính theo giá thị trường.
1.1.1.3. Hiệu quả kinh tế (economic efficiency)
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực
tiếp tới nền kinh tế hàng hoá và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác.
Một phương án có hiệu quả kinh tế cao hoặc một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả
kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và
chi phí đầu tư. Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và
phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần
của mọi thành viên trong xã hội.
6

hợp từ hai chỉ tiêu hiệu quả trên [6].
Hiệu quả theo quy mô (SE) chính là tỷ lệ giữa hiệu quả kỹ thuật theo quy mô
cố định chia cho hiệu quả kỹ thuật theo quy mô biến đổi
)1≤≤ TE
[6]
7
1.1.2. Khái niệm độc canh và luân canh
1.1.2.1 Độc canh
Là chỉ gieo trồng một loài cây trồng trên một diện tích đất đai nhằm thu càng
nhiều lợi nhuận càng tốt. Độc canh thường gặp rủi ro về dịch bệnh, thiên tai, có khi
những người nông dân phải làm chỉ vì ép buộc để tự nuôi sống mình trong lúc thiếu
vốn, thiếu tư liệu sản xuất, gia đình đông người nhưng ít lao động. Hiện nay, do đã
có thể sử dụng được các loại thuốc hoá học và phân bón có hiệu lực cao và nhanh
nên một số nông hộ tiến hành độc canh với những giống mới có năng suất cao gấp
đôi giống cũ. Tuy nhiên độc canh sẽ gây ra hậu quả chủ yếu sau:
- Dịch bệnh dễ phá hoại khi chỉ canh tác một loài cây vì mỗi loài côn trùng
có thói quen dinh dưỡng riêng.
- Giảm sút tài nguyên di truyền, do nông dân sử dụng những giống mới có
năng suất cao và giống lai để canh tác và bỏ không dùng các giống địa phương vốn
rất quan trọng để duy trì tính đa dạng di truyền trong tương lai.
- Rủi ro kinh tế lớn, vì nếu trồng một loại cây, sâu bệnh hay thiên tai phá
hoại sẽ thất bại hoàn toàn. Ngay cả khi được mùa, giá sản phẩm của loại cây trồng
đó cũng có thể mất giá do cung vượt quá cầu. Độc canh làm cho kinh tế nông hộ
bấp bênh, không ổn định [5].
1.1.2.2. Luân canh
Luân canh là việc trồng các loài cây trồng khác nhau hay nuôi thủy sản luân
phiên theo vòng tròn trên cùng một mảnh đất. Nó làm giảm sự thoái hoá độ phì
nhiêu. Để xây dựng một kế hoạch luân canh tốt cần nghiên cứu tính chất từng loại
cây, con dựa vào mức độ tiêu thụ chất dinh dưỡng và tính chất chịu được bệnh, dịch
hại [5]

- Prôtêin: Chiếm 6 - 8% thấp hơn so với lúa mỳ và các loại cây khác. Giống
lúa có hàm lượng prôtêin cao nhất là 12,84% và thấp nhất là 5,25%. Phần lớn các
giống Việt nam nằm vào khoảng 7 -8%.
- Lipít: Ở lúa lipít thuộc loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo.
Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1, B2, B6…Vitamin
9
B1 là 0,45 mg/100hạt. Từ những đặc điểm của cây lúa và giá trị của nó, lúa gạo
được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị và được tổ chức dinh dưỡng
quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống".
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có năng suất
cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng lương thực là chủ yếu
thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau.
1.1.3.2. Vị trí và tầm quan trọng của cây mè
Mè là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công
nguyên). Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di về phía tây - vào
châu Âu và phía nam vào châu Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước
nam Á Trung Quốc. Ấn Độ được xem như là trung tâm phân bố của cây mè.
Ở Nam Mỹ, mè được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám
phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha và Tây
Ban Nha) đem mè đi bán.
Mè có giá trị dinh dưỡng rất cao. Cụ thể hạt mè được sử dụng rất phổ biến để
chế biến nhiều dạng thức ăn (kẹo mè, chè mè ). Trong dân gian, còn dùng mè để
nấu cháo (nếp với mè) cho người mẹ cho con bú rất tốt.
Không những thế dầu mè là một loại thực phẩm rất được ưa chuộng và được
tiêu thụ rất mạnh. Khác với các loại dầu khác là không bị oxy hóa nên nên không
chuyển thành mùi khó chịu. Vì trong mè có chứa chất sesamol, ngăn cản quá trình
oxy-hóa.
Trong kỹ nghệ, dầu mè sử dụng để bôi trơn máy móc cao cấp: máy bay, máy
dùng trong khoa học kỹ thuật, dầu dùng để pha sơn, pha vecni rất tốt vì có màu láng
bóng.

ngày công lao động gia đình x giá thuê lao động tại địa phương.
Chi phí phân bón: Phân bón sử dụng trong sản xuất lúa và mè gồm các loại
khác nhau. Chi phí phân bón bình quân một công (ứng với 1000 m
2
) của từng hộ
trong từng vụ sản xuất được tính bằng cách lấy (số lượng phân sử dụng x với đơn
giá mua)/diện tích sản xuất.
11
Chi phí thuốc BVTV cách tính tương tự như chi phí phân bón.
Chi phí xăng dầu tưới tiêu bằng lượng xăng dầu sử dụng x giá xăng dầu trên
thị trường.
Chi phí thuê đất: Được tính theo giá thuê đất từng vụ sản xuất ở địa phương
tính theo đơn vị là công với một công tương ứng 1000 m
2
.
Chi phí sử dụng máy: gồm các loại máy móc chủ yếu như máy làm đất, máy
gặt đập liên hợp được tính bằng cách lấy số giờ sử dụng máy x đơn giá thuê máy
theo giờ.
1.1.4.2. Các yếu tố về giá trị sản xuất và cách tính
Các yếu tố về giá trị sản xuất
Giá trị sản xuất từng vụ = sản lượng thu hoạch x giá bán trên thị trường
Giá trị sản xuất của mô hình = tổng giá trị sản xuất của các vụ sản xuất
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình
1.1.5.1. Những biến đầu vào
Phân bón: Chỉ lượng phân bón hóa học được sử dụng bao gồm Ure, NPK, và
kali, được thể hiện theo đơn vị kg.
Thuốc hóa học: Dùng để chỉ tổng hợp các loại thuốc diệt côn trùng, thuốc
diệt nấm, thuốc diệt cỏ và thuốc trừ bệnh được sử dụng trong trồng lúa hoặc nuôi
cá, trồng màu, được thể hiện theo đơn vị lít hoặc kg.
Giống lúa hoặc giống mè đen: Để chỉ tổng số lúa và mè giống được sử dụng

nông hộ, được thể hiện bằng kg/công.
Năng suất mè: Để chỉ sản lượng bắp trên một đơn vị trung bình diện tích
trong nông hộ, được thể hiện bằng kg/công.
1.1.6. Định nghĩa các thuật ngữ
Nông hộ: Dùng để chỉ chủ gia đình và những thành viên sống trong gia đình,
đây vừa là một đơn vị tiêu dùng vừa là đơn vị sản xuất, và là một tổ chức xã hội sử
dụng các nguồn lực trong nông hộ để tiến hành các hoạt động sản xuất có hiệu quả
kinh tế phù hợp với điều kiện xã hội. Là nơi thực hiện áp dụng các thành tựu khoa
học tự nhiên, kinh tế xã hội để đạt mục tiêu về sản xuất nông sản hàng hóa và dịch
13
vụ cho xã hội. Nông hộ thường do một người quản lý là chủ gia đình nhưng đôi khi
cũng hoạt động theo tập thể những thành viên trong gia đình thường sống trong
cùng một nơi.
Hệ thống: Là một tổ hợp các thành phần, có vai trò và tầm quan trọng khác
nhau, có mối quan hệ tương tác với nhau trong một giới hạn nhất định có thể tác
động hoặc bị tác động bởi môi trường bên ngoài, khi một thành phần thay đổi thì cả
hệ thống bị thay đổi theo.
Canh tác: Các hoạt động có liên kết đến nông hộ trên phần đất của gia đình
thông qua việc quản lý nhằm sản xuất có hiệu quả kinh tế đối với cây trồng và vật
nuôi. Trong nghiên cứu này từ canh tác tập trung vào ba mô hình canh tác đó là mô
hình 1 vụ Lúa - cá – cây công nghiệp, mô hình 1 vụ lúa - cá - màu – cây công
nghiệp và mô hình 2 vụ lúa- cá - màu - cây công nghiệp.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa và mè trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á. Ở
Châu Á, lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu
Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ. Thống kê của tổ chức lương thực thế
giới (FAO,2008) cho thấy, có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích
trồng lúa trên trên 1.000.000 ha tập trung ở Châu Á, , 31 nước có diện tích trồng

Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nông nghiệp, cây lúa là cây trồng
chính và lâu đời, Nó được phân bố khắp mọi miền của đất nước từ Bắc vào Nam, là
một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa.
Hơn 70 % dân số Việt nam sống bằng nghề trồng lúa, nhân dân ta rất cần cù, sáng
tạo và giàu kinh nghiệm trong nghề trồng lúa nước, được kế thừa những kinh
nghiệm của cha ông và đúc rút nhiều thành công trong công tác chăm sóc và gieo
trồng.
Qua số liệu thực tế, diện tích sản xuất lúa của nước ta qua 2 năm tăng lên .
Từ 7400,2 nghìn ha (năm 2008), tănglên 7440,1 nghìn ha (năm 2009), tức tăng 39,9
nghìn ha so với năm 2009, tương ứng giảm 0,5%.Tuy vậy năng suất cũng không
tăng lên qua 2 năm. Từ 52,3 ta/ha (năm 2008) xuống còn 52,2 tạ/ha (năm 2009), tức
giảm 0,1 tạ/ha,tương ứng 0,2%. Sản lượng lúa vẫn tăng được ổn định khi diện tích
15
tăng qua 2 năm. Sản lượng năm 2009 đạt 38895,5 nghìn tấn, tăn 165,7 tấn so với
năm 2008, tương ứng tăng 0,4%.
1.2.1.2. Tình hình sản xuất mè trên thế giới và Việt Nam
Cây mè có nguồn gốc từ Châu Phi. Có nhiều ý kiến cho rằng Êtiopi là
nguyên sản của giống mè trồng hiện nay. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng
Afghan - Persian mới là nguyên sản của các giống mè trồng. Mè là loại cây có dầu
được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên). Sau đó được đưa vào
vùng tiểu Á (Babylon) và được di về phía tây - vào châu Âu và phía nam vào châu
Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước nam Á Trung Quốc. Ấn Độ
được xem như là trung tâm phân bố của cây mè.
Ở Nam Mỹ, mè được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám
phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha và Tây
Ban Nha) đem mè đi bán.
Về tình hình sản xuất trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè từ 5 triệu ha
vào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất
với diện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha,
Soudan 400.000 ha, Mehico 200.000 ha. Các quốc gia có diện tích trồng < 50.000

cần phải thực hiện các biện pháp kỹ thuật để cải thiện độ phì nhiêu của đất, nâng
cao năng suất và chất lượng cây trồng.
Mô hình canh tác lúa 3 vụ được đưa vào sản xuất ở ĐBSCL từ đầu những
năm 80 của thế kỷ XX và diện tích lúa 3 vụ ngày càng tăng nhanh, tập trung nhiều ở
những vùng đất phù sa ven sông Tiền và sông Hậu. Một số vùng bị ngập lũ trước
đây nay bị nông dân và địa phương làm bao đê để tăng vụ. Chính vì thế năng suất
lúa ở một số vùng đất thâm canh có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do sử dụng đất
không hợp lý dẫn đến đất bị thoái hóa. Từ năm 1999, Bộ môn Khoa học Đất và
Quản lý đất đai, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần
Thơ đã hợp tác với các trường Đại học K.U. Leuven, Ghent của Bỉ, thực hiện đề tài
nghiên cứu “Giảm thiểu những tính chất bất lợi của đất cho sản xuất lúa bền vững
17
ở ĐBSCL”. Hiện nay, đề tài đang thực hiện ở giai đoạn cuối, nhằm khảo sát toàn
diện và quản lý đất hợp lý cho ĐBSCL để bảo đảm sự phát triển bền vững.
Các nhà khoa học đã tập trung điều tra nghiên cứu tính chất hóa, lý, sinh học
của đất ở những vùng này để làm cơ sở khoa học khuyến cáo ngành nông nghiệp và
nông dân quản lý và sử dụng đất một cách hợp lý, hiệu quả. Một nghiên cứu về chất
hữu cơ trong đất cho thấy, việc canh tác bất hợp lý dẫn đến chất lượng chất hữu cơ
trong đất ngày càng suy giảm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cây trồng.
Dù có bón phân hóa học, cây trồng vẫn lấy đi khoảng 50% đến 80% đạm từ đất. Do
đó, cần phải tăng cường khả năng cung cấp đạm từ đất bằng các biện pháp: luân
canh lúa với cây trồng cạn, bón phân hữu cơ cho đất, cần có thời gian để khô đất
giữa 2 vụ lúa bằng cách phơi ải đất từ 2 đến 4 tuần Việc luân canh lúa với cây
trồng cạn, phơi đất giữa 2 vụ canh tác sẽ làm chất hữu cơ trong đất chuyển đổi từ
dạng này sang dạng khác theo hướng có lợi cho cây trồng sử dụng, làm tăng lượng
đạm trong đất.
Kết quả của một thí nghiệm trên ruộng của nông dân ở huyện Cai Lậy, tỉnh
Tiền Giang trong vụ thu đông 2005, cho thấy: mô hình trồng lúa 3 vụ cho năng suất
khoảng 3,3 tấn/ha, trong khi năng suất lúa ở mô hình luân canh lúa - bắp - lúa đạt
gần 4,1 tấn/ha, mô hình lúa - đậu xanh - lúa đạt trên 4,5 tấn/ha. Thí nghiệm trong vụ

hàm sản xuất Cobb – Douglas dạng log để đo lường hiệu quả sản xuất. Với kết quả
nghiên cứu thì đề tài chỉ ra rằng tất cả nông hộ tại Việt Nam đạt hiệu quả kỹ thuật là
0,785 với mức cao nhất là 1, vùng đạt được hiệu quả kỹ thuật cao nhất là đồng
bằng sông Cửu Long, vùng thấp nhất là Bắc Trung Bộ, tương tự Miền Nam đạt
hiệu quả kỹ thuật cao nhất trong ba vùng Bắc, Trung và Nam của Việt Nam, nông
hộ có quy mô lớn đạt hiệu quả kỹ thuật cao hơn nông hộ canh tác với quy mô nhỏ,
nông hộ canh tác đa dạng đạt hiệu quả kỹ thuật cao hơn là những nông hộ chỉ trồng
lúa.
Đồng thời nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ngoài những biến cơ bản ảnh
hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ thì những biến về đặc điểm của nông hộ
cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của nông hộ trong trồng lúa như cỡ hộ, tỉ lệ người
19
trong độ tuổi lao động của nông hộ, độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ. Tác giả
cũng đề nghị là nông hộ của Việt Nam có thể tăng yếu tố đầu vào để tăng sản lượng
đầu ra.
Nguyễn Thanh Giàu (2009), nghiên cứu đề tài “ So sánh hiệu quả kinh tế
của mô hình hai vụ lúa-một vụ đậu nành và mô hình 3 vụ lúa ở hai xã Thành Lợi và
Tân Bình, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long”. Nếu xét về yếu tố chi phí thì chi phí
của mô hình hai lúa-một đậu nành cao hơn mô hình ba vụ lúa 0,08%; xét về thu
nhập thì mô hình hai lúa-một đậu nành có thu nhập cao hơn mô hình ba vụ lúa
21,72%; lợi nhuận của mô hình hai lúa-một đậu nành cao hơn mô hình ba vụ lúa
49,61%. Qua các chỉ tiêu kinh tế, các chỉ số tài chính và quan trọng nhất là hiệu quả
kỹ thuật của hai mô hình, đề tài đi đến kết luận: mô hình hai lúa-một đậu nành có
hiệu quả hơn mô hình 3 vụ lúa.
Nguyễn Văn Quang, Lê Thanh Phong (2007) với đề tài nghiên cứu “So
sánh hiệu quả giữa mô hình ba lúa và hai lúa-một đậu nành tại huyện Tam Bình,
tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện từ năm 2004-2007. 03 hộ được chọn trồng ba vụ
lúa và 03 hộ được chọn trồng hai vụ lúa-một vụ đậu nành. Các chỉ tiêu về năng suất,
thu nhập, lợi nhuận, hiệu quả đồng vốn và một số đặc tính quan trọng của đất được
ghi nhận và phân tích. Kết quả, năng suất lúa đông xuân tăng nhưng không có ý

độ ảnh hưởng. Kết quả phân tích cho thấy rằng các doanh nghiệp chế biến thủy sản
bị ảnh hưởng đáng kể bởi độ tuổi của lãnh đạo doanh nghiệp, khả năng tiếp cận tín
dụng, trình độ văn hóa, loại hình doanh nghiệp và tổng số vốn hoạt động của doanh
nghiệp.
21
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tổng quan tình hình kinh tế-xã hội vùng ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long gồm 12 tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung
ương là: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh, Bến
Tre, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.
Diện tích tự nhiên vùng ĐBSCL là 4.060,2 nghìn ha, chiếm khoảng 12,26%
diện tích tự nhiên của cả nước. Diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp năm 2008 là
2.560,6 nghìn ha. Năm 2009 ĐBSCL có cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp là: nông
nghiệp 32,88%, thủy sản 65,12%, lâm nghiệp 2,00% [4, tr 29].
Tổng diện tích xuống giống lúa năm 2008 là 3.858,9 nghìn ha, với sản lượng
thu hoạch là 20.681,6 nghìn tấn. Giá trị sản xuất nông nghiệp toàn vùng (tính theo
giá cố định 1994) phát triển liên tục với tốc độ cao, năm 2008 đạt 52.036,4 tỷ đồng,
chiếm 33,21% so với cả nước và tăng bình quân 5,6%/năm [4, tr 29].
Dân số ĐBSCL năm 2008 là 17,695 triệu người, mật độ dân số 436
người/km
2
. Trong đó dân số thành thị là 3,799 triệu người, chiếm tỷ lệ 21,47% và
dân số nông thôn là 13,896 triệu người, chiếm tỷ lệ 78,53%. Tỷ lệ thất nghiệp của
lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2008 là 2,71%, tỷ lệ thiếu việc làm 6,39%,
trong đó tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nông thôn lên đến 7,11%. ĐBSCL có 4
dân tộc chính cùng sinh sống với nhau, đó là: Kinh, Hoa, Khmer, và Chăm [12].
2.1.2. Tổng quan tình hình kinh tế-xã hội thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11

. Trong đó nam: 595.838 người, tỷ lệ 49,66%, nữ: 603.979
người tỷ lệ 50,34%, dân số thành thị: 791.055 người, tỷ lệ 65,93%, dân số nông
thôn: 408.762 người, tỷ lệ 34,07%.
Số người tham gia lao động 808.156 người, trong đó số lao động nông, lâm
nghiệp và thủy sản là 247.521 người.
Tổng sản phẩm năm 2010 đạt 111.291.988 triệu đồng, trong đó: lĩnh vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9.721.072 triệu đồng, công nghiệp xây dựng
23
68.834.787 triệu đồng và các ngành dịch vụ 32.736.139 triệu đồng; Cơ cấu kinh tế:
nông lâm thuỷ sản đạt 8,74%, công nghiệp và xây dựng đạt 61.85% và các ngành
dịch vụ đạt 29.,41% [2].
2.1.3. Tổng quan tình hình kinh tế xã hội quận Ô Môn
2.1.3.1. Vài nét về lịch sử hình thành Quận Ô Môn
Ô Môn, vùng đất Trấn Giang vào cuối thế kỷ XVI, người dân Việt Nam từ
miền Bắc, miền Trung không thể sống trong cảnh loạn lạc, bất công gây cho người
dân lầm than, cực khổ của cuộc chiến tranh kéo dài 175 năm thời của hai triều đại
phong kiến Trịnh-Nguyễn, nên người dân phải vượt qua dòng sông Tiền, rồi sông
Hậu về vùng đất Ô Môn-Trấn Giang xưa để khai hoang đất đai sinh sống nhằm tạo
lập cuộc sống tự do. Cuộc sống ban đầu tại đây rất khó khăn và thử thách trong quá
trình chinh phục thiên nhiên, chống lại thú dữ,… và dần dần những làng xóm hình
thành từ đây như xóm Vàm Thới An, Vàm Kinh Ba Rích, Tắc Ông Thục,…
Đến thế kỷ XVII và XVIII, Chúa Nguyễn tổ chức cuộc di dân lớn tiến qua
hữu ngạn sông Tiền tiến đến vùng đất bờ Nam sông Hậu và đến vùng đất Ô Môn
ngày càng đông để khai hoang trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề thủ công, Thời Gia
Long đến Minh Mạng, vùng đất này được người dân khai hoang ngày càng trở nên
trù phú và phồn thịnh. Người Kinh, Khmer, Hoa kéo đến đây định cư, lập nghiệp
ngày càng đông. Vùng đất Ô Môn đã nổi tiếng có chợ Thới An Đông là một trong
ba chợ lớn thời bấy giờ gồm chợ Sưu gần bến sông Cần Thơ, chợ Tân An gần bến
sông Bình Thủy và Thới An Đông gần sông Ô Môn [14].
Ô Môn là vùng đất không những sớm phát triển kinh tế, trao đổi thương mại

diện tích đất nông nghiệp chiếm 9.986,63 ha (75,5% diện tích tự nhiên), gần như
toàn bộ là đất dành cho trồng trọt gồm: đất trồng cây hằng năm là 6.940,37 ha
(69,4% diện tích đất trồng trọt) chủ yếu là đất canh tác lúa và lúa màu; đất trồng cây
lâu năm 3.046,26 ha phân bố chủ yếu tại khu vực thổ canh và ven sông Hậu; đất có
mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 154,1 ha. Đất chuyên dùng chiếm 985,5 ha (7,5%
diện tích tự nhiên) với 1.152 ha đất xây dựng. Đất giao thông chiếm 161 ha, bình
quân/người rất thấp (15m
2
) so với chuẩn đô thị [2].
25

Trích đoạn Mô hình phân tích bao dữ liệu (Data Enveloment Analysis – DEA) Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất vụ Thu Đông Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa Đông Xuân ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất mô hình lúa– mè
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status