BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng công thương Chi nhánh
Bình Định
SVTH: QUÁCH BÁ CHIẾN
GVHD: THÁI MINH HIỆP
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 tháng nghiên cứu thực tế, thực tập và viết báo cáo thực tập tốt
nghiệp, có được kết quả đó là nhờ công lao to lớn của thầy- cô giáo trường Đại
học Quang Trung. Những kiến thức trong từng bài giảng, từng trang giáo án
của thầy cô đã thẩm thẩu trong mỗi chúng em.
Kính gửi đến quý thầy cô lời cảm ơn chân thành và lời chức tốt đẹp
nhất. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của
thầy Thái Minh Hiệp đã tạo điều kiện để em hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp
Em chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng ban của ngân hàng
Công thương Bình Định và nhất là Phòng giao dịch Nguyễn Huệ đã giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đòi hỏi sự năng động
của mọi thành phần kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình là
điều kiện hết sức cần thiết. Song, vấn đề khó khăn và nan giải nhất hiện nay
đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế là vấn đề vốn.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dung, qua
gần 15 năm đổi mới Việt Nam đã và đang bước vươn lên, bước đầu khẳng định
được uy tín, chinh phục mọi thị trường, chiếm lĩnh thị trường lớn, ổn định góp
vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Bình Định.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tai Ngân hàng Công thương Chi nhánh Bình
Định.
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên
chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của thầy giáo và các anh, chị trong Chi nhánh để chuyên đề được
hoàn thiện và đầy đủ hơn.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG.
1.1.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.1. Ngân hàng thương mai và hoạt động của NHTM
1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Lịch sử hình thành và phát triền của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nên sản xuất hàng hóa. Quá trính phát triển kinh tế là điều kiện và đòi
hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân
hàng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ
vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh
thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cấu đúc và đổi tiền
tại các cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại. Người làm nghể đúc tiền, đổi tiền,
thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi
nhuận thu được là chênh lệch giá mua-bán.
Người làm nghể đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm
nghề cho vay nặng lãi. Họ thường có két tốt để cất giữ đảm bảo an toàn. Do
yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề
đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ làm tăng
thu nhập, tăng khả năng đa dạng hóa loại tiền, tăng quy mô tài sản của người
kinh doanh tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều người khác là điều kiện để thực hiện
thanh toán hộ và thanh toán không dung tiền mặt. Với những ưu điểm của
chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín
dụng thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một số định nghĩa dựa trên các hoạt
động chủ yếu.Ví dụ, Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thương xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số
tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.”
Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân
hàng của những kẻ cho vay nặng lãi - thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ
yếu của các người giàu như: quan lại, địa chủ…nhằm mục đích phục vụ tiêu
dùng. Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở rộng cho vay đối với vua chúa, nhắm
tài trợ một phần cho chi tiêu trong chiến tranh. Hình thức cho vay chủ yếu là
thấu chi, tức là cho khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng, một
hình thức cho vay có nhiều rủi ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ
ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi ( lưu thông thay vàng
bạc), phát hành tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân
hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán,
ảnh hưởng xấu đến hoạt động mua bán. Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà
buôn không thể sử dụng vốn vay này. Trước tình hình đó những nhà buôn tự
thành lập ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại. Như vậy ngân hàng thương
mại được hình thành xuất phát từ tư bản thương nghiệp và gắn liền với quá
trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng thực
hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiền gửi, thanh
toán, cất trữ hộ và cho vay. Tuy nhiên điểm khác biệt giữa ngân hàng thương
mại và các nhà buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các
khoản cho vay ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hóa với lãi
suất phải thấp hơn lợi nhuận tạo ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn,
ngân hàng thương mại ban đầu không cho vay đối với người tiêu dùng, không
cho vay trung và dài hạn, không cho vay đối với nhà nước.
Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số
lượng các ngân hàng mà còn làm tăng quy mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và
tập trung vốn đã tạo ra các công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng tỷ
đô la Mỹ, tổng tài sản hàng trăm tỷ đô la Mỹ, đủ sức tại trợ cho các ngành
công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn toàn cầu.
Quá trình phát triền của ngân hàng đã tạo ra mối liên hệ ràng buột ngày
càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng. Các
hoạt động ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia, đã và đang được thúc đẩy
hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra những
chình sách nhằm thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống ngân hàng
trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiền nhiều khủng
hoàng và hoàng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thể giới, gây
tổn thất rất lớn cho nên kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói các vụ sụp
đỗ ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển ngân hàng.
Các nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lý để quản
lý sự sụp đỗ và mở đường cho sự phát triển của khu vực ngân hàng.
1.1.1.2.Các hoạt động của ngân hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho dân chúng và
doanh nghiệp. Thành công cùa ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các
dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có
hiệu quả.
* Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua, bán) ngoại tệ: mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng
phí dịch vụ.
* Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và tài sản
khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân
hàng thương giữ hộ các tài sản chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan
trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật thuận tiện. Dịch vụ
này phát triển cùng với nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá
cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ…
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thành toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không
cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết phiếu chi trả cho khách,
khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh
toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí)
đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách
hàng. Khi ngân hàng mở chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được
mở rộng, cáng tạo nhiều lợi ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi
tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của
công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như sec, ủy nhiệm chi,
nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ…
* Quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và cá nhân. Nhờ đó ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và
tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời
và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
* Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là
bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một
chuyên gia tư vấn về tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản
lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chưng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho
phép khách hàng thõa mãn nọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính
khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp
cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác.
Trong một vài trường hợp các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc
công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
* Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay
gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh với
công ty bảo hiểm con, ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm
như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí…
* Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường là ngân hàng lớn)
cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ,
phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.1.2.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1.Tín dụng và sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.
Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho
vay và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian
nhất định. Hay nói một cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh
mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyên
sử dụng một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức
khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức
vay mượn và thu hồi.
Với lợi thế về du lịch Việt Nam đang ngày càng thu hút nhiều du khách
nước ngoài “trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới”, do vậy số lượng khách
du lịch đến Việt Nam sẽ tăng lên. Nếu biết tận dụng cơ hội này thì việc xây
dựng nên khách sạn không những đem lại lợi nhuận cho chính bản thân mà
còn đem lại sự phát triển cho nền kinh tế. Nhưng để xây dựng được khách sạn
đủ khả năng cạnh tranh thì cần có lượng vốn rất lớn mà nguồn vốn của chính
bản thân thì khó có thể đáp ứng. Trong khi đó có một số người khác có món
tiết kiệm tích lũy được trong nhiều năm, tạm gọi là lượng tiền nhàn rỗi. Nếu
hai bên gặp được nhau và bên đối tác sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế
hoạch sẽ trở thành hiện thực. Tuy nhiên, khả năng gặp mặt giữa hai bên có xảy
ra không? Trong nền kinh tế thị trường, hàng ngày hàng giờ không biết xảy ra
bao nhiêu mối quan hệ như vậy. Nó đã hình thánh nên: một bên là những
người có tiền tích lũy, có khả năng cung cấp và phía bên kia là những người có
nhu cầu vay cho đầu tư phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm như thế nào
để họ có thể tìm gặp được nhau và làm thế nào để cùng một lúc thõa mãn vốn
đa dạng và to lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn đang nằm phân tán trong
xã hội. Không phải bất kỳ ai cũng có khả năng hoặc đầu tư vay vốn trên thị
trường tài chính, ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòi hỏi chi phí
về tiền bạc và thời gian rất lớn. Do đó các ngân hàng thương mại với chức
năng cơ bản là trung gian tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa
khả năng cung ứng và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết
được những vấn đề nảy sinh trên. Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín
dụng ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền
cho vay và một bên là người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường
bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp dụng các phương pháp kĩ thuật
theo hướng hiện đại tiên tiến, ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những
nguồn vốn tiền tệ tiết kiệm dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng
lúc phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Chính nhờ có tín dụng
ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động,
biến những đồng tiền phân tán thành nguồn vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu
- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động,
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải
các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín
dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
- Thuê mua và các loại tín dụng khác.
* Phân loại theo cắn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín.
Đối vói những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không
đòi hỏi nguồn thu nợ bổ xung.
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với
điều kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối
với khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi
phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một
nguồn thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại
khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.
* Phân loại theo đối tượng tín dụng.
Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng lưu động: loại nào được cấp phát để hình thành vốn lưu động
của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hoá đối với xí nghiệp,
thương nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
Loại này được chia làm 2 loại:
+ Cho vay dự trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất.
+ Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ
phiếu, với thời hạn cho vay là ngắn hạn.
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài
sản cố định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến
trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc
thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này
người bán hàng chuyển giao hàng cho bên mua và sau một thời gian nhất định
theo thỏa thuận bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao
dịch của ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá
nhân thể hiện dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi
vay và sau một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay ( cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên
đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có
trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn
thanh toán.
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả và có đặc trưng sau:
+ Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong
những năm 1960 trở về trứơc hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay
bằng tiền. Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho
vay được coi là đồng nghĩa vơi nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ
cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đã được ngân hàng hoặc các định chế
tài chính cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân
hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực.
+ Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế
khi một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh
giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các đảm bảo, chính
quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
+ Giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
+ Quá hạn dưới 3-6 tháng.
+ Quá hạn từ 6 tháng đến 1 năm.
+ Quá hạn trên 1 năm.
- Tỷ lệ phần trăm nợ quá hạn theo tuổi.
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ: Cùng với tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ thu hồi nợ
quá hạn cho ta biết mức độ quản lý nội bộ đối với nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ thu
hồi nợ quá hạn nhỏ thì thực tế Ngân hàng có thể đang đứng trước một rủi ro
mất một lượng vốn lớn cho vay. Tỷ lệ này có thể xác định bằng công thức:
Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn đầu kỳ + Dư nợ quá hạn trong kỳ
Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấp nhận được là dưới 3%
* Các chỉ tiêu về sử dụng vốn
- Lượng dư nợ tích lũy đến thời điểm hết kỳ và cơ cấu dư nợ (ngắn,
trung và dài hạn)
- Tỷ lệ cho vay trên tổng vốn dư nợ
Tổng dư nợ đến kỳ hạn
Tỷ lệ cho vay =
Tổng lượng vốn huy động tích lũy
Tỷ lệ này cho biết khả năng ngân hàng tận dụng nguồn vốn huy động
trong hoạt động tín dụng.
- Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất và lãi suất cho vay bình quân. Chỉ
tiêu này cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. Nói
chung, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì
ngân hàng mới hoạt động và có lãi.
- Vòng quay vốn tín dụng trong năm
Dư nợ trong năm
Vòng quay vốn tín dụng trong năm =
Dư nợ bình quân năm
* Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín
dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng
thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người
sử dụng vốn vay. Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ
sở khoa học và thực tiễn.
* Thông tin tín dụng
Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết
định cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu
rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng. Thông tin tín dụng có thể thu thập
được từ nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng từ thông tin tín dụng, từ khách
hàng, từ đối thủ cạnh tranh hoặc nói cách khác từ nguồn trực tiếp hay gián tiếp,
từ các nguồn thông tin của cơ quan pháp luật
* Công tác tổ chức ngân hàng
Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà tác động
đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Một Ngân hàng có cơ cấu tổ chức đựơc sắp
xếp một cách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ
thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách
hàng sẽ được thực hiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có
hiệu qủa và an toàn các khoản tín dụng.
* Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh
doanh nói chung, còn nói đến hoạt động Ngân hàng thì nó lại càng quan trọng.
Vì cán bộ công nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng
đối với khách hàng. Hơn nữa nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển
đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao. Việc tuyển dụng nhân viên có đạo
đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai
phạm có thể xẩy ra để đem lại một khoản tín dụng có chất lượng.
* Công tác kiểm soát nội bộ