Giải pháp mở rộng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 31

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỉ XX, sự phát triển của kinh tế thị trường đã làm cho nền kinh tế
thế giới nói chung cũng như từng khu vực nói riêng biến đổi mạnh mẽ. Nhiều mô
hình kinh tế khác nhau đã được thử nghiệm và đưa lại những thành công đáng ghi
nhận. Thực tế ở các nước trên thế giới cho thấy đống góp to lớn trong những thành
công đó chính là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V).
Ở Việt Nam trước đây, loại hình doanh nghiệp này chưa được quan
tâm đầu tư đúng mức, nhưng trước nhu cầu phát triển của đất nước cũng như
quá trình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới thì vai trò của
DNN&V đã phát huy tác dụng. Việc phát triển các DNN&V khơi dậy ý chí
kinh doanh, giải phóng các lực lượng sản xuất, phát huy sức mạnh vật chất
và trí tuệ, tinh thần của nhân dân, huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, công nghệ, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, bổ trợ cho các doanh nghiệp lớn, cung cấp sản phẩm
dịch vụ cho thị trường và tạo phần lớn việc làm cho xã hội, đặc biệt là ở
vùng nông thôn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta
đã chủ trương tạo điều kiện cho DNN&V phát triển. Trong bài phát biểu tại
hội nghị với các doanh nghiệp ngày 9/2/2006 ở Hà nội, Thủ tướng Phan Văn
Khải đã nhấn mạnh: “Cần coi trọng và có chính sách ưu đãi hơn nữa đề
phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các làng nghề ở vùng nông
thôn, đây là vấn đề rất quan trọng vì nước ta đất ít, lao động nông thôn
thừa, đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa vào nông thôn sẽ góp phần giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, phát triển đô thị nhỏ, giảm bớt sự chênh
lệch về đời sống giữa nông thôn và thành thị. Đây cũng là giải pháp chủ
yếu tạo thu nhập và việc làm cho nông dân không còn đất trong quá
1
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
trình đô thị hoá, hạn chế tình trạng dân nông thôn đổ về thành thị, làm

Nam cho các doanh nghiệp này. Đồng thời, luận văn cũng đưa ra một số giải
pháp, kiến nghị nhằm phát triển tín dụng cho DNN&V tại Sở giao dịch.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các DNN&V và hoạt động tín
dụng cho các DNN&V của Sở giao dịch.
Phạm vi nghiên cứu là số liêu thu thập từ Sở giao dịch trong 3 năm:
2005, 2006 và 2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và giải thích thực tiễn như phương
pháp biện chứng duy vật, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân
tích hoạt đông kinh tế.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài lời mở đầu và phần kết luận; phần nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với sự
phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNN&V tại
Sở giao dịch NHNN&PTNTViệt Nam.
Chương III: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNN&V tại Sở giao
dịch NHNN&PTNTViệt Nam.
CHƯƠNG 1
3
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại (NHTM) là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh

nhằm ổn định kinh tế.
Về mặt cấu trúc, thị trường tài chính có hai kênh dẫn vốn là kênh trực
tiếp và kênh gián tiếp. Ở kênh trực tiếp, những người đi vay trực tiếp vay
vốn từ người cho vay bằng cách bán ra chứng khoán (hay còn gọi là các
công cụ tài chính. Khi kinh tế càng phát triển, việc tham gia vào tài chính
trực tiếp càng đòi hỏi nhiều tiêu chí hơn. Một người thợ mộc không thể bán
trái khoán trong một thị trường mở cho các công ty hoặc các cá nhân khác,
bởi không ai biết anh ta là ai.Vì thế những doanh nghiệp nhỏ, hay có nhu
cầu vốn ít sẽ tìm đến tài chính gián tiếp, tức là thông qua một trung gian làm
kênh dẫn vốn. Và ngược lại, những người có món tiết kiệm nhỏ cũng lo ngại
khi mua các chứng khoán bởi vì phải tốn kém thời gian và chi phí để tập hợp
thông tin cho việc chọn chứng khoán tốt nhất, mà chưa kể đến rủi ro rất lớn
của thị trường này, vì thế ngân hàng cũng là giải pháp tốt. Với vai trò là
trung gian tài chính, ngân hàng nhận tiền gửi nhàn rỗi của dân cư, các công
ty và các tổ chức kinh tế xã hội để đưa đến những nơi cần vốn – các doanh
nghiệp, dân cư và các tổ chức khác.
5
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Biểu đồ 1: Giản đồ thị trường tài chính.
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn của ngân hàng gồm vốn chủ sở hữu và vốn huy động. Vốn
chủ sở hữu đóng vai trò lá chắn phá sản và thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng nguồn vốn, trong khi nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn và là cơ
sở cho ngân hàng thực hiện các hoạt động tạo ra doanh thu.
Nguồn vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và
ngoại tệ), bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận chính: Vốn huy động từ
tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá; ngoài ra
nguồn vốn của NHTM còn từ vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và ngân

khác nhau). Việc áp dụng từng loại cho vay thuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế
của đối tượng sử dụng vốn tín dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả và phù
7
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín
dụng.
1.1.3.3 Nghiệp vụ trung gian khác của NHTM
NHTM hiện đại không chỉ tập trung vào cho vay mà còn cung cấp
nhiều loại dịch vụ đa dạng, có thể điểm ra một số loại hình dịch vụ sau:
- Thanh toán qua ngân hàng: gồm thanh toán quốc tế và thanh toán
qua biên giới.
- Mua bán ngoại tệ: khi giao thương ngày càng phát triển, các doanh
nghiệp có nhu cầu mua bán ngoại tệ để giao dịch
- Dịch vụ thẻ
- Dịch vụ tài khoản thanh toán
- Trả lương qua tài khoản
- SMS banking, Phone banking, Internet banking…
1.2 Những vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Khái niệm DNN&V đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu
nhưng việc xác định các tiêu thức phân loại vẫn chưa được thống nhất. Để
phân biệt DNN&V với doanh nghiệp lớn, người ta thường căn cứ vào các
tiêu thức như: Tổng vốn đầu tư, giá trị tài sản cố định, số lượng lao động
thường xuyên, giá trị bằng tiền của hàng hoá hay dịch vụ, lợi nhuận, vốn
bình quân cho một lao động. Tuỳ vào tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà các
tiêu thức để phân biệt được lựa chọn, tuy nhiên phổ biến là:
- Số lao động thường xuyên được sử dụng
- Tổng số vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam cũng dựa chủ yếu trên hai tiêu

9
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
1.2.2.1 Quy mô sản xuất nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt, song cơ
sở vật chất, kĩ thuật, thiết bị công nghệ thường yếu kém lạc hậu.
* Qui mô nhỏ và vừa có tính năng động, linh hoạt và tự do sáng tạo
trong sản xuất kinh doanh.
So với doanh nghiệp lớn, DNN&V năng động trước những thay đổi
liên tục của thị trường. Với quy mô và cơ sở vất chất hạ tầng đồ sộ, các
doanh nghiệp lớn thường khó thay đổi kịp thời theo sự chuyển biến nhu cầu
của thị trường. Ngược lại, DNN&V với cơ chế năng động có khả năng
chuyển hướng kinh doanh, thay đổi công nghệ và chuyển đổi mặt hàng
nhanh hơn.
Một lợi thế đáng kể nữa là DNN&V khi chuyển địa điểm sản xuất không
gặp nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn. Vì vậy DNN&V thường được xây
dựng gần các vùng nguyên liệu, tiếp cận được thị trường, có thể đáp ứng được cả
những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực, địa phương,… giúp DNN&V tiết kiệm
được tối đa những chi phí trong quá trình vận chuyển, bảo quản.
Quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm đa dạng, phong phú nên số lượng một
loại sản phẩm sản xuất ra thường không lớn, mặt khác, phần lớn các sản
phầm của DNN&V là những mặt hàng cần thiết, phục vụ đời sống, sinh hoạt
của xã hội nên có khi khủng hoảng kinh tế thì DNN&V bị tác động ít hơn so
với doanh nghiệp lớn và thường không gây thua thiệt quá lớn cho doanh
nghiệp.
*Tuy nhiên, do quy mô sản xuất nhỏ nên DNN&V khó có khả năng tiếp
cận với công nghệ hiện đại. Vì vậy cơ sở vật chất, kỹ thuật, thiết bị công nghệ
thường yếu kém, lạc hậu.
Do khả năng tài chính và trình độ hạn chế, thông thường các DNN&V
chỉ sử dụng các công nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp,
10

Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
nhỏ, hạn hẹp, không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có
chất lượng và hiệu quả, đặc biệt đối với các doanh nghiệp muốn mở rộng,
phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp chất lượng thiết bị công nghệ. Mặt
khác thị trường vốn dài hạn nước ta chưa phát triển, thị trường chứng khoán
tuy mới nổi nhưng hoạt động chưa ổn định; thêm vào đó, điều kiện hút vốn
từ thị trường chứng khoán đối với DNN&V là rất khó khăn và hiếm hoi.
Trong đó khả năng và điều kiện tiếp cận các nguồn vốn tín dụng khác đối
với các DNN&V cũng bị hạn chế do chưa có uy tín và chưa tạo lập được
khả năng trả nợ, thêm vào đó các doanh nghiệp thường không đáp ứng được
yêu cầu về tài sản thế chấp, về báo cáo tài chính cũng như kế hoạch sản
xuất, kinh doanh… nên các NHTM cũng như các tổ chức tài chính khác
thường e ngại khi đưa ra quyết định cho vay đối với khách hàng này.
1.2.2.3 DNN&V có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp, nhưng thường
là lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp.
Do hầu hết các DNN&V sử dụng thiết bị công nghệ đơn giản nên máy
móc chưa thay thế được con người và không đòi hỏi người lao động phải có
tay nghề cao. Mặt khác, ở một số ngành sản xuất kinh doanh như ngành thủ
công mỹ nghệ đòi hỏi phải có bàn tay trực tiếp của con người mà máy móc
không thay thế được. Vì vậy, các DNN&V góp phần không nhỏ giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt tại khu vực nông thôn và khu
vực đô thị hoá, vùng sâu, vùng xa, kinh tế chậm phát triển.
Tuy nhiên, lao động trong DNN&V chủ yếu là lao động phổ thông,
trình độ tay nghề, kỹ thuật thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động
có tính chất phổ thông, chưa qua đào tạo bình quân chiếm khoảng 60-70%.
Ở một số vùng nông thôn, số được đào tạo nghề chính quy chỉ chiếm khoảng
10%. Đó cũng là một trong những khó khăn khi DNN&V đưa dây truyền
công nghệ tiên tiến vào mở rộng sản xuất kinh doanh.
12

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
Nhìn lại đội ngũ các chủ DNN&V ở nước ta hiện nay cho thấy, họ có
nhiều bất cập với đòi hỏi kinh doanh trong thương trường hiện đại. Về trình
độ văn hoá: chủ doanh nghiệp có trình độ văn hoá trung học cơ sở khoảng
45-50%; trình độ cấp tiểu học 10-15%, thâm chí cá biệt có người chưa đọc
thông viết thạo; Số có trình độ văn hoá phổ thông trung học, cao đẳng và đại
học chiếm khoảng 30-35%. Về trình độ quản lý, chỉ có 2-3% chủ DNN&V
được đào tạo kiến thức quản lý doanh nghiệp chính quy, 20-30% được tập
huấn, đào tạo ngắn hạn (dưới 6tháng), còn đại bộ phận quản lý doanh nghiệp
của mình bằng kinh nghiệm.
Đây là điểm yếu cơ bản mà bản thân các chủ DNN&V rất khó khắc
phục nên rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ tích cực của Nhà nước, các hiệp hội
doanh nghiêp và các tổ chức phi chính phủ.
1.2.2.5. Khả năng cạnh tranh yếu
Khả năng cạnh tranh của các DNN&V yếu do hạn chế về vốn, quy mô,
trình độ lao động, công nghệ, phương thức quản lý, khả năng tiếp cận thông
tin và khả năng tiếp cận thị trường.
Vốn ít, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, công nhân lành nghề ít, trình
độ quản lý thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm… làm yếu năng lực cạnh tranh của DNN&V
Mặt khác, do còn mang nặng tư tưởng làm ăn tiểu nông, cá thể nên
các DNN&V chưa thấy hết được sự cần thiết của việc liên doanh, liên kết
các doanh nghiệp trong sản xuất, trong tìm kiếm thị trường, phân phối hàng
hoá… tạo ra sức mạnh tập thể trong cạnh tranh.
Với thực trạng này, các DNN&V đang và sẽ chịu nhiều thua thiệt
trong quá trình hội nhập. Thực tế thời gian qua cho thấy: DNN&V chưa xây
dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình, mẫu mã hàng hoá xuất khẩu
14
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân

chíem 38%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 15%. Hàng
năm, DNN&V chiếm tới 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển
hàng hoá, sản xuất ra 100% sản lượng của một số loại sản phẩm công nghiệp
Thứ nhất: DNN&V chiếm số lượng đông đảo và ngày càng gia tăng mạnh.
Ở hầu hết các nước, số lượng DNN&V chiếm khoảng trên dưới 90%
tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng số lượng các DNN&V cũng
nhanh hơn số lượng các doanh nghiệp lớn.
Ở nước ta hiện nay, theo số liệu thống kê, doanh nghiệp quy mô lớn
không nhiều, chỉ có 0,6% số doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở lên và
ngần 0,4% số doanh nghiệp có vốn từ 500tỷ đồng trở lên, những doanh
nghiệp này thường là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Trong khi đó doanh nghiệp có dưới 300 lao động chiếm 87,8%;
doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 95,6 %.
DNNN (phần lớn là doanh nghiệp lớn) tuy vẫn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng sản phẩm trong nước song qua nhiều năm sắp xếp lại đã giảm về
số lượng doanh nghiệp. Trong đó kinh tế tư nhân phát triển mạnh, đến cuối
năm 2007 đã có trên 250.000 doanh nghiệp (hầu hết là DNN&V) gấp 5 lần
năm 2000 và hơn 5 lần tổng số doanh nghiệp tư nhân được thành lập từ 1991
đến 1999 cộng lại.
Thứ hai: Sản phẩm hàng hoá của DNN&V phong phú, đa dạng đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng ngày càng cao của mọi tầng lớp dân cư.
DNN&V hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, trong mọi thành phần
kinh tế, sức lan toả của DNN&V vào các lĩnh vực của đời sống xã hội là rất
lớn. Do có quy mô nhỏ, DNN&V có thể hoạt động kinh doanh ở trong cả
các lĩnh vực mà các doanh nghiệp lớn không muốn tham gia hoạc không thể
vươn tới nên nó có khả năng thoả mãn mọi nhu cầu về sản phầm dịch vụ dù
là nhỏ nhất của mọi tầng lớp xã hội. Theo số liệu thống kê thì các DNN&V
16
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân

thời kỳ, các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực DNN&V lại thu
hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao đọng mới cao hơn doanh
nghiệp lớn.
Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung Ương, thì số lao động của các DNN&V trong các lĩnh vực phi nông
nghiệp hiện có khoảng 7,8 triệu người, chiếm tới 79,2% tổng số lao động phi
nông nghiệp và chiếm khoảng 26% lực lượng lao động của cả nước. Đặc
biệt trong quá trình đô thị hoá hiện nay thì DNN&V thực sự là một giải pháp
hữu hiệu, chủ yếu tạo thu nhập và việc làm cho số lao động nông thôn không
còn đất sản xuất, hạn chế tình trạng dân nông thôn đổ về thành thị, làm phát
sinh các vấn đề xã hội phức tạp. Mặt khác đây cũng chính là khu vực thu hút
lao động là sinh viên mới ra trường và điều này đã góp phần giải quyết một
trong những bức xúc của chúng ta hiện nay.
Thứ năm : DNN&V góp phần làm nền kinh tế năng động và hoạt động hiệu
quả hơn.
Do yêu cầu vốn ít, quy mô nhỏ, DNN&V có khả năng thay đổi mặt
hàng, chuyển hướng sản xuất cho phù hợp với sự thay đổi của thị trường.
Đồng thời với sự gia tăng các DNN&V là sự gia tăng số lượng và chủng loại
hàng hoá, dịch vụ, làm cho nền kinh tế năng động hơn.
Mặt khác, trong nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp lớn không thể
vươn tay đến mọi khâu trong quá trình sản xuất. Sự phát triển của chuyên
môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phép doanh nghiệp lớn khép kín chu
kì sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả. Do đó với vai trò vệ tinh của
mình, các DNN&V cũng sẽ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp lớn từ cung ứng đầu vào, gia công chế biến đến tổ chức
tiêu thụ hàng hoá thông qua các cửa hàng bán buôn, bán lẻ. Với lợi thế sẵn
có, DNN&V đã thực hiện vai trò trung gian trong lưu thông hàng hoá rất tốt,
18
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân

đã từng bị mai một theo thời gian, đặc biết là đối với nghề thủ công mỹ nghệ
như: trạm khắc gỗ, mây tre đan, giốm sứ mỹ nghệ, dệt may, cói xuất khẩu…
Mặt khác, đối với một nước nông nghiệp chưa có nhiều vùng chuyên canh
như nước ta thì việc phát triển ngành Công nghiệp chế biên sản phẩm nông,
lâm, thuỷ hải sản là hết sức cần thiết và mô hình DNN&V là lựa chọn đúng
đắn, có hiệu quả.
Thứ bảy: DNN&V có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thức hiện đô thị hoá phi tâm trung và phương châm “ly nông bất ly
hương”.
DNN&V đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
nông thôn, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các
ngành thương mại - dịch vụ phát triển. Sự phát triển của các DNN&V ở
thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ làm
thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
Các DNN&V còn đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và đa
dạng hoá cơ cấu công nghiệp.
Sự phát triển của các DNN&V ở nông thôn sẽ thu hút những người
lao đọng thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút số lượng lớn lao động
thời vụ trong kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Rút dần lực
lượng lao động làm nông nghiệp chuyển sang làm công nghiệp, dịch vụ
nhưng vẫn sống ngay tại quê hương bản quán, không phải di chuyển đi xa,
thực hiện được phương châm “ly nông bất ly hương”. Đồng hành với nó là
xu hướng hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiệp và
dịch vụ nhỏ ngay ở nông thôn, tiến dần lên hình thành những khu thị tứ, thị
trấn, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê.
20
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
1.3 Tín dụng NHTM với DNN&V
1.3.1 Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng

Có nhiều cách phân loại tín dụng, chẳng hạn như: theo thời hạn tín
dung (Tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) theo đối tượng tín dung (Tín
dụng vốn lưu động, vốn cố định) Theo mục đích sử dụng vốn (tín dụng sản
xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng tiêu dùng)
Trên thực tế người ta thường dựa vào tính chất và đặc điểm của
nghiệp vụ cho vay để phân loại tín dụng.
- Tín dụng vãng lai: là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa ngân
hàng và khách hàng, bằng nội tệ hay ngoại tệ với các nội dung được thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Tín dụng chiết khấu: Trong các nước có nền kinh tế thị trường, kỳ
phiếu thương mại được phát hành và lưu thông theo quy định của luật pháp.
Người có kỳ phiếu chưa đến hạn thanh toán, nếu cần tiền có thể bán cho
NHTM. NHTM mua kỳ phiếu thương mại với giá bằng hiệu số giữa mệnh
giá ghi trên kỳ phiếu trừ đi lãi suất, hoa hồng và các khoản chi phí khác.
- Tín dụng cầm đồ: Tín dụng cầm đồ là loại cho vay có thế chấp bằng
bất động sản hoặc bằng động sản. Tài sản cầm đồ có thể phải đem đến ngân
hàng cất giữ, trường hợp đặc biệt có thể để ở kho chuyên dụng hoặc giao
cho người vay giữ. Tài sản cầm dồ được đánh giá không phải bằng đúng giá
trị của nó mà thường được đánh giá thấp hơn để khi rủi ro có thể bán được
ngay đủ bằng số nợ gốc và lãi, và NHTM thường cũng chỉ cho vay một
khoản tương ứng với tỷ lệ phần trăm giá trị của tài sản cầm đồ. Các tài sản
dùng để cầm đồ rất đa dạng, có thể là: chứng khoán ngắn hạn và chứng
khoán dài hạn, hàng hoá, kim loại quý, sổ tiết kiệm, quyền sử dụng đất…
22
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
- Tín dụng trả nhiều lần: Tín dụng trả nhiều lần là loại cho vay mà
điều kiện trả nợ được phân ra nhiều thời hạn, mỗi thời hạn trả một phần.
- Tín dụng bảo lãnh: là loại cho vay phát sinh do ngân hàng nhận
thanh toán cho người bán hàng trong trường hợp người mua (người được

Đầu tư mở rộng sản xuất theo chiều rộng và sâu là yêu cầu khách
quan đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nói
chung và các DNN&V nó riêng nếu chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu và sự
tích luỹ trong nội bộ từng doanh nghiệp thì sẽ tốn nhiều thời gian, không thể
đáp ứng được nhu cần sản xuất kinh doanh. Vì vậy các doanh nghiệp đều
phải tìm kiếm nguồn tài trợ khác.
Trên lý thuyết có 3 phương pháp chủ yếu để tìm nguồn tài trợ cho
doanh nghiệp đó là: tăng nguồn vốn chủ sở hữu, vay có kỳ hạn và thuê (thuê
mua). Sau đây sẽ phân tích kĩ điểm mạnh và điểm yếu của ba phương thức
tài trợ này, từ đó có thể thấy vai trò quan trọng của ngân hàng trong hỗ trợ
vốn cho DNN&V.
Tăng vốn chủ sở hữu là biện pháp an toàn nhất và ít tốn kém chi phí
vốn nhất bởi có thể huy động từ các cổ đông hiện hữu, hoặc huy động trên
thị trường chứng khoán, số vốn này không gây ra chi phí vốn cho doanh
nghiệp (trừ chi phí để huy động ban đầu). Tuy nhiên, biện pháp này thường
không áp dụng được với các DNN&V vì thực tế người chủ doanh nghiệp
hoặc các cổ đông chỉ có lượng tài chính hạn chế, họ không có khả năng bỏ ra
nhiều vốn hơn số vốn họ đã đóng góp vào doanh nghiệp. Tìm kiếm vốn trên
thị trường chứng khoán với các DNN&V lại càng là điều không tưởng bởi
quy mô hạn hẹp, uy tín chưa có và trình độ hạn chế. Vì vậy DNN&V vốn
không có nhiều lựa chọn, thường tìm đến ngân hàng, trung gian tài chính
24
Phạm Thị Thu Hằng – TC 46C
Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế quốc dân
này có thể cung cấp vốn nhanh nhất (sau khi doanh nghiệp đã thoả mãn một
điều kiện).
Ở các nước công nghiệp phát triển, thuê mua là một biện pháp đơn
giản và thuận lợi, thay thế cho tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt là cho các
DNN&V thường gặp nhiều khó khăn khi vay vốn trung và dài hạn của ngân
hàng. Nó có tác dụng thay thế các khoản vay có bảo đảm và giảm rủi ro cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status