những nội dung mới được sửa đổi, bổ sung trong bộ luật hình sự 1999 của các tội phạm về môi trường - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo
đang công tác và giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội đã
quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt khóa học và
trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Đặc biệt em xin cảm ơn thầy giáo – Tiến sỹ Lê Đăng
Doanh – Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội là người đã
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành công trình khoa học này.
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
Sinh viên
Lương Thị Hoài Thu
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, vấn đề bảo vệ môi
trường đã trở thanh nhiệm vụ cấp bách không chỉ đối với Việt Nam mà
của toàn thế giới bởi sự suy thoái cũng như sự suy giảm chất lượng môi
trường đáng báo động trong thời gian gần đây. Nhận thức được những
biến đổi ngày càng nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường và tầm quan
trọng của việc bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến
vấn đề bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội hướng
đến sự phát triển bền vững. Trong đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật về môi trường là một hoạt động rất cần thiết, thiết lập
công cụ quan trọng để quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về môi
trường như Luật bảo vệ môi trường năm 2005, Luật bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004, Luật thủy sản năm 2003…
Trước tình hình các tội phạm liên quan đến môi trường ngày càng
gia tăng về số lượng lẫn mức độ gây hại, ảnh hưởng lớn đến đời sống
kinh tế xã hội của nhân dân, Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam đã được

+ Nghiên cứu về khái niệm và những nội dung pháp lý chung của
các tội phạm về môi trường.
+ Nghiên cứu về những điểm mới của các tội phạm về môi trường
và đưa ra một số kiến nghị khắc phục những vướng mắc bất cập trong
những quy định của BLHS 1999 của các tội phạm về môi trường.
4
3. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung chủ yếu nghiên cứu và đánh giá những những
nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự
1999 về nhóm tội phạm môi trường. Qua đó làm rõ những nội dung pháp
lý mới được sửa đổi, bổ sung của nhóm tội phạm này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên
cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lý luận.
- Khóa luận còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp thống
kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để giải quyết những nội dung cơ bản mà
đề tài đặt ra.
5. Cơ cấu khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo khóa
luận gồm 2 chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung của tội phạm về môi trường theo
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2. Những nội dung mới của BLHS 1999 về tội phạm môi
trường và một số đề xuất, kiến nghị.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TỘI PHẠM VỀ MÔI
TRƯỜNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 của GS.TSKH Lê Cảm có đưa
ra khái niệm tội phạm môi trường như sau:
“Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do
những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến sự
bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu
qủa xấu đối với môi trường sinh thái”
2
.
Khái niệm trên phản ánh tương đối đầy đủ về các yếu tố cấu thành tội
phạm môi trường. Trong đó các dấu hiệu của mặt khách quan bao gồm dấu
hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả. Theo đó dấu hiệu hành vi khách quan của
các tội phạm môi trường đó là “hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật
hình sự quy định vi phạm các quan hệ xã hội liên quan đến bảo vệ môi
trường”, và dấu hiệu hậu quả là “ gây hậu quả xấu đối với môi trường sinh
thái”. Khái niệm trên cũng đã làm rõ khách thể của tội phạm môi trường là
“các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi
trường”. Tuy nhiên cũng như khái niệm trên, khái niệm về tội phạm môi
trường này vẫn chưa thể hiện được đặc trưng của hành vi khách quan của tội
phạm môi trường và phân biệt nó với các hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực môi trường.
Việc hình thành khái niệm “tội phạm về môi trường” một cách hợp
lý, khoa học, chính xác sẽ là khởi điểm cần thiết để giải quyết về bản chất
tất cả các vấn đề trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Bởi nếu không có sự nhận thức đúng đắn về loại tội phạm này, việc xây
2
Xem: Bình luận khoa học BLHS 1999, PGS. TSKH Lê Cảm ( 2001), NXB Công an nhân dân, tr.320
7
dựng được các hình thức chế tài, phạm vi và nhiệm vụ của hoạt động
phòng ngừa sẽ còn nhiều khó khăn.

hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người. Những
thiệt hại về tài sản ở đây bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí khắc phục
thiệt hại đã gây ra. Dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc, có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định tội danh và định khung hình phạt của hầu
hết các tội danh thuộc nhóm tội này.
Thứ ba, chủ thể của các tội phạm về môi trường đều có thể là chủ
thể bình thường; người đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực trách
nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của các tội danh thuộc nhóm
tội này. Chủ thể của tội phạm môi trường thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Động cơ mục đích của người phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có
ý nghĩa trong việc định tội.
Các tội phạm về môi trường được quy định chi tiết trong Bộ luật
hình sự và chưa có văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật. Mỗi điều khoản
về tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự 1999 đều xác định hành vi
phạm tội rõ ràng, và những quy định những căn cứ để truy cứu trách
nhiệm hình sự, căn cứ định khung và định hình phạt. Các quy định về tội
phạm về môi trường của Việt Nam cũng tuân thủ một số công ước và
hiệp ước mà Việt Nam tham gia và ký kết như tuân thủ công ước Basel
về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới các phế thải nguy hiểm và việc
tiêu huỷ chúng, được cụ thể hóa ở điều 185 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ
Việt Nam ).
1.2.Các yếu tố cấu thành tội phạm về môi trường
9
Căn cứ theo quy định tại Chương XVII –Các tội phạm về môi
trường của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) có thể
khái quát các yếu tố cấu thành tội phạm môi trường như sau:
a. Khách thể của tội phạm về môi trường
Khách thể của tội phạm môi trường là các quan hệ xã hội được
pháp luật hình sự bảo vệ và bị hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm.
Các tội phạm về môi trường xâm hại đến sự bền vững ổn định của môi

mà lại tiếp tục vi phạm, thì người đó cũng sẽ không bị xử lý hình sự về
hành vi này.
- Dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng cũng là dấu hiệu bắt buộc có ý
nghĩa quan trọng trong việc định tội danh của hầu hết các tội phạm về
môi trường. Hậu quả do các tội phạm về môi trường gây ra có thể là thiệt
hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người trong đó thiệt hại về tài
sản (bao gồm thiệt hại thực tế và chi phí khắc phục thiệt hại). Hay những
thiệt hại về môi trường như diện tích đất, nước, khu vực không khí bị ô
nhiễm, sự biến đổi khí hậu…
Như vậy, trong mặt khách quan của tội phạm môi trường dấu hiệu
đã bị xử phạt vi phạm hành chính và gây hậu quả nghiêm trọng được coi
là dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh của hầu hết các
tội trong nhóm này.
c. Mặt chủ quan của tội phạm về môi trường
11
Trong mặt chủ quan của tội phạm thì yếu tố lỗi là thái độ tâm lý
của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành
vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Đối với các tội phạm về môi trường tội phạm được thực hiện do lỗi
cố ý, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong
muốn nhưng có ý thức để mặc cho hành vi đó xẩy ra. Động cơ và mục
đích của người phạm tội tương đối đa dạng nhưng không có ý nghĩa trong
việc định tội.
d. Chủ thể của các tội phạm về môi trường
Chủ thể của tội phạm là những người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Chủ
thể của các tội phạm về môi trường là chủ thể bình thường, những người
nào đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể
trở thành chủ thể của các tội thuộc nhóm tội này.

Trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay; đi đôi với quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ là
những tác động ngày càng tiêu cực của quá trình đó đến môi trường. Do
vậy việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về môi trường, tạo
khung pháp lý cho việc xử lý hình sự đối với các tội phạm về môi trường
là nhiệm vụ cấp bách. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ môi
trường, gắn phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường.
Trước tình hình tội phạm môi trường diễn ra ngày một phổ biến,
pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận và từng bước hoàn thiện những
13
quy định của BLHS về tội phạm môi trường. Bộ luật hình sự 1985 cũng
đã dành 4 Điều luật để quy định về tội phạm và hình phạt đối với các
hành vi vi phạm pháp luật môi trường đó là:
- Điều 180: tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai;
- Điều 181: tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng;
- Điều 195: tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu
quả nghiêm trọng;
- Điều 216: tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích
lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng;
Trong Bộ luật hình sự 1985 chưa có Chương riêng quy định về các
tội phạm môi trường. Những quy định trên về tội phạm môi trường nằm
rải rác ở nhiều Chương khác nhau.
Ví dụ: Điều 180. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai được
quy định trong Chương VII. Các tội phạm về kinh tế. Hay Điều 195. Tội
vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hâu quả nghiêm trọng
được quy định tại Mục A. Các tội xâm phạm trật tự công cộng
củaChương VIII. Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự
quản lý hành chính. Điều 216: tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử
dụng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh gây hậu quả nghiêm
trọng được quy định tại Mục B, Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành

- Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho con người ( Điều 186);
- Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật thực vật ( Điều
187);
- Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản ( Điều 188);
- Tội hủy hoại rừng ( Điều 189);
15
- Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động thực vật hoang dã quý
hiếm ( Điều 190);
- Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với các khu bảo tồn thiên
nhiên ( Điều 191);
Dựa vào đặc điểm chung về các yếu tố cấu thành, cũng như đặc
điểm của từng tội danh. Các tội phạm về môi trường được quy định trong
BLHS 1999 có thể được chia thành 4 nhóm như sau:
- Nhóm 1: Các hành vi gây ô nhiễm môi trường ( Điều 182 đến
Điều 185)
- Nhóm 2: Các hành vi gây dịch bệnh cho con người và động vật
(Điều 186 và Điều 187)
- Nhóm 3: Các hành vi hủy hoại tài nguyên môi trường ( Điều 188
và Điều 189)
- Nhóm 4: Các hành vi xâm phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với
một số đối tượng môi trường ( Điều 190 và Điều 191 ).
Nội dung của 10 điều này đều tương thích với điều khoản xử lý vi
phạm từ các luật liên quan khác trong lĩnh vực môi trường, cũng như các
công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chính thức.
Những quy định của Bộ luật hình sự 1999 về tội phạm môi trường
đều có sự tương thích với các Luật khác. Cụ thể như Luật bảo vệ môi
trường 2005 (Điều 127); Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 (Điều 85);
Luật tài nguyên nước 1998 (Điều 71); Luật thuỷ sản 2003 (Điều 58) đều
có một điều quy định về biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm.
Trong đó, quy định những hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm

sự phát triển quá mức của các quá trình gia tăng dân số, đô thị hoá, công
nghiệp hoá. Thực tế tại Việt Nam trong những năm gần đây cùng với quá
trình phát triển của nền kinh tế, tình hình ô nhiễm môi trường diễn ra
ngày một trầm trọng. Tình trạng khai thác, chặt, phá, đốt rừng bừa bãi;
nạn khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép; săn bắt động vật hoang
dã, quý hiếm; hoạt động xuất nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường, hàng
ngàn tấn phế thải trá hình dưới hình thức phế liệu để tái chế thành nguyên
liệu sản xuất, trong đó có không ít chất thải nguy hại cũng được nhập
khẩu công khai vào nước ta như nhựa phế liệu, sắt phế liệu, thiết bị, công
nghệ cũ, lạc hậu
Trong 9 năm thi hành BLHS 1999 với 10 điều luật thuộc Chương
XVII về tội phạm môi trường nhưng trên thực tế mới chỉ có hai tội danh
được áp dụng trên thực tế đó là Tội hủy hoại rừng (Điều 189) và Tội vi
phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190) bao
gồm gồm 1.004 vụ với 1.630 bị can
3
. Còn lại 8 tội danh khác thuộc
Chương này chưa có thực tiễn áp dụng đồng nghĩa với việc chưa xử lý
hình sự được một trường hợp nào thuộc 8 tội danh còn lại.
Thực tế này cho thấy những quy định của BLHS 1999 chủ yếu chỉ
là những quy định nằm trên giấy, không thể triển khai thực hiện hay áp
dụng được trên thực tế. Do vậy, trong những năm qua những hành vi vi
phạm pháp luật hình sự về môi trường diễn biến ngày càng phức tạp và
nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Trong hoạt động quản lý, xử lý chất thải nguy hại: Nền kinh tế
càng phát triển thì lượng chất thải trong sản xuất và sinh hoạt càng cao.
Tuy nhiên tại nước ta trong những năm gần đây hoạt động quản lý, xử lý
3
Webside: www.moitruong.com.vn/ tf-8&aq=t&rls=org.mozilla:en-US:, cập nhật 13/7/2009
18

5
Webside: www.moitruong.com.vn/ o_nhiem_do_cac_nha_may/, cập nhật 8/5/2009
19
đầu với đường ống thoát nước thải đã qua xử lý và chảy trực tiếp ra môi
trường
6
.
Tình trạng nhập khẩu phế liệu, rác thải, thân vỏ tàu cũ từ nước
ngoài vào Việt Nam vẫn tiếp diễn ngày một phức tạp. Nhiều tổ chức, cá
nhân được cấp phép hành nghề, thu gom vận chuyển, xử lý chất thải
nhưng lại vi phạm qui định về quản lý chất thải. Nhưng ký hợp đồng với
các doanh nghiệp khác không có chắc năng xử lý chất thải; sử dụng
phương tiện vận chuyển không chuyên dụng; không xử lý, phân loại chất
thải sau khi thu gom mà cho chôn lấp tất cả nhằm giảm chi phí.
Ví dụ: Hành vi của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Xanh chôn
lấp hơn 4600 m3 chất thải và cát nhiễm dầu. Tình trạng đổ trộm phế thải,
phế liệu xây dựng xảy ra khá phổ biến tại các đô thị, gây bức xúc trong
nhân dân. Các đối tượng thường lợi dụng buổi đêm, không có lực lượng
tuần tra để đổ phế thải ở đoạn đường vắng, đổ chất thải vào hệ thống
thoát nước công cộng nhằm giảm chi phí xử lý
7
.
- Hoạt động quản lý, xử lý chất thải y tế: trong thời gian gần đây
hoạt động quản lý xử lý chất thải y tế tuy có những chuyển biến tích
cực, giảm đáng kể các vụ vi phạm nghiêm trọng nhưng vẫn xảy ra tình
trạng tư nhân thu mua chất thải y tế nguy hại quy mô nhỏ do nhân viên
bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh tuồn ra ngoài thu lợi bất chính. Ví dụ:
hành vi của Nguyễn Thị Hôm và Lê Xuân Hiền, nhân viên bệnh viện Lao
và bệnh phổi TW để thu gom, mua bán chất thải y tế nguy hại với số
lượng đặc biệt lớn

- Vi phạm pháp luật về bảo vệ động, thực vật hoang dã:
Những vi phạm pháp luật về bảo vệ động, thực vật hoang dã ngày
càng gia tăng, cụ thể như những hành vi nuôi nhốt động vật hoang dã có
hoặc không có giấy phép diễn ra tràn lan, khó kiểm soát. Trong nước,
việc mua bán, vận chuyển động vật hoang dã qua nhiều địa phương, số
lượng lớn từ vài chục đến vài nghìn kg diễn ra khá phổ biến và mức độ
nghiêm trọng ngày càng tăng. Ví dụ: Ngày 10/3/2010, lực lượng Bộ đội
Biên phòng tỉnh Quảng Trị bắt quả tang một vụ vận chuyển sản phẩm
9
www.laodong.com.vn/Home/ hanh vi vi pham phap luat moi truong/, cập nhật ngày 6/8/2009
21
động vật hoang dã quý hiếm lớn nhất từ trước đến nay, gồm: 1 cá thể hổ
với trọng lượng 95kg; 1 cá thể báo đen 27kg và một số xương động vật
như: Sừng bò rừng, xương trâu, dê đã phơi khô có tổng trọng lượng
khoảng 2.000kg
10
.
Việc chưa có thực tiễn áp dụng 8 tội danh trong Chương này của
BLHS 1999 xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng trong đó nguyên nhân
cơ bản đó là các quy định của các điều luật liên quan tới hành vi vi phạm
pháp luật về môi trường khó hoặc không thể áp dụng. Theo ThS. Nguyễn
Mạnh Hiền (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) thì: “8 tội danh đến nay
chưa truy tố được vụ nào mà rơi vào trường hợp đã bị xử phạt hành chính
về hành vi này mà còn vi phạm"
11
.
Như vậy mặc dù BLHS 1999 đã có nhiều quy định hoàn thiện hơn
những quy định của BLHS 1985 nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường nhưng
trên thực tế sau khi BLHS 1999 có hiệu lực, hiệu quả của hoạt động truy

đó là các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm môi trường chưa
thực sự mang tính thực tiễn, khó áp dụng trên thực tế; dẫn đến việc xử lý
hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gặp nhiều
khó khăn. Thực tiễn đó đặt ra một yêu cầu cấp bách đó là phải sửa đổi
những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm môi trường nhằm tạo cơ
sở pháp lý thuận lợi cho việc xử lý hình sự đối với các tội này, góp phần tích
cực vào công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm trên thực tế.
Chương 2
NHỮNG NỘI DUNG MỚI CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI
TRƯỜNG TRONG BLHS 1999 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
12
http://vietbao.vn/Nhanh-chong-khac-phuc-o-nhiem-tu-Nha-may-Hyundai-Vinashin/ cập nhật
24/10/2007
23
2.1. Những vướng mắc bất cập trong thực tiễn áp dụng
những quy định của Bộ luật hình sự 1999 (trước khi sửa đổi,
bổ sung)
Tình hình tội phạm về môi trường diễn ra ngày một phức tạp
và nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó có một số
nguyên nhân cơ bản như: ô nhiễm môi trường là hệ quả tất yếu của quá
trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa không đi đôi với việc bảo vệ môi
trường, trang thiết bị khoa học kỹ thuật nhằm xác định thiệt hại do các
hành vi vi phạm còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, ý thức
tuân thủ pháp luật về môi trường của người dân chưa cao.
Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình
hình vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra ngày một phổ biến đó là do
những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội phạm về môi
trường còn thiếu tính khả thi và còn khó triển khai trên thực tế; dẫn đến
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm môi trường gặp rất
nhiều khó khăn. Dưới đây là một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn

dài mới có thể xác định được hậu quả. Và cũng chưa có tiêu chí rõ ràng về
mức độ thiệt hại do vậy gây cản trở cho quá trình xử lý hình sự đối với các
tội danh này.
Ví dụ: Công ty Vedan và nhiều doanh nghiệp khác xả thải làm ô
nhiễm sông Thị Vải. Những chất thải đó ảnh hưởng thế nào đến sức khoẻ
cộng đồng cũng như sinh hoạt của người dân như thế nào thì phải sau một
thời gian dài mới xác định được. Ngoài ra việc xác định hàm lượng chất
thải vượt quá giới hạn cho phép hay mức độ thiệt hại do hành vi xả thải
của từng doanh nghiệp gây ra gặp rất nhiều khó khăn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status