Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3.Phạm vi nghiên cứu
4.Thời gian nghiên cứu
5.Phương pháp nghiên cứu
6. Kết cấu của Báo Cáo Thực Tập
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1.Khái niệm về Phân tích hoạt động kinh doanh
1.2.Ý nghĩa,nội dung và nhiệm vụ về công tác Phân tích hoạt động kinh
doanh
1.2.1.Ý nghĩa
1.2.2.Nội dung
1.2.3.Nhiệm vụ
1.3.Các khái niệm về Phân tích hoạt động kinh doanh
1.3.1.Khái niệm về phân tích sản lượng
1.3.2.Khái niệm về phân tích doanh thu
1.3.3.Khái niệm về phân tích chất lượng
1.3.4.Khái niệm về phân tích lao động
1.3.5.Khái niệm về phân tích chi phí
Chương 2:Giới thiệu tổng quan và phân
tích họat động kinh doanh tại Công Ty Cổ
Phần Dịch Vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài
Gòn (SPT)-Trung Tâm Điện Thoại SPT
(STC)
2.1.Giới thiệu tổng quan tại Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu Chính
Viễn Thông Sài Gòn (SPT)-TRUNG TÂM ĐIỆN THOẠI STC
2.1.1.Quá trình hình thành,chức năng,quy mô của Công ty cổ phần dịch
vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn (SPT)-TRUNG TÂM ĐIỆN THOAI
STC
2.2.3.Phân tích chi phi
2.2.3.1.Phân tích chung tình hình biến động chi phí sản xuất
2.2.3.2.Phân tích tình hình sử dụng chi phí quảng cáo
2.2.4.Phân tích lao động
2.2.4.1.Phân tích tình hình sử dụng lao động
2.2.4.1.1.Phân tích tình hình lao động trực tiếp và gián tiếp
2.2.4.1.2.Phân tích kết cấu lao động theo trình độ
2.2.5.Phân tích chất lượng
2.2.5.1.Phân tích chất lượng phục vụ
2.2.5.2.Phân tích chất lượng dịch vụ
Chuơng 3: Nhận xét và kiến nghị
3.1.Nhận xét chung tình hình kinh doanh
3.2.Các biện pháp nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh tại Trung tâm
Trang
2
Phần mở đầu : Giới thiệu về đề tài
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Với xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế
thế giới. Đặc biệt với chính sách mở cửa thì quan hệ kinh doanh và thương mại
với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng mở rộng và phát triển.
Nhưng với nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, một
doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng là đều
không dễ dàng. Muốn đạt được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp đó cần phải tăng
doanh thu bằng cách tăng sản lượng, sản phẩm dịch vụ bán ra và giảm chi phí.
Đồng thời, cũng phải nắm bắt được sự phát triển của xã hội để sản phẩm dịch vụ
mình bán ra không mang tính chất lỗi thời và lạc hậu. Để chủ động trong hoạt
động SXKD của mình nhằm đứng vững trên thị trường, để kinh doanh đạt hiệu
quả, công tác phân tích kinh tế của mỗi doanh nghiệp phải được tiến hành
nghiêm túc và khoa học để xác định vị trí của ngành trên thị trường như thế nào,
mặc khác phải có cái nhìn tổng quát một cách khoa học về khả năng thực hiện và
5.Phương pháp nghiên cứu
-Thu thập, tổng hợp tài liệu phân tích, đánh giá và đề xuất biện pháp trên cơ
sở đã phân tích.
Bài báo cáo sử dụng một số phương pháp phân tích như: phương pháp thống kê
để thống kê sản lượng, doanh thu; phương pháp so sánh để phân tích tình hình
biến động các yếu tố; phương pháp chỉ số đánh giá mức độ ảnh hưởng các nhân
tố sản lượng, phương pháp thay thế liên hoàn để phân tích mức độ ảnh hưởng
của số lượng lao động và năng suất lao động.
6. Kết cấu của Báo Cáo Thực Tập:
- Phần mở đầu: Giới thiệu đề tài
- Chương 1: Cơ Sở Lý Luận
- Chương 2: Phân tích họat động kinh doanh tại Công Ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu
Chính Viễn Thông Sài Gòn (SPT)-Trung Tâm Điện Thoại SPT (STC)
- Chương 3: Nhận xét chung và các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
SXKD tại Trung tâm Điện Thoại STC
Trang
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Khái niệm về phân tích hoạt động kinh doanh
Phân tích hoạt động SXKD là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá
trình và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, là quá trình tìm hiểu nghiên
cứu đánh giá những mặt mạnh, những mặt tồn tại yếu kém, nhằm làm rõ bản chất
và chất lượng của hoạt động kinh doanh, phát huy nguồn tiềm năng cần được
khai thác, trên cơ sở đó đề ra những phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Trong mọi điều kiện hoạt động kinh doanh, đối với bất kỳ một cơ quan,
doanh nghiệp nào nói chung và của đơn vị nói riêng đều phải chịu sự ảnh hưởng
bởi các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị. Những nhân tố bên trong là tính
chủ quan trong quá trình quản lý kinh doanh tiếp cận thị trường, thái độ phục vụ
của các nhân tố khách quan. Những nhân tố bên ngoài bao gồm những tác động
hướng họat động kinh doanh, ra các quyết dài hạn, ngắn hạn.
1.2.3 Nhiệm vụ:
Để phân tích trở thành công cụ của công tác quản lý hoạt động SXKD trong
doanh nghiệp, là cơ sở ra quyết định đúng đắn và có những nhiệm vụ sau:
Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động SXKD thông qua các chỉ tiêu kinh tế
đã xây dựng nhằm có cơ sở để định hướng nghiên cứu sâu hơn các vấn đề mà
doanh nghiệp cần quan tâm.
- Kiểm tra khái quát về kết quả kinh doanh đạt được so với các chỉ tiêu kế
hoạch, dự toán, định mức… đã đặt ra để khẳng định đúng đắn và khoa học của
chỉ tiêu xây dựng trên một số mặt chủ yếu của quá trình kinh doanh.
- Đánh giá tình hình các quy định, thể lệ thanh toán trên cơ sở tôn trọng pháp
luật của nhà nước và luật lệ kinh doanh.
Xác định những nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm ra nguyên nhân
gây ra các mức dộ ảnh hưởng đó.
- Biến động của các chỉ tiêu phân tích là do ảnh hưởng của các nhân tố gây
nên, do phải xác định trị số của các nhân tố và tìm ra nguyên nhân gây nên sự
biến động của các chỉ số nhân tố đó.
Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác triệt để tiềm năng và khắc phục những
tồn tại yếu kém trong quá trình hoạt động SXKD.
- Phân tích hoạt động SXKD không chỉ đánh giá kết quả kinh doanh chung, mà
phải xác định các nhân tố ảnh hưởng và tìm ra nguyên nhân khiếm khuyết, từ cơ
sở phân tích đó phát hiện những tiềm năng cần khai thác và khắc phục những tồn
tại yếu kém.
Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào các mục tiêu đã định.
- Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động SXKD là để nhận biết được tiến độ
thực hiện và tìm ra những nguyên nhân gây nên chệch hướng và có khả năng đón
trước những thay đổi xảy ra tiếp theo.
- Kiểm tra và đánh giá chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch
kịp thời và đề ra các giải pháp, mục tiêu kinh doanh trong tương lai.
1.3.Các khái niệm trong việc Phân tích hoạt động kinh doanh
1.3.5. Phân tích chi phí: là phân tích tình hình biến động về chi phí trong sản
xuất kinh doanh, là việc đánh giá mức độ tiết kiệm hay lãng phí trong chi phí sản
xuất, để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của đơn vị một cách thiết thực nhất.
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh:
1.4.1.Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là môi trường bao trùm lên các họat động của tất cả các tổ
chức, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp lên các hoạt động của tất cả các tổ
chức. Nó được xác lập bởi các yếu tố vĩ mô như: chính trị-pháp luật, kinh tế, dân
số và công nghệ
1.4.1.1.Môi trường chính trị-pháp luật
Các yếu tố chình phủ và pháp luật có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động
của doanh nghiệp, bao gồm:
Luật pháp: đưa ra những quy định cho phép hoặc không cho phép và
những rang buộc các doah nghiệp phải tuân theo
Chính phủ: là cơ quan giám sát, duy trì và thực hiện pháp luật, bảo vệ lợi
ích quốc gia. Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiếtnền kinh tế
quốc gia thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ
Các xu hướng chính trị và đối ngoại: chứa đựng những tín hiệu và mầm
mống cho sự thay đổi của môi trường kinh doanh
1.4.1.2.Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có tác động rất lớn và nhiều mặt đến môi trường kinh
doanh của doanh nghiệp, chúng có thể trở thành cơ hội hoặc nguy cơ đối với
hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh
nghiệp:
-Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
-Lãi suất ngân hang
-Giai đoạn của chu kỳ kinh tế
-Cán cân thanh toán
-Chính sách tài chính và tiền tệ
-Tỷ lệ lạm pháp
Áp lực từ phía nhà cung cấp
Hình 1.Sơ đồ tổng quát môi trường kinh doanh
Trang
8
Đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ
cạnh tranh
trong ngành
Sự tranh đua
của các doanh
nghiệp hiện có
trong ngành
Sản phẩm thay thế
Nhà cung
cấp
Khách hàng
(Nguồn PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp. ThS Nguyễn Văn Nam-Chiến lược và
chính sách kinh doanh-NXB Thống Kê 2003)
1.4.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, các đối thủ
cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh cũng như các thủ đọan để
giành lợi thế cạnh tranh trên thương trường
1.4.2.2. Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những đối thủ cạnh tranh có thể tham gia thị trường trong
tương lai làm hình thành đối thủ cạnh tranh mới. Khi đối thủ cạnh tranh mới xuất
hiện sẽ khai thác năng lực sản xuất mới, giành lấy thị phần, gia tăng áp lực cạnh
tranh ngành và làm giảm lợi nhuận công ty.
1.4.2.3. Khách hàng
Khách hàng là cá nhân hay tổ chức có nhu cầu mua sản phẩm và dịch vụ của
8/12/1995 với số vốn điều lệ 50 tỷ đồng. Công ty chính thức được UBND TP.Hồ
Chí Minh cấp giấy phép thành lập số 2914/GP.UB ngày 27/12/1995. SPT gồm 6
thành viên sáng lập là các công ty có kinh nghiệm hoạt động kinh doanh ở nhiều
lĩnh vực khác nhau.
Vượt qua nhiều khó khăn, thử thách với quyết tâm cao, năm 1997 SPT chính
thức cung cấp dịch vụ Internet (ISP) với thương hiệu SaigonNet, trở thành một
trong bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam. Từ năm 1999,
SPT vươn sang lĩnh vực sản xuất, liên doanh với Công ty Spacebel (Vương quốc
Bỉ), Phân viện CNTT tại TP.HCM thành lập Công ty TNHH Phát triển Phần
mềm Sài Gòn (SDC) để sản xuất, gia công phần mềm và cung cấp các giải pháp
công nghệ thông tin.
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) là Công ty cổ
phần đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
Tên gọi : Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn
Tên giao dịch đối ngoại : Saigon Post and Telecomunication Service
Corporation
Tên viết tắc : SPT
Trục sở chính : 199 Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh,Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Công ty hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp và các nghị định của Thủ
Tướng Chính Phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Doanh Nghiệp, các văn bản
pháp quy về Bưu chính – Viễn thông, theo các điều khoản quy định trong điều lệ
tổ chức và hoạt động do Ủy Ban Nhân Dân Thành phố thông qua ngày
05/04/1997.
- Công ty có tư cách pháp nhân theo luật pháp Việt Nam, có con dấu riêng và
được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và các ngân hàng.
- Công ty có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động kinh doanh dịch vụ trong phạm vi số vốn do Công ty quản lý.
2/ Chức năng hoạt động:
Trang
2.1.1.2. Chức năng hoạt động:
- Kinh doanh khai thác các dịch vụ điện thoại cố định, điện thoại vô tuyến cố
định, ADSL và cho thuê kênh truyền dẫn nội hạt và các giá trị gia tăng khác của
Công ty SPT theo giấy phép đã được cấp.
- Thiết kế, xây dựng mạng ngoại vi, mạng truyền dẫn cấp 3, cấp 4 và các trạm thu
phát của mạng vô tuyến cố định.
- Quản lý, giám sát, vận hành, bảo dưỡng toàn bộ mạng lưới nhằm đảm bảo sự
hoạt động trên toàn mạng được an toàn và thông suốt. Ngoài ra ---- Trung tâm
còn cung cấp các dịch vụ như:
Lắp đặt mới đường dây điện thoại
Lắp đặt Fax, trung kế tổng đài nội bộ
Điện thoại công cộng
Cung cấp dịch vụ thuê bao số ISDN, ADSL,…
Cung cấp các dịch vụ cộng thêm: hiện thị số gọi đến, thông báo vắng nhà,
đàm thoại tay ba,…
Trang
11
Cung cấp dịch vụ thuê kênh viễn thông nội hạt với nhiều tốc độ:từ 64Kbps-
155Mbps
2.1.1.3. Quy mô hoạt động:
Trung Tâm Điện Thoại SPT (STC) trực thuộc Công ty Cổ Phần Bưu Chính Viễn
Thông Sài Gòn chuyên về :
- Lĩnh vực xuất nhập khẩu:
Phòng kinh doanh tiếp thị
Địa chỉ : 45 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé,Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại : (84-8)5445 6868 Fax : (84-8)5404 0507
Hoạt động : với đội ngủ chuyên viên chuyên nghiệp và kinh nghiệp,
đảm bảo toàn bộ các dịch vụ giao nhận xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông cho
đơn vị và nhập khẩu uỷ thác cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
2.1.1.4. Sơ đồ tổ chức tại Trung tâm
Tiếp thị
Chăm sóc
KH
Kế hoạch
tổng hợp
Hình 2: Sơ đồ tổ chức Trung tâm Điện Thoại SPT (STC)
2.1.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Trung tâm Điện thoại SPT
(STC) trong năm 2008
A.Tổng quan thị trường kinh doanh
1/ Chính sách
Trong năm 2008, với chính sách đẩy mạnh dịch vụ Viễn thông công ích, Bộ
Thông tin và Truyền thông đã giao nhiệm vụ cho 4 đơn vị: VNPT, Viettel,
EVN telelcom, Vishipel với tổng giá trị trên 1,200 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển
và cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trên 189 huyện và gần 600 xã thuộc
vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích. Sản lượng dịch vụ viễn thông
được thực hiện gồm: Phát triển mới 600,000 máy điện thoại và 23,810 thuê bao
Internet cho các hộ gia đình, duy trì 1,743,259 thuê bao điện thoại cố định và
26,974 thuê bao Internet; Phát triển mới 574 điểm truy nhập điện thoại công
cộng và 624 điểm truy nhập Internet công cộng, duy trì 4.361 điểm truy nhập
điện thoại công cộng và 590 điểm truy nhập Internet công cộng; Phát triển mới
1,000 máy thu phát sóng vô tuyến điện HF-công nghệ thoại sử dụng cho tàu cá,
duy trì 16 đài thông tin duyên hải phục vụ thông báo bão, lũ, cấp cứu và tìm
kiếm cứu nạn. (Trích từ Tạp chí BC-VT).
Năm 2008 nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã chứng
kiến cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, gây khó khăn cho các nhà đầu tư
trong việc duy trì các nguồn tài chính cho công tác đầu tư, do đó, các chiến
lược chia sẻ nguồn tài nguyên giữa các nhà khai thác dịch vụ đang được xem
xét lại và có thể sẽ là định hướng khả thi cho việc đảm bảo hạ tầng phục vụ
phát triển cung cấp dịch vụ viễn thông trong những năm tới.
Mặc dù tình hình kinh tế năm 2008 không khả quan nhưng lĩnh vực viễn