QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC - Pdf 25

Tiểu luận Quản lý nguồn nhân lực vi mô
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC
Quản lý nguồn nhân lực, xét trong phạm vi của một tổ chức được hiểu là tổng thể
các hoạt động sắp xếp, tổ chức, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình tuyển
dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người lao động nhằm thu hút tài năng, phát huy
cao nhất tiềm năng của các cá nhân trong việc đáp ứng các nhu cầu, mục tiêu định trước
của tổ chức hoặc trong toàn xã hội với hiệu quả cao và chi phí thấp nhất. Do đó, quản lý
nguồn nhân lực là một nội dung đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý của tổ chức.
Tổ chức hoạt động có hiệu quả hay không, có đạt được mục tiêu đặt ra của tổ chức hay
không phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong tổ chức. Và một
cách lôgic, hiệu quả làm việc của các cá nhân này bên cạnh việc phụ thuộc vào năng lực
của mỗi cá nhân thì yếu tố quan trọng bậc nhất là hoạt động quản lý nguồn nhân lực
trong tổ chức được tiến hành như thế nào. Rõ ràng, nếu quản lý nguồn nhân lực tốt thì nó
sẽ là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức, giúp tổ chức đạt được mục tiêu,
chiến lược đề ra một cách tối ưu nhất.
Vai trò quyết định của quản lý nguồn nhân lực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức
được thể hiện rõ ràng qua 2 nội dung cơ bản:
1) Quản lý nguồn nhân lực là bộ phận chủ yếu trong quản lý một tổ chức;
2) Quản lý nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đưa đến hiệu quả hoạt động
của một tổ chức.
Sau đây, lần lượt sẽ đi sâu phân tích 2 nội dung trên để làm sáng tỏ vai trò, tầm
quan trọng của quản lý nguồn nhân lực trong hoạt động của tổ chức.
1. Quản lý nguồn nhân lực là bộ phận chủ yếu trong quản lý một tổ chức
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi một tổ chức dựa trên sự kết hợp của nhiều
bộ phận cấu thành nhằm hướng đến việc đạt được mục tiêu chung đã định trước của tổ
chức. Các bộ phận này thông thường bao gồm: tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị
máy móc, trình độ khoa học công nghệ và con người. Rõ ràng mỗi bộ phận đóng vai trò
khác nhau trong hoạt động của tổ chức. Trong đó, con người với vai trò chủ động của
mình là yếu tố quan trọng nhất. Trong hoạt động quản lý, con người được hiểu ở 2 khía
cạnh: người quản lý, điều hành và người thừa hành, thực hiện. Có thể nói, mọi quá trình

CN
Cơ sở
vật chất
Nguồn lực
tài chính
Trang thiết
bị, máy móc
Tiểu luận Quản lý nguồn nhân lực vi mô
mối quan hệ tác động biện chứng lẫn nhau. Trong đó, con người là yếu tố cơ bản, nằm ở
vị trí trung tâm của quá trình quản lý.
Tương ứng với mỗi bộ phận cấu thành sự tồn tại, phát triển của tổ chức sẽ là các
hoạt động quản lý, như vậy, quản lý một tổ chức sẽ bao gồm các bộ phận quản lý sau:
quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, quản lý khoa
học công nghệ. Trong đó, quản lý nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng mà nhờ
đó các hoạt động quản lý khác mới có thể được diễn ra một cách thuận lợi và suôn sẻ.
Quá trình sản xuất của bất kỳ tổ chức nào đều dựa trên 3 yếu tố cơ bản là tư liệu lao
động, đối tượng lao động và sức lao động. Nếu như tư liệu lao động mà yếu tố quan
trọng nhất là công cụ lao động và đối tượng lao động mang tính tĩnh, tùy thuộc vào điều
kiện phát triển của từng thời kỳ khác nhau của lịch sử thì sức lao động lại mang tính
động, phụ thuộc vào năng lực của con người. Rõ ràng, bản thân tư liệu lao động và đối
tượng lao động không thể tự cải tiến, tự thay đổi, phát triển mà sự thay đổi phụ thuộc vào
tính năng động, sáng tạo của sức lao động con người. Sức lao động được nhìn nhận dưới
2 khía cạnh:
- Khía cạnh thể lực: con người với sức mạnh cơ bắp của mình đã biến các đối tượng
lao động trở thành các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của xã hội thông qua việc sử dụng
các công cụ lao động phù hợp.
- Khía cạnh trí lực: con người với sự phát triển hoàn thiện của bộ não đã giúp cho
họ có khả năng sáng tạo ra những công cụ lao động mới, cũng như tìm kiếm các đối
tượng lao động mới phục vụ cho quá trình khai thác, sản xuất sản phẩm, đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của con người.

động xã hội của mình để tìm tòi, sáng tạo ra các loại sản phẩm khác nhau, có những tính
năng ngày càng hiện đại, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người.
Rõ ràng, sự năng động, sáng tạo của con người là nhân tố thúc đẩy xã hội ngày một
phát triển hơn, đưa xã hội loài người đi từ sự phát triển này đến sự phát triển khác. Nếu
không có con người cùng với tính tích cực của họ thì chắc chắn xã hội chỉ mãi tồn tại ở
thời kỳ đồ đá hoang sơ, mông muội. Như vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực, yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Hiện nay, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức chỉ
giành được những thắng lợi khi chúng ta biết khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tất cả
các nguồn lực. Song, yếu tố giữ vai trò quyết định nhất, đảm bảo cho sự thắng lợi của
quá trình đó chính là nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Điều này được khẳng định dựa trên những cơ sở sau:
Thứ nhất, các nguồn lực khác (ngoại trừ nguồn nhân lực), xét về mặt số lượng và
trữ lượng, có thể là rất phong phú, dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụng không hợp lý
thì đến một lúc nào đó, chúng sẽ trở nên cạn kiệt. Khi ấy, nền kinh tế vốn cơ bản dựa vào
nguồn lực này sẽ gặp khó khăn, nếu không nói là bị đe doạ. Trái lại, nguồn lực con người
với tiềm năng trí tuệ, chất xám thì luôn sinh sôi và phát triển không ngừng. Xét trên bình
4
Tiểu luận Quản lý nguồn nhân lực vi mô
diện xã hội, có thể khẳng định nguồn lực con người là vô tận và do vậy, là nguồn lực cơ
bản của sự phát triển bền vững. Đây là một ưu điểm nổi trội của nguồn nhân lực so với
các nguồn lực khác trong hệ thống nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, nếu trước đây, một trong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng
trưởng và phát triển kinh tế của các nước là do tình trạng nghèo nàn về cơ sở vật chất, sự
thiếu hụt về nguồn vốn… thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự
hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người.
Thứ ba, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo sự phát triển mạnh mẽ và
nhanh chóng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; cùng với đó là quá trình toàn
cầu hoá đã tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội cho các nước đang phát triển có thể khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status