lịch sử địa phương lớp 9 - Pdf 25

Khởi nghĩa N’Trang Gưh
Căn cứ vào sử liệu địa phương và lời kể của một số già làng ở Krông Nô thì N’Trang Gưh,
tên thật là Y Gưh H’Đớk, là người dân tộc Ê đê, sinh khoảng năm 1845, tại buôn Choáh Kplang,
nay thuộc xã Buôn Choáh (Krông Nô). Tương truyền, N’Trang Gưh là người tài cao, đức rộng
và là một thành viên săn bắn giỏi của buôn nên có nhiều của cải quý giá như sừng tê giác, ngà
voi. Không những thế, ông còn biết tính toán làm ăn giỏi nên mỗi khi đến mùa luôn thu được
nhiều lúa, ngô, nuôi được nhiều trâu, bò, heo, gà có uy tín trong buôn gần, làng xa, được mọi
người yêu quý. Ngoài giàu có về của cải, ông còn là người giàu lòng thương người vì luôn
hướng dẫn bà con những kinh nghiệm săn bắt, chăn nuôi, trồng trọt và sẵn sàng giúp đỡ người
nghèo khó, hoạn nạn, mất mùa. Cuộc sống bà con buôn làng trong vùng đang bình yên, hạnh
phúc thì tai họa ập đến. Năm 1884, quân Xiêm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, đánh chiếm
vùng hạ lưu sông Krông Nô và Krông Ana. Hưởng ứng lời kêu gọi của N’Trang Gưh, người dân
ở 20 buôn người Bih sống trên lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana đã đứng lên chống ngoại
xâm. Nghĩa quân do N’Trang Gưh chỉ huy có đến 600 người, không có súng, chỉ dùng các loại
vũ khí thô sơ: cung tên, giáo mác… Nhằm tăng thêm sức mạnh, N’Trang Gưh đã tạo ra một loại
nỏ khá đặc biệt, chưa ở đâu có. Nỏ có chiều dài quá đầu người, thành nỏ rộng một gang tay, mỗi
lần bắn ra 3 mũi tên. Với thứ vũ khí lợi hại này, cộng với tinh thần dũng cảm, kiên cường và
mưu trí, năm 1887, nghĩa quân N’Trang Gưh đã bao vây tiêu diệt toàn bộ quân Xiêm ngay trên
cánh đồng buôn Tur và buôn Phok (một làng người Ê đê nằm trên hạ lưu sông Krông Ana).
Chiến thắng vẻ vang của nghĩa quân N’Trang Gưh đã đập tan cuộc xâm lược của quân Xiêm,
giúp đồng bào yên tâm lao động sản xuất, xây dựng buôn làng.
Những năm đầu thế kỷ XX, bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp đã thâu tóm và
kiểm soát gần như toàn bộ số buôn, bon của đồng bào bản địa trên vùng đất Tây Nguyên. Buốc
Gioa (Bourgeois), công sứ Pháp đầu tiên tại Đắk Lắk đã ngang nhiên dùng vũ lực quân sự xua
đuổi người Ê đê, M’nông đi nơi khác, chiếm lấy buôn, bon, đất đai, nương rẫy, bến nước để thiết
lập các đồn điền và xây dựng hệ thống đồn bốt. Quy mô các đồn điền ngày càng mở rộng thì chế
độ bắt xâu đối với người Ê đê, M’nông ở các buôn, bon càng ráo riết và tàn bạo. Đồng bào bị bắt
vào làm phu trong các đồn điền của Pháp, mỗi ngày họ phải lao động từ 14 đến 15 giờ. Chính
sách thống trị hà khắc, tàn bạo của thực dân đã làm cho người dân địa phương lâm vào cảnh bần
cùng, khổ ải nên căm phẫn cao độ. Đầu năm 1900, quân Pháp đánh chiếm các buôn của người
Bih dọc lưu vực sông Krông Nô và Krông Ana. N’Trang Gưh đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu

Khởi nghĩa Ama-jhao
Ama Jhao tên thật là Y Yên, họ Ayũn, sinh năm 1840 tại buôn Tung, cách thành phố Buôn Ma
Thuột ngày nay 16km về phía đông bắc, (có tài liệu cho là buôn Kô Tăm). Sinh ra trong một gia
đình Êđê có uy tín trong vùng, nổi tiếng nhờ tài săn voi cho nên ông được nhiều người yêu quý,
kính trọng. Lớn lên, Y Yên lấy cô H’Pang Niê Blô, con tù trưởng Ama Phi buôn Ea Yông (xã Ea
Yông, huyện Krong Pak) và sang ở rể bên phía nhà vợ.
Khi bố vợ ông mất, ông được dân làng bầu lên làm Tù trưởng-địa vị được dân làng kính trọng và
có thể đại diện cho dân làng trong nhiều trường hợp. Ama Jhao là một tù trưởng giàu có, ngôi
nhà của ông rộng 4m, dài 220m, có trong tay 1.000 con trâu, 15 con voi và hàng trăm nô lệ. Uy
tín của ông nổi lên mạnh mẽ và lan sang những vùng khác. Tài liệu của Pháp công nhận: “Ama
Jhao là một lãnh tụ Rađê lừng lẫy được cả vùng Hinterland cũng như Khánh Hoà, Phú Yên biết
đến với một cái tên khá khoa trương: “Vua của người Mọi”.
Ama Jhao sinh trưởng trong thời buổi mà người Pháp bắt đầu xúc tiến những bước đi đầu tiên
nhằm thiết lập quyền kiểm soát của mình trên miền Thượng. Những cố gắng thâm nhập vào
vùng nam cao nguyên theo lối truyền thống đã tỏ ra bế tắc khi mà năm 1859, hai nhà thờ Tinh
Sư và Bralam ở vùng M’nông và Stiêng bị người dân phá huỷ ngay sau khi xây dựng xong. Các
cố gắng tiếp theo của người Pháp cử những phái đoàn thám hiểm kèm theo các đơn vị vũ trang
từng bước xâm nhập vào sâu trong khu vực người Thượng. Chúng vừa sử dụng bạo lực đàn áp,
khủng bố tinh thần người dân, lại vừa phỉnh nịnh, mua chuộc những người tù trưởng, già làng.
Nhận thấy được tầm ảnh hưởng to lớn của Ama Jhao, hết Bourgeois (công sứ đầu tiên của tỉnh
Darlac), Yersin (người phát hiện ra cao nguyên Lang Biang năm 1893)… đã tìm mọi cách lôi
kéo ông về phía Pháp. Tên Khâm sứ tại Lào là Tournier đến hăm doạ: “Ông rất dễ dàng nhận ra
là ông thuộc quyền cai trị của ai. Nếu ông uống nước chảy xuôi phía biển Đông là thuộc quyền
của ông lớn người Pháp như tôi bên kia Trường Sơn. Còn nếu ông uống nước chảy về phía Tây
thì thuộc quyền cai trị của tôi”. Ama Jhao đã bình tĩnh trả lời rằng: “Tôi biết rõ là các ông muốn
gì. Nhưng tôi chỉ uống nước ao”. Những cố gắng kiểu đó của Pháp đã không có hiệu quả, còn về
phần mình, Ama Jhao không thể duy trì tình trạng hoà bình được lâu trước dã tâm ngày càng bộc
lộ rõ của thực dân Pháp, ông đã chuẩn bị cho khởi nghĩa.
Năm 1889, thực hiện ý đồ xây dựng một con đường nối liền Buôn Ma Thuột với Ninh Hòa (tỉnh
Khánh Hoà) (trước là quốc lộ 12, nay là quốc lộ 26, dài 130km), nhà cầm quyền thực dân đã cho

Y Jut H'Wing hay còn gọi ngắn gọn là Y Jút. Ông là một nhân sỹ yêu nước người dân tộc Êđê, một
người con ưu tú của núi rừng Tây nguyên. Ông sinh năm 1888 (Có tài liệu ghi 1885) tại Buôn Krăm xã
Ea Tiêu huyện Krông Ana. Ông mất năm 1934, tên ông hiện được đặt làm tên một con đường phố chợ
sầm uất nhất Buôn Ma Thuột từ ngay trước giải phóng và được giữ nguyên cho đến nay Ngòai ra còn
có rất nhiều trường học ở Đắk Lắk được vinh dự mang tên ông. Vợ ông là H’ Yih Niê là người ở buôn
Păm Lăm – Thành phố Buôn Ma Thuột. Dù ông qua đời từ rất lâu nhưng tên tuổi của ông vẫn còn lưu
lại, sống mãi trong lòng người dân Đắk Lắk quê hương ông.
Y Jút là một trong số ít ỏi trí thức người dân tộc thiểu số thời Pháp thuộc. Lúc nhỏ ông là học sinh
Trường Tiểu học Pháp – Êđê Buôn Ma Thuột, sau đó ra Huế học. Là một học sinh xuất sắc nhưng khi
tốt nghiệp ông tình nguyện trở về trường Pháp-Êđê ở quê hương để dạy chữ cho đồng bào mình chứ
không làm quan lại để cầu vinh hoa phú quy cho riêng mình. Do rất giỏi tiếng Pháp, Y Jút cùng bạn bè
như Y Ut, Y BLul tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày nay. Sau đó bộ chữ
này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm 1920. Bộ chữ sớm được phổ cập rộng
rãi trong cộng đồng người Êđê. Đến năm 1935, người Pháp ở Đông Dương chính thức công nhận các bộ
chữ này và cho phép phổ cập ở Tây nguyên.
Thời đó, viên công sứ Pháp được giao quyền cai trị vùng Tây nguyên là Sabatier. Đây là một tên thực
dân khét tiếng tàn bạo và hiểm độc. Hắn một mặt khinh miệt người bản xứ, coi họ như những người mọi
rợ, một mặt lại lại chủ trương “Đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên” để ru ngủ người Tây nguyên
và coi đó là “nguyên lý chỉ đạo nên cai trị các xứ Mọi”, kiên quyết không cho người lạ mặt vào Đắk
Lắk. Sự cấm đóan này làm Tây nguyên như bị tách rời khỏi Việt Nam và trở thành một vùng lõm
nghèo nàn và lạc hậu tất cả đã gây ra nhiều sự bất bình trong đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Ông và
Y Út bí mật tổ chức lực lượng định ám sát viên Công sứ này nhưng chưa không thành công. Đầu tháng
10-1925, hai ông chuyển sang tổ chức đấu tranh công khai và tập hợp được đông đảo học sinh và giáo
viên trường Pháp-Êđê tham gia biểu tình phản đối Sabatier, gửi thư tố cáo hành vi tội ác của tên này đi
khắp nơi. Chính nhờ những lá đơn tố cáo của Y Jút và những người cùng chí hướng và chính chủ
trương “Đất Tây Nguyên của người Tây Nguyên” của Sabatier cũng không làm hài lòng Chính quốc và
các nhà tư bản Pháp đang lăm le muốn nhảy vào khai thác vùng đất trù phú này nên Toàn quyền Đông
Dương và Khâm sứ Trung Kỳ, Tổng Thanh tra Đông Dương đã quyết định buộc Sabatier phải rời khỏi
Đắk Lắk.
Dưới sự dạy dỗ chỉ bảo của ông, nhiều học trò của ông như Y Wang Mlô, Y Bih Aleo đã trở thành

thú đa dạng. Đặc biệt, từ xa xưa, người M’nông đã có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng,
biến chúng thành voi nhà, một phương tiện vận chuyển thuận lợi của đồng bào. Không chỉ có
mối quan hệ vật chất với rừng, người M’nông từ xa xưa đã tự nhiên hình thành mối quan hệ tinh
thần, mối quan hệ văn hóa với rừng; rừng là mái nhà che chở, bao bọc người M’nông, là nơi ở
của các vị thần linh mà người M’nông có thể khẩn cầu sự giúp đỡ mỗi khi gặp khó khăn trong
cuộc sống. Có thể nói, tuy dân số không nhiều, song người M’nông đã khẳng định một vị trí khá
đặc biệt của mình bởi một nền văn hóa phong phú, đa dạng, truyền thống lịch sử đấu tranh kiên
cường, bền bỉ với những phong trào đấu tranh chống xâm lược, giành và giữ nền độc lập cho dân
tộc.

Người M’nông và người S’Tiêng là hai dân tộc láng giềng gần gũi từ lâu đời, là hai dân tộc anh em có
quan hệ nguồn gốc lịch sử nói chung, đến thời kỳ Pháp thuộc vẫn cùng một giai đoạn phát triển kinh tế - xã
hội. Ngôn ngữ M’nông và ngôn ngữ S’tiêng đều thuộc ngữ hệ Môn - Khơ Me, cùng tộc hệ ngôn
ngữ với các dân tộc như Mạ, Cơ Ho, Ba Na, Xơ-đăng v.v Đối với đồng bào M’nông, trong quá
trình lịch sử và cuộc sống hằng ngày, họ đã sáng tạo ra được một số loại nhạc cụ độc đáo: bộ gõ
có đàn chiêng (cĩng), trống (Ding Gơr), đàn môi (guốc). Truyền thống văn hóa đồng bào dân tộc
M’nông hết sức đặc sắc, gắn với hệ thống nghi lễ - lễ hội, liên quan chặt chẽ đến hệ thống thần
linh và tín ngưỡng đa thần. Đặc biệt, đồng bào M’nông và S’tiêng luôn giữ được truyền thống
bình đẳng, dân chủ, tương thân, tương trợ, tính cố kết cộng đồng.
2. Phái bộ Henri Maitre, âm mưu và tội ác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Thực hiện kế hoạch đặt ách cai trị lên vùng đất phía Nam Tây Nguyên, thực dân Pháp tiếp tục
đem quân tiến vào cao nguyên M’nông. Cuối năm 1908, “Phái bộ khảo sát - hành chính Đông
Cao Miên” được thành lập. Henri Maitre được chỉ định cầm đầu phái bộ này. Nhiệm vụ của
Henri Maitre là trong hai năm 1909-1910 phải hoàn thành điều tra khảo sát toàn bộ cao nguyên
M’nông và đặt được ở đây một nền móng ban đầu cho chính quyền thực dân Pháp. Ban đầu,
Henri Maitre chỉ có trong tay một lực lượng bảo an và khố xanh nhỏ gồm 9 tên, nhưng con số đã
nhanh chóng tăng lên đến một trung đội rút từ Buôn Ma Thuột và Xrây Ktum. Để thành công
trong chính sách nô dịch và bóc lột các dân tộc, hắn chủ trương thực hiện một phương sách hành
động kết hợp mị dân với bạo lực, lấy bạo lực làm chủ yếu. Khi Henri Maitre kéo quân vào cao

công vào làng của ông, bắt và tra tấn dã man bà Lal và Trang rồi bỏ chết đói. Giữa mùa khô sau
đó, vào đầu năm 1912, ông nổi dậy trả thù nhà, tiêu diệt đồn Pu Sra thì Henri Maitre lại mở
chiến dịch đàn áp khốc liệt cuối mùa khô 1912-1913, đốt sạch, phá sạch tài sản gia đình ông, dồn
ông vào cảnh vong gia bại sản. Từ đó, ba người con còn lại của ông cũng bị đẩy vào cảnh phiêu
bạt rồi mất tích. Đời vợ sau của ông là bà Pang, một bà góa có một con, gốc R’Hong, quê ở Bu
Rơlâm, một làng R’Hong trước kia ở trên đầu nguồn sông Prêk Chlong, nhưng sau nhiều lần du
canh du cư đã đến cắm tại hữu ngạn trung lưu sông Đắk Huich. Đầu năm 1913, khi bị Henri
Maitre truy lùng ráo riết nhằm trả thù trận ông đánh sập đồn Pu Sra của hắn, N’Trang Lơng cùng
một số nghĩa quân đã chuyển vùng đến nguồn Đắk Huich để lánh giặc, đồng thời gây dựng cơ sở
mới, bắt nối lại phong trào ở vùng này. Ông đã gặp bà Pang và làm bạn với bà trong khoảng thời
gian này. Từ khi quê hương được giải phóng, ông về ở hẳn với bà ở Bu Rơlâm và làm đầu làng
của làng này. Đến khi ông cầm súng lên đường đi đánh Pháp xâm lược trở lại cao nguyên, bà đã
đi theo ông, trở thành người bạn chiến đấu của ông. Đến khi ông ngã xuống trước họng súng của
quân thù tại Bu Par, bà đã hy sinh bên cạnh ông.

Vị đầu làng Bu Par N’Trang Lơng bước vào lịch sử giữa mùa khô 1911-1912, năm ông
khoảng 40 tuổi. Từ đó, ông hiến dâng tất cả những năm tháng của đời mình cho cuộc kháng
chiến chống xâm lược Pháp. Ngay cả trong những năm dài quê hương được giải phóng, tuy trở
lại với cuộc sống bình thường của một người đầu làng nơi quê hương vợ, nhưng từng lúc, từng
nơi, khi tình hình cuộc chống Pháp lấn chiếm cao nguyên trở lại đòi hỏi, ông vẫn có mặt ở vị trí
cần thiết, làm nhiệm vụ của người thủ lĩnh phong trào. Như vậy, N’Trang Lơng là một tấm
gương tiêu biểu nhất về tinh thần thiết tha yêu quê hương, về chí căm thù giặc Pháp xâm lược
sâu sắc, về lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ cuộc sống độc lập và tự do của
quê hương trong lịch sử chống Pháp ở miền sơn nguyên Nam Đông Dương. Dân tộc M’nông rất
tự hào về người thủ lĩnh của mình. Từ năm 1912 khi ông mới đứng lên cho đến khi ông phải
dừng chiến đấu vào tháng 5/1935, lớp lớp người đầu làng M’nông, S’tiêng đã kế tiếp nhau đứng
lên chiến đấu dũng cảm, ngoan cường.
**QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA N’TRANG LƠNG
(1912 - 1936).


nghĩa quân địa phương của các buôn đi chiến đấu. Họ được trang bị vũ khí tự có và được
N’Trang Lơng phân phát thêm súng tịch thu của giặc Pháp.
1. Trận Pu Sra.

Sau quá trình N’Trang Lơng vận động, tập hợp lực lượng hình thành nghĩa quân, tích trữ
lương thảo và xây dựng các căn cứ chiến đấu, đến đầu năm 1912, N’Trang Lơng quyết định mở
cuộc tấn công đồn Pu Sra - Sở chỉ huy của Pháp.

Trận Pu Sra được các tài liệu chính thức của Pháp thời bấy giờ miêu tả là một trận đánh tiêu
biểu hoàn toàn thắng lợi của nghĩa quân. Số làng liên minh với N’Trang Lơng trong trận đánh
này khoảng vài chục làng, phần lớn là người M’nông Biêt và Bu Nor ở các vùng nguồn Prêk Tê,
Đắk Rpa và Đắk Plai. Diễn biến trận đánh đồn Pu Sra, trong đêm tối, dưới sự chỉ huy trực tiếp
của N’Trang Lơng và các thủ lĩnh, khoảng 150 đến 170 nghĩa quân cùng tiến sát đồn, diệt tên
lính gác rồi ào ạt xung phong, dùng hỏa công thiêu rụi đồn Pu Sra, diệt được 13 tên địch. Trong
đó, có tên Balat Mau, quyền trưởng đồn, người Cao Miên, khét tiếng gian ác cùng tên Nđjrak Ot,
đầu làng làng Pu Sra, nổi tiếng là tay chân đắc lực của Henri Maitre cũng bị nghĩa quân trừng trị
đích đáng.

Số thủ lĩnh đầu làng và già làng tham gia chỉ huy trận đánh bên cạnh N’Trang Lơng rất đông.
Chiến thắng Pu Sra làm nức lòng dân chúng và làm tên tuổi N’Trang Lơng vang dội khắp Tây
Nguyên, Ông trở thành con người vĩ đại của dân tộc M’nông bất khuất.

Chiến thắng Pu Sra như một luồng gió mạnh thổi lên khắp cao nguyên M’nông, mở đầu một
phong trào vũ trang nổi dậy chống Pháp mạnh mẽ. Đối với Pháp, Pu Sra thất thủ là một thất bại
nặng nề. Việc cắm được đồn Pu Sra và việc thành lập được đại lý Pu Sra được chúng coi là một
thành công lớn của phái bộ khảo sát - hành chính Đông Cao Miên, tức là của Henri Maitre, thì
nay toàn bộ “sự nghiệp” đó đã bị nghĩa quân N’Trang Lơng xóa sạch.

2. Cuộc chống càn thắng lợi của nghĩa quân N’Trang Lơng mùa khô 1912-1913


theo là một nạn đói trầm trọng trong cả mùa khô 1913-1914. Trong khi đó, năm 1913, thuế thân
tăng lên đến 7 đồng bạc Đông Dương một người. Đời sống của người M’nông Biêt, Bu Nor và
R’Hong vì vậy rất khổ cực. Khắp phần cao nguyên này lại nổ ra những trận chiến đấu chống
thực dân Pháp, phong trào xây dựng làng chiến đấu chuẩn bị chống giặc diễn ra rầm rộ, đặc biệt
ở nguồn sông Đắk Huich.

Đối với thực dân Pháp, lúc này việc lập một lỵ sở cho hạt đại lý đã trở thành một việc cấp
bách. Do đó, cuối tháng 2/1914, Galchiê và Henri Maitre đến Bu Mêra, một làng M’nông Nông
trong lưu vực Đắk R’tíh để xây dựng đồn đại lý. Bu Mêra là một làng đông dân và khá giả,
nằm trên bờ Búk Xô có vị trí chiến lược cơ động nhất trong lưu vực Đắk R’tíh và đối với
toàn phần cao nguyên M’nông. Bao quanh có nhiều làng khác như Bu Jâng Chet (cũng gọi là
Bu Xiêt), Bu Ya, Bu Pu (U) Min và Bu Nđrung. Hành động của chúng bị nhân dân trong
khu vực phản đối gay gắt.

Giữa tháng 6/1914, đồn Mêra bước vào thời kỳ sắp hoàn thành. Lực lượng vũ trang của
Henri Maitre đã tăng lên đến 25 lính khố xanh Trung Kỳ và bảo an Cao Miên; ngoài ra có 4 tên
phiên dịch, cai culi và bồi bếp, do một số tên đội khố xanh chỉ huy. Để bảo đảm hậu cần cho số
quân đồn trú và bọn nhân viên phục vụ, khoảng giữa tháng 6/1914, Henri Maitre đi Giring lấy
tiếp tế, hẹn sau 1 tháng sẽ trở về. N’Trang Lơng và hội đồng thủ lĩnh M’nông Nông quyết định
nắm lấy thời cơ này để khởi sự.

Quyết định của hội đồng thủ lĩnh dưới sự lãnh đạo và chỉ huy của N’Trang Lơng là: ngày
Henri Maitre vừa về đến Mêra, bất ngờ dụ hắn đi Bu Nor ngay, lấy cớ N’Trang Lơng đang uy
hiếp mạnh các làng M’nông Nông đang chứa chấp hắn, hắn cần đến hợp lực với các làng đánh
N’Trang Lơng. Mục tiêu trận Bu Nor là tiêu diệt Henri Maitre và một bộ phận quan trọng lực
lượng vũ trang của hắn. Mục tiêu thứ hai phải đánh liền sau đó là đồn Mêra, tiêu diệt nốt số lính
còn lại, cướp đoạt vũ khí và lương thực dự trữ.

Vị đầu làng Bu Jâng Chet là R’Đing vốn được Henri Maitre coi là một “đồng minh”, nên là
người có danh nghĩa nhất đứng ra kêu gọi Henri Maitre liên minh với người M’nông Nông đi

Henri Maitre đến Bu Nor ngay chiều ngày 29/7, hắn được R’Ong Leng tiếp đãi theo đúng phong tục
mến khách của người M’nông. Lễ “kết minh” tổ chức ngay hôm sau, vào khoảng 8 giờ ngày
30/7/1914, tổ chức tại nhà R’Ong Leng. Lễ chính thức là cúng giàng, làm một lễ hiến sinh lấy
nước phép rưới cầu may cho vũ khí. Vũ khí của cả đôi bên được chất thành đống, kể cả khẩu
súng lục của Henri Maitre. Khi Lễ chính thức bắt đầu, hắn vừa được đưa cần rượu cho uống
trước thì N’Trang Lơng bước đến bên cạnh, ông hỏi y một câu có tính chất thách thức, và bằng
một động tác chính xác, N’Trang Lơng rút dao ngắn đâm Henri Maitre một nhát trúng tim.
Những nhát dao ngắn đâm tiếp theo là của các vị thủ lĩnh theo thứ tự quan trọng của mỗi người:
Bơ Xing Rđing, R’Ong Leng, Bơ Ning Xning, Bơ Rơi Njưng. Đồng thời reo lên khắp nhà tiếng
hô “Lơh! Lơh!” (Giết! Giết!). Nghĩa quân, cả đàn bà, nhảy xô vào bọn lính và tay chân của
Henri Maitre, diệt kỳ hết, trừ người nài voi Nchuh đi thả voi mới về, ngồi xa đàn lễ, nghĩa quân
không thấy nên thoát chết và được giữ lại làm tù binh.

Trận đánh đồn Mêra diễn ra ngay sau trận Bu Nor, trưa ngày 31/7/1914. N’Trang Lơng đích
thân chỉ huy trận đánh với sự tham gia của Bơ Xing Rđing và Bơ Ning Xning. Vào lúc đứng
bóng, đồn Mêra bị dân hai làng Bu Mêra và Bu Jâng Chet tràn vào, không chỉ đàn ông mà cả đàn
bà. Nghĩa quân hóa trang thành lính khố xanh với trang phục lột được ở Bu Nor, trà trộn trong
dân vệ để lọt vào đồn. Trận đánh đã tiêu diệt số ít lính và chỉ huy còn lại trong đồn diễn ra một
cách nhanh chóng. Đây cũng là một trận thắng trọn vẹn nữa của nghĩa quân theo đúng kế hoạch
đã định.

Trận Bu Bông, trận thứ ba trong thế đánh liên hoàn, là một trận đánh nhỏ, diễn ra như một
ngẫu nhiên của lịch sử. Đây là một bằng chứng nữa nói lên sự đúng đắn của phương án tác chiến
đã vạch ra, lòng trung thành vô hạn của nghĩa quân Bu Bông đối với N’Trang Lơng, ý thức chấp
hành nghiêm túc quân lệnh của vị thủ lĩnh ở Bu Bông. Kết quả trận đánh, nghĩa quân đã tiêu diệt
được một toán lính khố xanh của đại lý Buôn Ma Thuột áp giải tù đi Mêra.

Ngoài trận liên hoàn Bu Nor - Bu Mêra - Bu Bông, nghĩa quân N’Trang Lơng đã lần lượt tiêu
diệt hai đồn Pu Klia và Pu Thông ở thượng lưu hai sông Prêk Tê và Prêk Chlong, giáng một đòn
mạnh mẽ vào hệ thống đồn bốt của thực dân Pháp.

được. Để giữ vững phong trào, dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng (lúc này đã trở về với gia
đình ở Bu Rlâm và đứng đầu làng này), nghĩa quân đã tiến hành một đợt thanh trừng bọn phản
bội và bọn tay chân cũ của Pháp.

Do ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khởi nghĩa N’Trang Lơng, phong trào đấu tranh chống thực
dân Pháp trên vùng cao nguyên Nam Đông Dương đã lan rộng ra nhiều khu vực, đặc biệt nổi lên
là phong trào chống Pháp của người S’tiêng ở Bà Rá. Đầu năm 1925, vùng Bà Rá vẫn còn nằm
ngoài tầm với của thực dân Pháp ở đại lý Phú Riềng. Trước tình hình không chịu khuất phục của
nhân dân S’tiêng, thực dân Pháp chuyển sang dùng quân sự đánh chiếm vùng S’tiêng Bà Rá.
Cuộc xâm lược này được giao cho tên quan tư Cariê (Carrier) tiến hành với sự tài trợ của các
công ty đồn điền cao su ở Nam Kỳ, với sự phối hợp và yểm trợ của các tên đại lý đồn trưởng các
đồn Bu Đốp và Chlong Phlas cả về quân sự và chính trị. Trong hai mùa khô 1925-1926 và 1926-
1927, Cariê liên tiếp càn quét vùng S’tiêng Tây Bà Rá, rồi vùng S’tiêng Đông Bà Rá; càn quét
đến đâu, y cho làm đường đến đó. Mạng lưới đường y làm thọc sâu dần về phía Bắc vào vùng
M’nông – S’tiêng. Do các cuộc càn quét ác liệt của Cariê, phong trào chống Pháp của đồng bào
S’tiêng khu vực Bà Rá tạm thời lắng xuống.

Đến đây, kết thúc giai đoạn (1916-1927) của cuộc kháng chiến chống Pháp lấn chiếm cao
nguyên trở lại của hai dân tộc M’nông và S’tiêng. Với truyền thống chống xâm lược từ lâu đời,
tấm gương chiến đấu và các chiến công oanh liệt của N’Trang Lơng đã động viên và cổ vũ đồng
bào M’nông và S’tiêng tiến hành một cuộc chiến đấu anh dũng, giữ vững được phần lớn nhất đất
đai, bảo vệ tự do trên quê hương, góp phần cổ vũ sức chiến đấu chống thực dân Pháp của đồng
bào các dân tộc nhiều vùng trên Tây Nguyên, Nam Kỳ. Song, trước mắt đồng bào là một kẻ thù
tàn bạo, ngày càng mạnh và càng quyết tâm chinh phục trở lại cao nguyên.

IV. ĐẤU TRANH QUYẾT LIỆT CHỐNG LẠI NHỮNG THỦ ĐOẠN TÀN BẠO,
NHAM HIỂM CỦA KẺ THÙ (1928-1936).

Năm 1928, thực dân Pháp lộ rõ âm mưu chính thức xâm chiếm trở lại cao nguyên M’nông.
Cho đến lúc này, sức ép của việc khai thác đồn điền và xây dựng căn cứ quân sự chiến lược Tây

Miên) và Bu Đốp (Nam Kỳ). Trong tháng 2/1928 và những tháng tiếp theo, hai đồn này đã liên
tục mở những cuộc hành quân phối hợp càn quét từ phía Nam lên theo lưu vực Đắk Glun (đầu
nguồn sông Bé) và các chi lưu của con sông này. Trước sức ép nhiều phía của quân Pháp, người
R’hong và người M’nông trong khu vực tạm thời nằm yên hoặc lánh sâu vào rừng ly khai với
giặc.

Trong tình hình đó, khi con đường 14 vừa lên tới đỉnh dốc đường phân thủy để đi vào cao
nguyên Đồi Cỏ thì nghĩa quân N’Trang Lơng tổ chức phục kích ngày 26/1/1931, tại La Pam, km
70 (kể từ biên giới Nam kỳ - Cao Miên), nghĩa quân đã đánh và tiêu diệt tên đại lý đồn trưởng
Xnul kiêm chỉ huy công trường đường Gati (Gatille). Tin N’Trang Lơng và nghĩa quân diệt được
Gati đã có tác động như một hiệu lệnh làm dấy lên trên toàn cao nguyên một phong trào chống
Pháp sôi sục, bùng lên khắp nơi một phong trào dấp rừng, lập làng chiến đấu, chuẩn bị chống
giặc, khí thế bừng bừng như thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa. Các công trình làm đường, các
đồn điền của Pháp liền bị dìm vào cảnh thiếu công nhân và hoàn toàn tê liệt. Tình hình trên cao
nguyên đã trở nên cực kỳ nghiêm trọng, làm kinh động cả bọn cầm quyền chóp bu ở Đông
Dương. Từ đây diễn ra một cuộc đối đầu thật sự giữa một bên là nghĩa quân N’Trang Lơng và
đồng bào M’nông và S’tiêng, một bên là tên toàn quyền Đông Dương Pie Paxkiê và tên tướng
Biôt (Billote), tổng chỉ huy quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương với lực lượng quân sự và
phương tiện chiến tranh to lớn của chúng, một cuộc đối đầu kéo dài hơn 3 năm và đã kết thúc
bằng thắng lợi của nghĩa quân N’Trang Lơng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

2. Thời kỳ từ giữa mùa khô 1931-1932 đến giữa mùa khô 1933-1934.

Thời kỳ bọn thực dân Pháp chóp bu ở Đông Dương ra tay trực tiếp cầm quân, ba xứ Nam Kỳ,
Trung Kỳ, Cao Miên phối hợp ra quân liên tục càn đi quét lại cao nguyên M’nông, nhưng cuối
cùng đã thất bại; đánh dấu sự thất bại này là hai trận đánh phối hợp của nghĩa quân N’Trang
Lơng và nghĩa quân S’tiêng hai ngày đầu tháng 1/1934.

Mở màn của thời kỳ đối đầu này là những cuộc họp từ tháng 2 đến tháng 8/1931 của P.Paxkiê
và Biôt bàn về chủ trương và kế hoạch đưa lực lượng quân đội thuộc địa của chúng vào đánh

quét trên một đoạn độc đạo của con đường 14. Trên đường đi, chúng bị nghĩa quân liên tục đánh
phá, phải mất gần 9 tháng mới tiến được 75 cây số, 40 lính chết, 200 bị trọng thương.

Còn cánh quân Bu Đốp gồm một trung đội lính bảo an Nam Kỳ do Giecbe (Gerbar) đồn
trưởng kiêm đại lý chỉ huy cũng xuất phát vào giữa tháng 1/1932 và hành quân theo thượng lưu
sông Bé để đi vào vùng Nâm Nung - Đắk R’tíh- trung lưu sông Đồng Nai. Cánh quân này đã bị
đánh bật trở lại khi chúng vừa đặt chân lên vùng đất của người M’nông Nông.

Cuộc phản kích đầu tiên của nghĩa quân N’Trang Lơng nổ ra giữa mùa khô 1932-1933 với
lực lượng hơn 200 người (tương ứng với hơn 20 làng liên minh) đánh vào đồn Gati, cứ điểm vệ
tinh lớn của đồn đại lý Lơ Rôlăng, cắm tại cây số 65 đoạn đường 14 trên đất Cao Miên. Trận
đánh xảy ra ngày 6/1/1933, bằng tên nỏ và súng trường, một cánh quân dưới sự chỉ huy trực tiếp
của N’Trang Lơng đánh vào mặt đồn Gati. Đồng thời, một cánh nghi binh khác được bố trí để
đánh diệt viện ở xa về phía Tây Nam, tại km 50. Cuộc tập kết của nghĩa quân bị lộ nên tên quan
ba Bruynê (Brunet) chỉ huy tập đoàn cứ điểm Lơ Rôlăng đã kịp thời điều quân tăng cường các
đồn bốt dọc đường 14. Cuộc tấn công của nghĩa quân không vì vậy mà kém phần quyết liệt. Lực
lượng Pháp ở Gati gồm có 60 lính khố đỏ, dưới sự chỉ huy của đồn trưởng Caxtel (Castel), bắn
liên thanh ra rất dữ dội. Nghĩa quân rút vào các công sự đã đào sẵn, nổi lửa đốt cỏ tranh quanh
đồn đánh hỏa công. Trong khi chờ viện binh, quân Pháp rút xuống hầm cố thủ, phản kích bằng
lựu đạn phóng bằng súng. Quân cứu viện của Pháp do tên đội Lơcôngtơ (Lecote) chỉ huy, gồm
30 tên rút từ đồn cây số 55. Khi chúng vừa tới cây số 58 thì bị nghĩa quân đón đánh, bắn hỏng
chiếc ôtô chở chúng, buộc chúng phải hành quân lội bộ qua rừng. Đến cây số 62, Lơcôngtơ trúng
chông bị loại ra ngoài vòng chiến đấu, phải khiêng đến đồn cây số 63 để cấp cứu. Từ đó Pháp
phải dời đồn Gati lên đóng ở một điểm cao và xây dựng kiên cố hơn, có hầm hào và hàng rào
dây thép gai vây quanh.

Sau trận đánh đó, những người M’nông Biêt và R’Hong đi theo N’Trang Lơng rất đông. Về
phía thực dân Pháp, chúng phản ứng quyết liệt, cho máy bay ném bom khủng bố hai làng Bu
Than và Bu Ju, gần Gati mà chúng nghi là nơi để nghĩa quân dùng làm chỗ tập kết trước trận
đánh. Hai tháng sau, chúng mở một chiến dịch lớn nhằm càn quét nghĩa quân, chặn đứng phong

giặc Pháp.

Nổi dậy sớm nhất, ngay từ đầu mùa khô, là các làng M’nông Biêt phía Bắc đồn Lơ Rôlăng. Đây
là những làng đã tham gia đánh đồn này hồi đầu năm “mưu giết tên đại lý Chlong Phlas”. Xa
hơn về phía Bắc, cuộc nổi dậy của người M’nông Biêt càng sôi sục. Giặc Pháp ở Chlong Phlas
đã buộc phải mở một cuộc hành quân càn quét về hướng đó cho đến bờ sông Sêrêpốk. Ngày
4/3/1935, một đồn Pháp - đồn Đêhay (Deshsyes), đã được dựng lên ở vùng M’nông Biêt xa xôi,
hẻo lánh cách Lơ Rôlăng 82 cây số. Nhưng đồn này vừa dựng lên hôm trước thì ngày hôm sau
đã nổ ra trận đánh lớn thứ hai của N’Trang Lơng vào đầu Lơ Rôlăng, trận đánh đã kinh động
một lần nữa bọn cầm quyền chóp bu buộc chúng sau đó phải thay tướng, tăng quân.

Một phong trào chống Pháp lại bùng lên trên gần 80 cây số từ tây đến đông và 50 cây số từ nam tới bắc. Giặc
Pháp truy lùng nghĩa quân ráo riết buộc nghĩa quân phải không ngừng di chuyển, nhưng khi giáp mặt với quân
thù, nghĩa quân vẫn chiến đấu rất anh dũng. Chính viên quan tư Nyô, kẻ đang đối mặt với N’Trang Lơng cũng
buộc phải nhìn nhận rằng: “Thủ lĩnh N’Trang Lơng hồi này đã chừng 50 tuổi nhưng vẫn rất khỏe
mạnh và hàng chục vị thủ lĩnh kiên cường, dũng cảm khác, tất cả đều quyết tâm bằng mọi giá
đánh đuổi ta (Pháp) ra khỏi cao nguyên Trung Tâm (cao nguyên M’nông) một lần nữa”.

4. N’Trang Lơng anh dũng hy sinh - phong trào khởi nghĩa đi vào thoái trào và kết thúc.

Sau trận N’Trang Lơng đánh đồn Gati ngày 29/4/1935, thực dân Pháp thấy rõ bị uy hiếp mạnh,
nên từ đầu tháng 5/1935 trở đi, chúng tung quân ra sức truy lùng nghĩa quân, bất chấp các cơn
mưa đầu mùa xối xả, núi cao, rừng sâu. Trong hoàn cảnh đó, N’Trang Lơng tạm lánh về quê cũ,
ẩn náu trong một vùng rừng gần Bu Par. Sự có mặt của ông ở đây đã bị tên phản bội Bơ Mpông
Phê, chỉ điểm của Pháp phát hiện. Bơ Mpông Phê vốn là đầu làng làng Bu Rtung và là một thủ
lĩnh nghĩa quân thời kỳ đầu cuộc khởi nghĩa. Thời kỳ sau năm 1915, thời kỳ khó khăn trên cao
nguyên, hắn đã giao động chạy theo giặc, nộp cho giặc một số súng mà nghĩa quân đã cướp
được, nên bị nghĩa quân trừng phạt nghiêm khắc. Vào lúc N’Trang Lơng bị hắn phát hiện thì
một cánh quân của Nyô do tên quan hai Lơ Bel (Le Belle) chỉ huy với sự hiệp lực của tên Bêxret
(Besrest), quan một bảo an ở Chlong Phlas, đang ráo riết săn lùng ông, cách nơi ông ẩn náu

diễn ra hết sức quyết liệt, liên tục và bền bỉ. Dưới sự lãnh đạo của N’Trang Lơng, phong trào
chống Pháp đã nổ ra hơn một phần tư thế kỷ. Trong thời gian đó, do ảnh hưởng của N’Trang
Lơng, toàn miền sơn nguyên Nam Đông Dương liên tục mở ra nhiều phong trào chống Pháp
khác, gây cho Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Tính cho đến giữa năm 1930, sau gần 80 năm xâm
lược Việt Nam (1858), thực dân Pháp cơ bản chưa khuất phục được hết các dân tộc trên miền
sơn nguyên quan trọng này. Đó là một thất bại lớn của chúng, đồng thời là một thắng lợi lớn của
phong trào N’Trang Lơng, một đóng góp vẻ vang vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân
hai nước Việt Nam và Campuchia. Đóng góp vẻ vang đó đã được chi bộ Đảng Cộng sản Đông
Dương ở hải ngoại đánh giá cao: “Dân chúng người Lào, người Cao Miên, người Thượng, người
Thổ đang hăng hái chung vai sát cánh với anh em giai cấp người Việt Nam mà chống đế quốc
phong kiến , ai ai cũng nhớ rằng từ năm 1933 đến nay, dân tộc Thượng ở Đồng Nai Thượng
(Trung Kỳ) không chịu đầu hàng đế quốc Pháp”.

Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng, đã thể hiện rõ tinh thần chiến đấu kiên cường, anh
dũng của N’Trang Lơng và nghĩa quân của ông. Thật vậy, trong suốt gần 25 năm cuộc đấu tranh,
bất kể hoàn cảnh chiến đấu khó khăn nguy hiểm như thế nào, ông và nghĩa quân luôn nêu cao
tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí sắt đá không sợ hy sinh gian khổ, không đầu hàng thỏa
hiệp dù lực lượng của kẻ thù hùng hậu đến mức nào. Vì chính sách tàn bạo của kẻ thù, N’Trang
Lơng và nghĩa quân đã cầm vũ khí đứng lên chiến đấu. Kẻ thù càng hung hãn, tàn bạo, cuộc
chiến đấu của ông và nghĩa quân càng kiên quyết, mãnh liệt. Khi ngã xuống, ông vẫn trong tư
thế chiến đấu mặt đối mặt với quân thù. Chính kẻ thù cũng buộc phải thừa nhận tinh thần sắt đá
và lòng tự tôn không gì lay chuyển nổi của ông. Như vậy, chúng ta khẳng định, chính tinh thần
chiến đấu kiên cường, anh dũng của N’Trang Lơng là nhân tố hàng đầu đã làm nên các chiến
công oanh liệt của phong trào chống Pháp do ông lãnh đạo; đưa phong trào đó lên vị trí là ngọn
cờ chống Pháp chung của dân tộc ông cũng như của các dân tộc khác trên miền sơn nguyên Nam
Đông Dương.
Săm brăm
Sămbrăm là người dân tộc Chăm tên thật là KsoLơ, dân làng gọi là Ma Chàm (cha của Chàm) theo tập tục khi đã
sinh người con đầu. Cũng có tài liệu viết Sămbrăm tên là Mang Lơ, Mang Chàm, Hội Chàm. Ông sinh vào
khoảng những năm đầu thập niên 70 thế kỷ XIX tại buôn Suối Ché, tổng Bầu Bèn, nay là thôn Tân Hải, xã

loài mới mong sống được. Đó cũng là lập luận mang tính hợp pháp để bọn thực dân không thể bắt bẻ, ngăn cấm
Sămbrăm thực hiện ý định của mình (2). Các đại biểu đến với Sămbrăm đều mang theo một số xu đồng do dân
làng quyên góp, một ít lễ vật, và khi ra về họ mang theo một chai nước phép. Số xu đồng mà các làng gần xa góp
lại, có người cho rằng Sămbrăm định mua vũ khí cho cuộc chiến đấu. Có ý kiến đoán rằng bằng cách mỗi người
góp một xu, Sămbrăm tính ra được số người tham gia phong trào. Còn thứ nước phép ban phát thực ra là nước
sông Cà Lúi. Nó có tác dụng truyền bá rộng rãi, cổ vũ phong trào và như mối liên hệ giữa buôn làng này với
buôn làng khác, dân tộc này với dân tộc khác, làm cho phong trào ngày càng có quy mô rộng lớn lan xa, và cuộc
đấu tranh phát triển với một khí thế mạnh mẽ (3).

Trước những hoạt động yêu nước có tiếng vang rộng lớn của Sămbrăm, năm 1936, công sứ Pháp tại Đắk Lắk đã
cử đồn trưởng cảnh sát Buốc- gơ -ri (Bougerie) đến vây bắt ông đem về giam tại nhà giam Buôn Ma Thuột.
Trong phiên tòa ngày 2/9/1938, tòa án phong tục thiểu số tỉnh Đắk Lắk xử Sămbrăm 10 năm tù giam và buộc
nộp phạt 500 đồng (4). Sămbrăm bị thực dân Pháp giam cầm ở nhiều nơi như nhà tù Buôn Ma Thuột, nhà lao
Sông Cầu, nhà lao Thanh Hóa… Mãi đến năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông mới được trả tự do.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Sămbrăm ngoài 70 tuổi, vẫn tiếp tục làm công tác cách mạng, ông tham gia
Mặt trận Liên việt tỉnh Phú Yên và Mặt trận Liên việt huyện Đồng Xuân. Ngôi nhà của ông là nơi cán bộ công
tác ở địa bàn miền Tây Phú Yên và đơn vị vũ trang trung đoàn 84 thường xuyên đi lại làm việc, ăn nghỉ, được cả
gia đình ông quan tâm giúp đỡ (5). Sămbrăm mất năm 1949.
Ý nghĩa lich sử
I. Ý NGHĨA LỊCH SỬ.

đấu tranh kiên cường chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên và
Đắk Nông cùng với đồng bào M’nông, S’tiêng ghi những chiến công oanh liệt, buộc quân địch
phải rút khỏi cao nguyên, đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, trong đó có những tên thực dân sừng
sỏ như Henri Maitre, Truffot, Gatille, Margand hàng ngàn súng ống, đạn dược và nhiều kho
tàng phục vụ chiến tranh của địch bị tịch thu hay phá hủy. Các giai đoạn của cuộc khởi nghĩa kết
thành một quá trình liên tục, diễn ra trên toàn địa bàn cao nguyên M’nông. Lực lượng chủ yếu
của phong trào là các nhóm M’nông: Biêt, R’hong, Nông và Prâng. Người S’tiêng hưởng ứng
phong trào này từ đầu về sau trở thành một lực lượng đồng minh của nghĩa quân.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status