tiểu luận kinh tế nông thôn tìm hiểu về thực trạng nguồn lao động trong nông thôn nước ta - Pdf 24

I.Phần 1: Mở đầu.
1.1.Tính cấp thiết của đề tài:
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và hậu
thuẫn đắc lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp.Như chúng ta đã biết, trong hơn 86
triệu người ở Việt Nam thì nông thôn chiếm trên khoảng 70% dân số cả nước. Điều này
cho thấy nông thôn vẫn là lực lượng lao động xã hội dồi dào và chiếm tỉ lệ cao nhất. Nông
thôn ta bao đời nay vẫn lấy nghề sản xuất nông nghiệp là nghề chính. Họ vẫn đang sản
xuất một cách tự phát, manh mún,Mặc dù trong những năm gần đây đã có sự liên kết nhà
khoa học với nhà nông nhưng cũng chưa tạo đựơc những đột phá đem lại hiệu quả. Hiện
nay, nông thôn đã mở ra nhiều ngành nghề để tạo việc làm và thu nhập nhưng hiệu quả
kinh tế vẫn chưa cao nguyên nhân là còn thiếu áp dụng các khoa học kĩ thuật vào trong
sản xuất vì vẫn nặng với cái kiểu tư duy “nghĩ sao làm vậy”.Nguồn lao động nông thôn đa
số có trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp, việc làm thiếu bền vững, thích ứng chậm với sự
biến đổi của thị trường lao động trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, Rõ ràng nguồn lao
động nông thôn dồi dào nhưng chất lượng vẫn còn yếu kém .Trong các năm đổi mới,
nguồn lao động nước ta có sự cải thiện đáng kể về lượng và chất,với nguồn tài nguyên dồi
dào chưa được khai thác hoặc khai thác chưa có hiểu quả thì đào tạo nguồn lao động nông
thôn có trình độ và chất lượng là rất cần thiết.Lao động là một trong ba nhân tố của bất
cứ một quá trình sản xuất nào và trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên
khan hiếm thì nó được xem xét là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò
của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta
đang thực hiện CNH - HĐH đất nước trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn được đặc
biệt quan tâm.
Từ những thực tế trên,chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài:"Tìm hiểu về thực trạng
nguồn lao động trong nông thôn nước ta". Từ đó đề xuất một số giai pháp khắc phục.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1.Mục tiêu chung:Tìm hiểu về thực trạng nguồn lao động trong nông thôn nước ta
trong những năm qua,phát hiện ra những thuận lợi và khó khăn.Từ đó đề xuất một số giải
pháp và phương hướng khắc phục.
1.2.2.Mục tiêu riêng: Làm rõ những lý luận và thực trạng của việc sử dụng, phát triển

thôn.
2.1.3.Vai trò của nguồn lao động trong nông thôn.
Lao động là một trong ba nhân tố của bất kỳ một quá trình sản xuất nào và trong thời đại
ngày nay khi các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xết là yếu tố quan trọng nhất
của quá trình sản xuất,vai trò của nguồn lao động nòi chung và nguồn lao động trong
nông thôn nòi riêng là rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang thực hiện CNH-HĐH đất nước.Trong
đó CNH_HĐH nông nghiệp,nông thôn được quan tâm đặc biệt.vì vậy nguồn lao động nông
thôn có vai trò rất quan trọng nó được thể hiện qua các mặt sau:
-Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các nghành trong nền kinh
tế quốc dân.
-Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực thực phẩm.
-Nguồn lao động trong nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản.
-Nguồn lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác.
2.1.4.Đặc điểm của nguồn lao động trong nông thôn.
-Lao động nông thôn mang tính thời vụ:Đây là đặc điểm đặc thù không thể xoá bỏ được
của lao động nông thôn .nguyên nhân của nét đặc thù trên là do:Đối tượng của sản xuất
nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong quá trình tái sản xuất
tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau.
cùng một loại cây trồng vật nuôi nhưng ở những vùng khác nhau co diều kiện tự nhiên
khác nhau thì chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau.tinhhs thời vụ
trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta
chỉ có thể làm giảm thời vụ trong sản xuất nông nghiệp.Từ đó đặt ra vấn đề sử dụng các
yếu tố đầu vào trong sản xuất,đặc biệt là sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý
nghía rất quan trọng.
-Nguồn lao động nông thôn tăng về số lượng:Dân số là yếu tố cơ bản quyết định đến số
lượng,quy mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa đến quy mô của nguồn lao động.
-Chất lượng lao động chưa cao:Chất lượng lao động được đánh giá qua quá trình học
vấn,chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ.

nguồn nhân lục ở đây vẫn còn yếu kém. Ngoài ra, lề lối làm ăn trong ngành nông nghiệp
truyền thống và tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế tính chủ
động sang tạo của người nông dân trong sản xuất, kinh doanh cũng như khả năng tiếp cận
thị trường của người lao động. Có thể thấy , cung lao động nông thôn dồi dào nhưng chất
lương chưa cao cả về văn hoá , kỹ năng chuyên môn cũng như hiểu biết về pháp luật, kỹ
năng sống.
Phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là chủ trương
lớn của nước ta, nhằm nhấn mạnh đến việc sử dụng các nguồn nhân lực một cách hiệu quả
để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển . Do vậy, các chính sách phát triển nông thôn cần
được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kết hợp hài hoà và hợp lý giữa phát triển kinh tế,
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường một cách hài hoà.
Giải pháp cấp bách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cho lao đông nông thôn,
họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiên thức để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế của đất nước. Bên cạnh đó, lao động trẻ nông thôn hiện nay không chỉ thiếu kiến thức
chuyên môn mà kiến thức xã hội, giao tiếp cộng đồng, phát triển bản thân còn nhiều khiếm
khuyết. Ở họ dạy nghề thôi chưa đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào giảng dạy.
Những năm gần đây công tác dạy nghề đã có nhiều tiến triển, nhiều lao động đã ý thức
được việc học nghề và số người tham gia các khoá đào tạo tăng rõ rệt. Số lao động qua
đào tạo ngày càng tăng đã góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động ngành nghề phi nông nghiệp và đẩy
mạnh hợp tác quốc tế về lao động. Quy mô đào tạo dạy nghề trong những năm qua tăng
nhanh, chỉ tiêu đào tạo bình quân hàng năm tăng 20%. Quy mô tuyển sinh dạy nghề trong
3 năm - từ năm 2006 đến 2008 là 4,3 triệu người (năm 2008 là 1,54 triệu người), trong đó
lao động nông thôn chiếm 52%. Tuy nhiên, các ngành nghề nông - lâm - ngư nghiệp chỉ
chiếm 5% số học sinh. Số lao động nông thôn được học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề
bằng chính sách hỗ trợ theo Quyết định 81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000
người. Nhiều địa phương đã khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể
dạy nghề cho lao động nông thôn, nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các nghề
truyền thống. Bình quân hàng năm, các làng nghề đã đào tạo được thêm việc làm cho
khoảng 250.000 lao động. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Cửu Long 17,9%; trong khi đó vùng Tây Bắc chỉ có 8,3%). Nguyên nhân là công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn trong một thời gian dài chưa được coi trọng đúng mức.
Nhiều Bộ, ngành, địa phương, cán bộ, đảng viên… nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh có tính thời điểm, không phải là
vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Mạng lưới dạy nghề tập trung chủ
yếu ở khu vực đô thị. Tại khu vực miền núi, nông thôn, vùng sâu, vùng xa số lượng cơ sở
dạy nghề rất ít, quy mô dạy nghề nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của lao động
nông thôn. Nhiều cơ sở dạy nghề có diện tích đất đai, quy mô nhà xưởng chưa phù hợp với
quy mô đào tạo, thiếu xưởng thực hành, ký túc xá, trang thiết bị dạy nghề lại thiếu về
chủng loại, số lượng và lạc hậu về công nghệ. Theo báo cáo của Tổng cục Dạy nghề, đến
nay chúng ta vẫn còn 253 huyện trên cả nước chưa có trung tâm dạy nghề, khoảng 31%
phòng học và 20,7% số nhà xưởng thực hành của các cơ sở dạy nghề là nhà cấp 4, nhà
tạm. Số lượng nhà này chủ yếu tập trung ở các cơ sở đào tạo do địa phương quản lý, các
tỉnh khó khăn, huyện nghèo.
Bên cạnh đó, cơ cấu trình độ, cơ cấu nghề đào tạo chưa phù hợp, chưa bổ sung kịp thời các
nghề mới theo yêu cầu của thị trường lao động. Số lượng chương trình khung và chương
trình dạy nghề đã lạc hậu. Nhìn chung, các cơ sở dạy nghề chưa chú trọng đầu tư xây dựng
chương trình, giáo trình bằng các nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia được
Nhà nước cung cấp hàng năm, mà chủ yếu dùng số tiền này mua sắm trang thiết bị và đồ
dùng thực hành, thực tập và giảng dạy lý thuyết. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng là một
vấn đề lớn, thiếu về số lượng, cơ cấu ngành nghề đào tạo lại chưa phù hợp và hạn chế về
chất lượng. Phương pháp dạy nghề chủ yếu là dạy chay, học chay. Cán bộ quản lý dạy nghề
ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và thiếu kinh nghiệm
quản lý (nhất là giám độc trung tâm dạy nghề huyện). Nhiều giám đốc trung tâm dạy nghề
huyện là cán bộ kiêm nghiệm, năng lực và trình độ không phù hợp. Ở cấp huyện không có
cán bộ chuyên trách về dạy nghề.
Hơn nữa công tác lao động, giải quyết việc làm ở nhiều tỉnh miền núi còn những hạn chế.
Đó là, cơ sở vật chất của các trung tâm giới thiệu việc làm, các đơn vị dạy nghề còn thiếu;
chưa hình thành được mối liên kết chặt chẽ giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp; tỷ lệ dạy
nghề ngắn hạn còn cao, chưa gắn với giải quyết việc làm. Chất lượng nguồn lao động chưa

khoảng 300.000 người/năm. Mức hỗ trợ như vậy là thấp so với yêu cầu thực tế.
3. Phương hướng và giải pháp thời gian tới
Do những bất cập không nhỏ về tình hình cung cầu trên thị trường lao động nông thôn
nước ta, NNL ở nông thôn vẫn chỉ là dạng tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng tốt.
Để giải quyết vấn đề đó và sử dụng có hiệu nguồn nhân lực ở nông thôn trong thời gian
tới, quan điểm chung: Một là, tận dụng tối đa số lượng lao động, đồng thời không ngừng
nâng cao năng suất lao động, nghĩa là sử dụng gắn với phát triển NNL. Hai là, quá trình sử
dụng lao động gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Ba là, quá trình
sử dụng lao động gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Từ đó cần tiến
hành các giải pháp sau:
Giảm lượng cung lao động:Cần tiếp tục duy trì chương trình dân số kế hoạch hóa gia
đình. Việc đưa chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình về nông thôn nhằm thực hiện
chỉ tiêu tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% vào 2010, từ đó giảm số lượng nguồn nhân lực.
Muốn thực hiện được thì trước hết phải hỗ trợ cho họ có thể tiếp cận được các phương
tiện truyền thông để họ hiểu được pháp lệnh dân số và biện pháp kế hoạch hóa gia đình.
Cần hỗ trợ cho họ các loại thuốc và dụng cụ tránh thai không phải trả tiền. Cần phải có các
chính sách về lợi ích vật chất, để khuyến khích họ sinh đẻ đúng kế hoạch.
Phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực đất đai: Cần hoàn thiện chính sách và
pháp luật về quản lý đất đai, để biến đất đai thành nguồn vốn quan trọng cho phát triển
kinh tế và tạo thêm việc làm. Mỗi địa phương phải xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy
hoạch dài hạn sử dụng đất. Trong nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu về diện tích cây trồng
trên cơ sở lựa chọn đúng cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp, phải đẩy nhanh thâm canh
tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng ruộng đất, tăng nhanh giá trị sản lượng trên một đơn vị
diện tích. Phải tiếp tục thực hiện giao đất giao rừng cho nhân dân để gắn đất đai với lao
động, đất rừng phải có chủ. Hoàn thành giao đất cho những hộ dân không có đất sản xuất
và kèm theo những điều kiện hỗ trợ về khuyến nông để giúp họ sản xuất và khắc phục tình
trạng sử dụng kém hiệu quả đất đai của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp. Trong xây
dựng đô thị và kết cấu hạ tầng quan trọng phải trên cơ sở quy hoạch tránh lãng phí. Tạo
ra thị trường đất đai ở khu vực nông thôn sẽ làm cho sự minh bạch về giá, giúp cho quá
trình sử dụng nguồn vốn này tốt hơn, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung đất đai, từ đó

khích dân cư nông thôn tự tạo việc làm ngay tại quê hương mình theo phương châm "Li
nông bất li hương”. Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống. Chẳng hạn trước
đây số lao động trẻ của tỉnh Quảng Nam di chuyển đến các đô thị tìm việc làm rất lớn thì
hiện tại với chương trình khôi phục làng nghề truyền thống của tỉnh đã thu hút rất nhiều
lao động trẻ.
Nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ở nông thôn: Cần thực hiện cơ chế nhà nước và
nhân dân cùng làm để tăng cường đầu tư cho giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho các
vùng nông thôn, đặc biệt là vùng Tây Nguyên, Tây Bắc và đồng bằng sông Cửu Long sớm
phổ cập giáo dục cơ sở.Điều chỉnh mạng lưới cơ sở đào tạo cho phù hợp với yêu cầu quy
hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng vùng nông thôn. Xây dựng một số cơ sở sản xuất
nông nghiệp có trình độ kỹ thuật công nghệ cao trong các vùng nông nghiệp trọng điểm
nhằm kết hợp khuyến nông, đẩy mạnh hoạt động phổ biến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
cho nông dân. Trong việc đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân cần chú ý cả phương
tiện kỹ thuật và kỹ năng quản lý, không chỉ chú trọng các loại hình chính quy trên cơ sở
phát triển hệ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, mà đặc biệt quan tâm tới mô hình đào
tạo cộng đồng. Tăng cường đào tạo ngành nghề phi nông nghiệp cho nông dân. Có chính
sách khuyến khích và sử dụng tốt sinh viên học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp về phục vụ ở nông thôn.
Để nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động,
đóng góp tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà mục tiêu chính là tạo việc làm,
xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân, nhất là ở các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, theo tôi cần phải tập trung triển khai có hiệu quả chương trình lao động, việc
làm, đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn để tạo việc làm ổn định. Quan tâm tạo việc
làm cho lao động nữ và thanh niên nông thôn, từ đó xóa đói nghèo bền vững. Xây dựng và
phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, nhất là các trung tâm dạy nghề cấp huyện. Tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo nghề, khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề. Gắn dạy nghề với nhu cầu sử dụng lao động
của doanh nghiệp và thị trường lao động, thúc đẩy việc liên kết, hợp đồng giữa cơ sở dạy
nghề với doanh nghiệp, đào tạo nghề theo đơn đặt hàng. Thường xuyên điều tra nắm chắc
tình hình lao động và việc làm, khảo sát nhu cầu sử dụng lao động và thị trường lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status