đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự - Pdf 24



`ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM NGÔ XUÂN LIỄU
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ
VÀ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN QUÂN
ĐỘI ĐÃ HOÀN THÀNH NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05

1.2.2. Khái niệm việc làm 14
1.2.3. Mối quan hệ giữa tư vấn nghề và giới thiệu việc làm 18
1.3. Tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm 19
1.3.1. Khái niệm chung về Quản lý và Tổ chức 20
1.3.2. Tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và an ninh quốc phòng 21
1.3.3. Nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm tại đơn vị cơ sở 24
1.4. Những đặc trưng của tổ chức hoạt động tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm Quân đội 35
1.4.1. Cơ cấu chỉ đạo xúc tiến việc làm Bộ Quốc phòng 35
1.4.2. Mục tiêu, nội dung hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm
Quân đội 36
1.4.3. Các hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm trong Quân đội 36
1.5. Các điều kiện đảm bảo. 37
1.5.1. Môi trường kinh tế- xã hội và khoa học- công nghệ 37
1.5.2. Nhận thức của cán bộ quản lý và các tầng lớp nhân dân 37
1.5.3. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn nghề và giới thiệu việc làm 37
1.4.4. Nguồn tài chính, cơ sở vật chất và công cụ phục vụ hoạt động
tư vấn nghề và giới thiệu việc làm 38

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TƢ VẤN NGHỀ VÀ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI
ĐÃ HOÀN THÀNH NGHĨA VỤ QUÂN SỰ.

2.1. Thực trạng tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm
ở nước ta. 39

giai đoạn hiện nay. 70
3.2.2. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, Quân đội bằng việc đề ra
cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động
tư vấn nghề và giới thiệu việc làm, làm cơ sở kiện toàn bộ máy
tổ chức tư vấn nghề và giới thiệu việc làm ở đơn vị cơ sở phù hợp
với chức năng nhiệm vụ trong tình hình mới. 72
3.2.3. Đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động gắn liền với công tác biên soạn tài liệu, xây dựng công cụ và quy trình tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm. 76
3.2.4. Hoàn thiện cơ chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm. 81
3.2.5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm cho thanh niên Quân đội
đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự 88
3.3. Kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
thông qua phiếu khảo sát cán bộ quản lý và chuyên gia. 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

tại Việt Nam”, được tổ chức tại khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhiều
đại biểu đã bức xúc nêu rõ: đại đa số học sinh phổ thông sau Trung học không
đánh giá được năng lực của mình, cũng không biết rõ mình thích nghề gì. Những
câu hỏi: đi đâu? học trường nào? làm nghề gì sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở,
Trung học phổ thông? thường là những phương trình có nhiều ẩn số, là những câu
hỏi gay cấn khó giải đáp nhất. Các em đó đang cần được tư vấn chọn nghề. Một
số học sinh khi đã bước vào trường chuyên nghiệp mới vỡ lẽ rằng “mình chọn
nhầm nghề”. Một cuộc thăm dò ý kiến 700 học sinh học nghề cho thấy: 12% thờ
ơ với nghề đang học, 17,4% muốn chuyển nghề [24, tr.129]. Với thanh niên Quân
đội, sau thời gian phục vụ trong quân ngũ theo luật nghĩa vụ quân sự cũng rơi
vào tình trạng tương tự. Tất cả những điều trình bày ở trên nói lên rằng tư vấn
nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên, nói chung và thanh niên Quân đội,
nói riêng là cần thiết và cấp bách.

2
Trước tình hình đó, Nghị quyết 120/HĐBT, ngày 11/04/1992 của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “Chủ trương, phương hướng và biện
pháp giải quyết việc làm trong những năm tới” được ban hành. Hệ thống Xúc
tiến việc làm Quân đội, theo đó cũng được thành lập nhằm mục đích để giải
quyết việc làm cho thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, công nhân viên
chức quốc phòng diện dôi dư biên chế, con em thương binh, liệt sĩ và các đối
tượng chính sách, xã hội khác, góp phần giải quyết chính sách hậu phương Quân
đội, tăng cường lực lượng quân dự bị động viên, đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi
khi có chiến tranh xảy ra, phù hợp với quan điểm xây dựng Nền Quốc phòng
toàn dân, Chiến tranh nhân dân của Đảng và Nhà nước ta.
Từ khi thành lập và bước vào hoạt động cho đến nay đã được hơn 10 năm,
nhưng, tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm của hệ thống Xúc tiến
việc làm Quân đội vẫn chưa có gì thay đổi đáng kể. Chính vì lý do đó, chúng tôi đã
chọn “Đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên
Quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn

7. Giả thuyết của vấn đề nghiên cứu.
Nếu xây dựng được các giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn nghề
và giới thiệu việc làm, quán triệt được các yêu cầu, nhiệm vụ thì công tác tư vấn
nghề và giới thiệu việc làm sẽ đạt hiệu quả cao.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
- Ý nghĩa khoa học.
Luận văn là bản tổng kết lý luận về tư vấn nghề và giới thiệu việc làm
trong Quân đội, làm cơ sở cho nhà quản lý đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn
nghề và giới thiệu việc làm có hiệu quả, đồng thời, làm tiền đề cho nghiên cứu
vấn đề hướng nghiệp trong Quân đội.
- Ý nghĩa thực tiễn.
Đề tài giúp cho các cấp quản lý trong Quân đội và bên ngoài xã hội nhận
thức được vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tư vấn nghề và giới
thiệu việc làm, từ đó tổ chức hoạt động có hiệu quả để trang bị nghề nghiệp và
giải quyết việc làm cho thanh niên Quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự

4
đúng với khả năng, mong muốn của bản thân họ, cũng như phù hợp với nhu cầu
nhân lực, sự phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương và cả nước. Đồng
thời, tổ chức tốt hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cũng giúp cho việc
đào tạo nguồn nhân lực của Quân đội, nói riêng và cả nước, nói chung theo cơ
cấu trình độ và ngành nghề một cách hợp lý.

9. Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm
cho thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho

thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì lao
động – việc làm cũng được đổi mới một cách căn bản cả về nhận thức, về chủ
trương chính sách và thực tiễn. Trong quá trình phát triển đó, hoạt động tư vấn
nghề và giới thiệu việc làm cũng hình thành và phát triển ở Việt Nam nhằm đáp
ứng một cách khách quan về cung – cầu nhân lực trong thị trường lao động.
Trong nước và quốc tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu, tài liệu và báo cáo khoa
học bàn về vấn đề tư vấn nghề và giới thiệu việc làm. Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) đã xuất bản nhiều tài liệu mang tính tổng kết thực tiễn và hướng dẫn tổ chức
hoạt động dịch vụ việc làm, là cẩm nang quan trọng đối với các nước có thị trường
lao động mới hình thành như ở nước ta. Các tài liệu phải kể đến như: “Employment
Service – A Guide Book”, ILO, Bangkok, 1999 (sách hướng dẫn về dịch vụ việc làm
của Tổ chức Lao động Quốc tế, xuất bản tại Băng Cốc năm 1999); hay “The Public
Employment Service in a Changing Labour Market”, ILO, Geneva, 2001 (Dịch vụ
việc làm công trong một thị trường lao động luôn biến động, sách của Tổ chức Lao
động Quốc tế, được xuất bản tại Giơ ne vơ năm 2001) v.v…
Đối với trong nước, nhiều nhà giáo dục học, nhà hoạt động trong lĩnh vực lao
động, nghề nghiệp và việc làm đã có những đóng góp to lớn cho sự hình thành và phát
triển của hoạt động hướng nghiệp, trong đó có hoạt động tư vấn nghề và việc làm cho

6
thanh, thiếu niên và học sinh, như: Phạm Tất Dong, Lê Đức Phúc, Nguyễn Thế
Trường, Phạm Huy Thụ, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Phan Ngọc Luận, Nguyễn Thế
Quảng, Phạm Thị Thanh, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Mạc Văn
Trang v.v… Nhiều sách, tài liệu đã được xuất bản, như: “Giúp bạn chọn nghề” (1989)
của tác giả Phạm Tất Dong, cuốn sách đã được Nhà xuất bản Thanh niên tái bản tháng
7 năm 2006 với nhiều tác giả cùng tham gia, đồng thời đã được bổ sung nhiều thông
tin, tri thức mới trong lĩnh vực tư vấn chọn nghề và việc làm trong bối cảnh hiện nay;
“Tài liệu tập huấn tư vấn nghề cho học sinh phổ thông năm 1992, 1994” do Phạm
Huy Thụ chủ biên, đã đưa ra những quy trình và các TEST trắc nghiệm lý thú, sinh
động được sử dụng trong công tác tư vấn hướng nghiệp. Đặc biệt, nhiều bài tham luận

công lao động của xã hội”.
Theo tác giả E.A. Klimốp thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức
mạnh vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã
hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho mỗi con người khả
năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cho việc tồn tại
và phát triển” [23, tr.10].
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: tri
thức lý thuyết, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, đạo đức phẩm chất
nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Những giá trị này có thể được hình thành theo
con đường tự phát (do tích lũy kinh nghiệm trong quá trình sống với cộng đồng
mà có) hoặc theo con đường tự giác (do được đào tạo).
Tuy có nhiều định nghĩa, nhiều cách diễn tả về nghề, song tóm lại, khái
niệm nghề gồm có những đặc trưng: công việc chuyên làm; phương tiện để kiếm
sống; hoạt động chân tay và trí óc; gắn với con người một phần, hay cả cuộc đời;
và gắn với xã hội…
Nói về “nghề” người ta thường phân biệt “nghề nghiệp” và “chuyên môn”.
Chuyên môn là: “Một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, trong đó, con người
bằng sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần của mình làm ra những giá trị vật
chất hoặc những giá trị tinh thần như là những phương tiện cần cho sự tồn tại và
phát triển của xã hội” [16, tr.3].

8
Chuyên môn là một khái niệm hẹp so với khái niệm nghề, nhiều chuyên môn
tập hợp lại thành nghề. Nhưng chuyên môn lại hoàn toàn quy định hình thức của
một dạng hoạt động lao động và mang tên gọi đặc trưng của nghề đó. Do vậy, khi
xem xét nghề thì cũng phải phân biệt được từng chuyên môn trong nghề (Ví dụ:
Nghề dạy học thì không có nghề dạy học chung chung mà phải gắn liền với giáo
viên toán, giáo viên văn, giáo viên hóa v.v…, hoặc là giáo viên cấp 1, giáo viên
cấp 2 v.v…).
Tóm lại, nghề nghiệp là một phạm trù lịch sử xã hội, có nghĩa là nghề được

có điều kiện lao động đặc biệt [25, tr.11].
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền, trong cuốn “Hoạt
động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”, đã
tổng hợp đề xuất 5 cách phân loại nghề, gồm: 1) Dựa trên đối tượng lao động; 2)
Dựa trên mục đích lao động; 3) Dựa trên công cụ và phương tiện lao động; 4)
Dựa vào điều kiện lao động; và 5) Dựa trên các thao tác lao động [22, tr.15].
Tác giả E.A. Klimốp, trong cuốn “Nay đi học mai làm gì?”, đã lấy đối
tượng lao động làm dấu hiệu phân loại [23, tr.18].

Nhóm nghề
đối tƣợng lao động
chủ yếu
Ví dụ về các nghề và
chuyên môn
Ngƣời

Thiên nhiên
Các tổ chức hữu cơ, các
quá trình sinh vật và vi
sinh vật.
Trồng lúa, chăn nuôi,
nuôi ong, bác sĩ thú y,
trồng rừng, khai thác gỗ
Ngƣời
_
Kỹ thuật
Hệ thống các thiết bị kỹ
thuật, các nguyên vật
liệu, năng lượng, các đối
tượng vật chất…

10
Để thuận lợi cho việc nhận biết nghề, nhóm nghề trong công tác tư vấn
nghề, người ta thường lấy đối tượng lao động làm dấu hiệu phân loại.
1.2.1.2. Tư vấn nghề.
Tư vấn nghề là khâu trung gian giữa hai khâu định hướng nghề và tuyển
chọn nghề (Hình1). Người chọn nghề nhiều khi do chưa thật hiểu về mình, cũng
có thể do ảnh hưởng của dư luận xã hội hoặc thiếu cái nhìn thực tế về nhu cầu
của thị trường lao động mà có những quyết định chọn nghề thiếu chín chắn,
chính xác, có thể dẫn tới hậu quả chán nghề, xin đổi nghề hoặc bỏ nghề. Nhờ có
công tác tư vấn nghề, đối tượng tư vấn có thể có sự định hướng nghề đúng đắn
hơn hoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn để theo đuổi một nghề nào đó. Thực chất của tư
vấn nghề là căn cứ vào những biện pháp chuyên môn cho đối tượng tư vấn
những lời khuyên về chọn nghề sát hợp và có cơ sở khoa học, giúp họ chọn
được cho mình một nghề yêu thích, thực sự phù hợp với mình, để lập thân, lập
nghiệp, cống hiến tài năng và trí tuệ của mình. Đồng thời, để có được sự tiến bộ
trong nghề nghiệp và trụ vững trong cuộc đời

Hình 1: Vị trí của tƣ vấn nghề trong hƣớng nghiệp

Trong khi đó, định hướng nghề là xác định những nghề mà người cần tư
vấn có thể tham gia, lựa chọn, phù hợp với hứng thú sở trường của mình, đồng
thời hứa hẹn có thể làm việc lâu dài và đạt thành tích trong nghề. Trong số
những nghề nói trên, ta có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên cho sự lựa chọn. Muốn
định hướng đúng, người chọn nghề phải có những thông tin cần thiết về yêu cầu


Tư vấn nghề xuất phát từ người đến nghề, giúp đối tượng tư vấn hiểu về
mình, trong khi tuyển chọn nghề lại xuất phát từ nghề đến người, tuyển chọn
người vào học hay vào làm việc.
Qua nghiên cứu trên, chúng ta thấy rằng, tư vấn nghề là công việc đòi hỏi
người làm công tác này phải có tinh thần trách nhiệm rất cao trước việc đưa ra
những lời khuyên, đồng thời phải tôn trọng nguyên tắc tự do chọn nghề của mỗi
cá nhân. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, khi mà
thương trường như là chiến trường, và con người phải đối mặt với một thực tế
Tôi muốn
(hứng thú)
Tôi có thể
(năng lực)

Tôi phải
(nhu cầu
xã hội)

12
cạnh tranh khốc liệt thì việc chọn nghề thiếu những luận cứ khoa học sẽ tác hại
đến bản thân người chọn nghề cũng như đối với lợi ích của cộng đồng.
Tóm lại, tư vấn nghề được hiểu là “hệ thống các biện pháp tâm lý – giáo
dục và y học nhằm phát hiện và đánh giá nhân cách của người cần tư vấn,
giúp họ chọn nghề trên cơ sở khoa học. Nói cách khác, tư vấn nghề là việc
đối chiếu yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động với hứng thú,
khuynh hướng của người cần tư vấn, rồi cho họ lời khuyên nên học nghề nào
thì phù hợp” [24, tr.129].


Hình 3: Quan niệm hƣớng nghiệp suốt đời

1.2.1.4. Yêu cầu kiến thức đối với nhà tư vấn.
Hiệu quả của công tác tư vấn nghề phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ.
Mặt khác tư vấn nghề là công việc rất phức tạp. Vì vậy, đòi hỏi cán bộ tư vấn
phải có tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết rộng và phải nắm vững các loại thông tin
chủ yếu sau:
- Thông tin về “thế giới nghề nghiệp” theo phân loại nghề. Đồng thời,
phải biết thông tin về các đặc điểm và yêu cầu của một nghề cụ thể, trong đó,
đặc biệt lưu ý đến các yêu cầu về tâm – sinh lý và các chống chỉ định y học của
nghề.
- Thông tin về đào tạo, như: kế hoạch, hình thức, thời gian, địa điểm, cũng
như quy mô đào tạo.
- Thông tin về thị trường lao động, như: cung lao động, cầu lao động, giá
cả lao động và các thể chế về lao động. Trong đó, đặc biệt quan tâm tới nhu cầu
nhân lực của từng địa phương, ngành kinh tế, khu công nghiệp, và các doanh
nghiệp trên từng địa bàn và cả nước.
- Thông tin về đối tượng tư vấn, gồm: Tên, tuổi, giới tính, kết quả đào tạo
huấn luyện, hoàn cảnh gia đình (bố mẹ, nghề nghiệp), bạn bè thân thích, đặc biệt
phải nắm thông tin về nhân cách, mà trước hết là hứng thú, khuynh hướng và
năng lực [24, tr. 132].
Những thông tin trên là căn cứ để cán bộ tư vấn giúp đối tượng chọn nghề.
1.2.1.5.Các loại tư vấn chọn nghề.
Định hƣớng
nghề
(Chọn nghề)
Thích ứng nghề
(Học nghề)
Phù hợp nghề

việc làm dựa vào sự sắp xếp của Nhà nước. Người lao động không được quyền
tự tạo ra việc làm, không được lựa chọn ngành nghề, không được di chuyển lao
động. Đây là nguyên nhân chính, chủ yếu làm cho người lao động thờ ơ với kết
quả lao động, không quan tâm đến năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động của

15
chính mình. Ngày nay, trong cơ chế thị trường, nhiệm vụ đặt ra là phải gắn cơ
chế mới với việc giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người có cơ hội
phát triển tài năng, tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do sản xuất kinh doanh, tự do
sáng tạo ra những sản phẩm nghệ thuật v.v Theo đó, thị trường lao động cũng
phải tự do. Đây là sự thay đổi căn bản nhất trong nhận thức về lao động và việc
làm hiện nay.
Với nhận thức này, quan niệm về việc làm, mục tiêu giải quyết việc làm
hay tạo việc làm cũng thay đổi và có nhiều ý kiến khác nhau.
- Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì: việc làm là những hoạt động
lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
- Điều 18, Chương II, Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt nam ghi:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm
đều được thừa nhận là việc làm”.
Tuy có nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm này, nhưng mọi quan
niệm đều cho rằng việc làm bao hàm ba nội dung cơ bản sau đây:
Việc làm là những hoạt động của con người - nhằm mục đích tạo ra thu
nhập - hợp pháp (không bị pháp luật ngăn cấm).
Điều đó cũng có nghĩa là các quan niệm đều thống nhất: Mọi hoạt động
lao động tạo ra thu nhập, hợp pháp đều được thừa nhận là việc làm.
1.2.2.1. Bản chất của hoạt động giới thiệu việc làm.
Để hiểu rõ bản chất của hoạt động giới thiệu việc làm, trước hết, chúng ta
tìm hiểu khái niệm dịch vụ việc làm.
Dịch vụ việc làm là khái niệm xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 tại một số
nước công nghiêp phát triển như Anh, Mỹ, do lo ngại ảnh hưởng tiêu cực về

Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm được thí điểm ở một số địa phương
đến nay đã có 170 Trung tâm giới thiệu việc làm hoạt động trên địa bàn 64 Tỉnh/
Thành trong cả nước, trong đó có hệ thống Xúc tiến việc làm Quân đội. Tuy còn
rất non trẻ, nhưng hoạt động dịch vụ việc làm đã có những đóng góp đáng kể
trong việc tư vấn nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho xã hội.

17
Như vậy, theo các chuyên gia thì Giới thiệu việc làm hay Dịch vụ việc
làm là “toàn bộ các hoạt động nhằm sắp xếp việc làm có hiệu quả cho người lao
động thông qua quá trình chắp nối CUNG – CẦU lao động, hoặc tư vấn, trợ
giúp để người lao động có thể tự tạo việc làm. Sắp xếp việc làm liên quan tới
việc chắp nối kỹ năng, khả năng của người tìm việc với yêu cầu của người sử
dụng lao động. Tư vấn tạo việc làm liên quan đến việc cung cấp các thông tin về
cơ hội tự tạo việc làm, hỗ trợ các kỹ năng cần thiết để tự tạo việc làm. Để đạt
được các mục tiêu trên, giới thiệu việc làm còn bao hàm một số chức năng khác
như tư vấn luật pháp chính sách, tư vấn nghề, tư vấn đào tạo, tư vấn thông tin
thị trường lao động” [17, tr.7].
Theo ILO [32], tổ chức giới thiệu việc làm là các tổ chức mà Nhà nước
cho phép thành lập nhằm:
- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người thất nghiệp và giúp đỡ người tìm việc
tham gia hoặc tái tham gia vào thị trường lao động.
- Tổ chức thị trường việc làm nhằm đảm bảo các chỗ làm việc trống được
lấp đầy bằng những ứng viên thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của công việc đòi
hỏi trong thời gian sớm nhất; đảm bảo nhu cầu lao động hiện tại và tương lai
được đáp ứng bởi cung lao động phù hợp.
- Đề xuất và thực hiện các giải pháp nhằm tạo việc làm mới.
1.2.2.2. Tính tất yếu của hoạt động giới thiệu việc làm.
Tính tất yếu của hoạt động giới thiệu việc làm- dịch vụ việc làm, trước hết
thể hiện ở chỗ, thông qua hoạt động này Chính phủ có thể can thiệp được vào thị
trường lao động. Sự can thiệp này là cần thiết không chỉ bởi tầm quan trọng của

Để làm rõ mối quan hệ giữa tư vấn nghề và giới thiệu việc làm, trước hết
ta cần phân biệt rõ “nghề” và “việc làm”.
Nghề luôn luôn là cơ sở giúp cho con người có việc làm và từ đó tạo ra
sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội. Nếu như một
người nào đó có nghề mà chưa tìm được việc làm, thì đương nhiên người đó
không có thu nhập và tại thời điểm không có việc làm được coi là người thất
nghiệp.
Ngƣời sử
dụng lao
động
Hoạt động
giới thiệu
việc làm
Ngƣời
tìm việc
Môi trƣờng kinh tế- xã hội
Thị trƣờng lao động

19
Bất cứ việc làm nào cũng gắn với một nghề cụ thể (hoặc một chuyên môn
cụ thể), song không thể coi việc làm với nghề là đồng nghĩa. Việc làm, như đã
được trình bày ở trên, là một dạng hoạt động nhằm biến đổi đối tượng lao động
phục vụ cho lợi ích của bản thân và của xã hội. Như vậy, việc làm có thể được
xuất phát từ nghề được đào tạo, và cũng có thể là những công việc nhất thời đáp
ứng mục đích lao động kiếm sống của chủ thể.
Đôi khi, do xuất phát từ quan niệm về những kỹ năng của một hoặc nhiều
nghề được cá nhân sử dụng trong quá trình lao động đã dẫn tới sự nhầm lẫn giữa
nghề nghiệp với việc làm. Nếu việc làm diễn ra trong một thời gian dài, có cơ sở
từ nghề được đào tạo, có thu nhập ổn định, trong quá trình lao động, cá nhân
thường xuyên sử dụng một hệ thống kiến thức lý thuyết về kỹ thuật, công nghệ

phạm vi khác nhau. Nhưng, giữa chúng cũng có những điểm tương đồng:
- Đích cuối cùng là việc làm và thu nhập người lao động.
- Tìm hiểu đặc điểm, nhân cách con người.
- Tác động đến đào tạo và chuyển đổi cơ cấu nguồn nhân lực.
- Tác động lên thị trường lao động và cùng bị chi phối bởi thị trường lao động.
- Tư vấn nghề là một chức năng hỗ trợ của hoạt động giới thiệu việc làm.
Như vậy, tư vấn nghề và giới thiệu việc làm có mối quan hệ khăng khít
với nhau, cùng bổ trợ cho nhau. Nếu hai hoạt động này độc lập với nhau, tách
rời nhau thì sẽ không còn ý nghĩa và hiệu quả sẽ rất hạn chế. Do vậy, tổ chức
hoạt động tư vấn nghề cần gắn với tổ chức hoạt động giới thiệu việc làm và
ngược lại.
1.3. Tổ chức hoạt động tƣ vấn nghề và giới thiệu việc làm.
Để làm rõ tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm, trước hết
chúng ta cần phải hiểu thế nào là quản lý và tổ chức. 1.3.1. Khái niệm chung về quản lý và tổ chức.
1.3 1.1. Quản lý và các chức năng của quản lý.

Trích đoạn Mục tiờu, nội dung hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm của Quõn đội. Cỏc nguồn lực tài chớnh, cơ sở vật chất, cụng cụ phục vụ tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm. Tỡnh hỡnh lao động-việc làm. LAO ĐỘNG KỸ THUẬT Thực trạng tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status