Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển kinh tế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở
nước ta ngày càng được mở rộng về quy mô và số luợng. Từ khi Luật Doanh
nghiệp ra đời, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQ) đã phát triển rất
nhanh, nhất là các đô thị, các thành phố lớn. Trên địa bàn thành phố Hà Nội
nếu như năm 2001 mới có 2.818 doanh nghiệp, thì đến tháng 5 năm 2005 đã
có 25.479 doanh nghiệp. Như vậy sau hơn 3 năm đã có hơn 22 ngàn DNNQD
ra đời. Bình quân mỗi năm có trên 7.000 doanh nghiệp được thành lập.
DNNQD phát triển đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và đang trở thành lực lượng kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, hiện
nay phần lớn các DNNQD vẫn còn gặp một số khó khăn trong hoạt động nhất
là việc thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính,… việc tạo điều kiện vay
vốn và mở rộng các quan tín dụng đối với các DNNQD là rất cần thiết giúp
các DN này có thể phát triển góp phần làm tăng trưởng kinh tế nước nhà.
Vì vậy em chọn đề tài nghiên cứu về “Mở rộng Tín dụng đối với các
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt
Nam Chi nhánh Hoàn Kiếm”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt
Nam chi nhánh Hoàn Kiếm.
Mục tiêu: đưa ra các giải pháp để mở rộng tín dụng đối với các
DNNQD.
Kết cấu chuyên đề gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tín dụng đối với các DNNQD của
NHTM
Chương 2:Thực trạng hoạt động TD đối với các DNNQD tại Ngân
hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hoàn Kiếm.
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với các DNNQD tại Ngân
hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Hoàn Kiếm.
cho vay nặng lãi. Hoạt động của chúng mang tính chất gần giống như các
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tiệm cầm đồ ngày nay. Các hoạt động này xuất phát từ việc hầu như mỗi quốc
gia đều có đồng tiền riêng. Quá trình giao lưu, buôn bán giữa các vùng, các
lãnh thổ với nhau đã tạo ra thu nhập cho những người làm nghề đổi tiền, đúc
tiền. Thu nhập đó có được từ chênh lệch giá mua và giá bán giữa các loại tiền.
Hoạt động cất giữ hộ, cho vay nặng lãi và thanh toán hộ cũng được những
người đổi tiền thực hiện. Việc có thể sử dụng tạm thời một phần số tiền của
khách để cho vay đã làm xuất hiện việc thu hút tiền gửi bằng cách trả lãi cho
người gửi tiền.
Trong vòng từ thế kỷ thứ V cho đến thế kỷ X nhiều hoạt động mới
được áp dụng đã đem lại bước phát triển mới cho ngân hàng so với giai đoạn
sơ khai trước kia: chiết khấu thương phiếu, ghi chép và theo dõi khách hàng
qua số hiệu tài khoản…
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, từ chỗ là ngân hàng
của các thợ vàng, người cho vay ngân hàng sơ khai đã trở thành ngân hàng
thương mại với chức năng chủ yếu là cho vay ngắn hạn rồi tiếp đó mở rộng
cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản, cho vay tiêu
dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê…Các hình thức huy động ngày càng
phong phú và đa dạng. Ngân hàng đã giúp các luồng tiền di chuyển một cách
có hiệu quả đồng thời bằng danh mục các sản phẩm, dịch vụ của mình Ngân
hàng cũng ngày một đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của cả người cần tiền lẫn
người có tiền, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, việc kinh
doanh dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của các ngân hàng. Các công ty
bảo hiểm, hiệp hội tiết kiệm cho vay, các tổ chức tín dụng tiêu dùng, các quỹ
tín dụng, các hợp tác xã tín dụng cũng tham gia vào các loại hình dịch vụ như
nhận gửi tiền, cho vay thu lãi. Tuy nhiên, trong bất cứ nền kinh tế nào trên thế
giới thì ngân hàng thương mại vẫn là tổ chức lớn nhất, quan trọng nhất trong
lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.
nhu
cầu
về
vốn. Thông
qua
việc
huy
động
các
khoản
vốn
tiền
tệ
tạm
thời
nhàn
cung
cấp
tín
dụng
cho
nền
kinh
tế.
Với
chức
năng
này,
ngân
hàng
thương
mại
chức
năng
trung
gian
tài chính
,
ngân
hàng
thương
mại
đã
góp
phần
tạo
lợi
ích
thời
thúc
đẩy
sự phát
triển
của
nền
kinh
tế.
Đối
với
người
gửi
tiền,
họ
gửi
mà
ngân
hàng
trả
cho
họ.
Hơn
nữa,
ngân
hàng
còn
đảm bảo
cho
họ
Đối
với
người
đi
vay,
họ
sẽ
thoả
mãn
được
nhu
cầu
vốn
để
kinh
doanh,
việc
tìm
kiếm nơi
cung
ứng
vốn
tiện
lợi,
chắc
chắn
và
hợp
pháp.
Đối
với
lệch
giữa
lãi
suất
cho
vay
và
lãi
suất
tiền
gửi
hoặc
hoa
hồng
môi
thương
mại.
Đối
với
nền
kinh
tế,
chức
năng
này
có
vai
trò
quan
trọng
đảm
bảo
quá
trình
tái
sản
xuất
được thực
hiện
liên
tục
và
để
mở
rộng
quy
không
hoạt
động
thành
vốn
hoạt
động,
kích
thích quá
trình
luân
chuyển
vốn,
thúc
đẩy
sản
nhất
của
ngân
hàng thương
mại
vì
nó
phản
ánh
bản
chất
của
ngân
hàng
thương
mại
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ngân
hàng.
Đồng
thời
nó
cũng
là
cơ
sở
để
thực hiện
các
chức
năng
theo
yêu cầu
của
khách
hàng
như
trích
tiền
từ
tài
khoản
tiền
gửi
của
họ
hàng
tiền
thu
bán
hàng
và
các khoản
thu
khác
theo
lệnh
của
họ.
Ở
đây
nhân
bởi
ngân
hàng
là
người
giữ
tài
khoản
của
họ. Ngân
hàng
thương
mại
thực
dụng.
Bởi
vì
thông
qua
việc
nhận
tiền
gửi,
ngân
hàng
đã
mở
cho khách
hàng
để
khách
hàng
thực
hiện
thanh
toán
qua
ngân
hàng,
đặt
ngân
hàng
vào
vị
các
chủ
thể
kinh
tế
có nhiều
hạn
chế
như
rủi
ro
do
phải
vận
chuyển
nhau,
điều
này
đã
tạo
nên
nhu
cầu
khách
hàng
thực
hiện
thanh toán
qua
ngân
hàng.Việc
rất to
lớn
đối
với
toàn
bộ
nền
kinh
tế.
Với
chức
năng
này,
các
ngân
uỷ
nhiệm
chi,
uỷ nhiệm
thu,
thẻ
rút
tiền,
thẻ
thanh
toán,
thẻ
tín
dụng...
Tuỳ
đó
mà
các
chủ
thể
kinh
tế không
phải
giữ
tiền
trong
túi,
mang
theo
tiền
có
thể
sử
dụng
một
phương
thức
nào
đó
để
thực
hiện
các
khoản
thanh
toán.
gian,
lại
đảm bảo được thanh toán an toàn.
Như
vậy,
chức
năng
này
thúc
đẩy
lưu
thông
hàng
hoá,
đẩy nhanh
tế.
Đồngthời,
việc
thanh
toán
không
dùng
tiền
mặt
qua
ngân
hàng
đã
giảm
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
được
như
chi
phí
in
ấn,
đếm
nhận, bảo
quản
tiền...
Đối
với
ngân
hàng
thương
mại,
chức
phí
thanh
toán.
Thêm
nữa,
nó
lại
làm
tăng
nguồn
vốn
cho
vay của
ngân
hàng
thể
cũng
chính
là
cơ
sở
hình
thành
chức
năng
tạo
tiền
của
ngân
hàng
thương
mại.
phát
hành
và các
ngân
hàng
trung
gian
thì
ngân
hàng
trung
gian
không
còn
thực
và
trung
gian thanh
toán,
ngân
hàng
thương
mại
có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên
tài khoản
tiền gửi
thanh
toán
của
khách
hàng
tại
đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự
tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể được thực hiện do bất cứ ai, chẳng hạn
hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian chúng ta
thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay khi nói tới tín dụng người ta
thường nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này luôn làm những việc
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác…Mặt khác, trong một nền kinh tế
đã phát triển với thu nhập của những người làm công ăn lương gần tương
đương nhau và một hệ thống ngân hàng thế giới hiện đại thì mọi người chỉ có
vay mượn ngân hàng, hầu như không vay mượn lẫn nhau.
Hoạt động tín dụng có tầm quan trọng bậc nhất trong ngân hàng đặc
biệt là ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị trường như ở nước ta.
Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng
tài sản có, thu nhập do tín dụng đem lại chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng thu
nhập cho ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có thể coi như một doanh nghiệp kinh doanh
tiền tệ với hoạt động chủ yếu là việc đi vay để cho vay. Hoạt động này của
ngân hàng thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sử dụng
vốn đó. Khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan hệ tín dụng ngân
hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền
sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới hình thức hàng
hoá hay tiền tệ cho người vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, sau khi
khai thác giá trị khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
toàn bộ giá trị khoản vay và thêm khoản lợi tức trả cho việc được sử dụng
khoản vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trị vốn tín dụng được chuyển từ người cho
vay sang người đi vay còn trong quan hệ mua bán hàng hoá giá trị hàng hoá
thay đổi hình thái vật chất nghĩa là hàng hoá vẫn giữ nguyên giá trị chỉ thay
bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Các ngân hàng thương mại hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín
dụng từ cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn .. đến bảo lãnh, cho thuê tài chính,
phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng. Có thể phân loại tín dụng theo
nhiều tiêu thức khác nhau như sau:
1.1.2.1 Phân chia theo thời hạn cho vay:
• Cho vay ngắn hạn: Là việc cho vay với thời hạn dưới một năm
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà
nước, doanh nghiệp, cá nhân ,hộ gia đình.
• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến
hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp,
chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy
bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp mới thành lập.
• Cho vay dài hạn: Thời hạn vay trên 5 năm và tối đa có thể lên đến
20-30 năm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên đến 40 năm.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu
cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn,
xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn
hạn, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây, các ngân hàng thương mại đã chuyển
sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao
sản đảm bảo thậm chí không có tài sản đảm bảo. Ở Việt Nam, trong những
năm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các doanh nghiệp
nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trở
xuống. Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-
CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghị định này việc cho
vay không có bảo đảm được mở rộng hơn so với trước cho phép các tổ chức tín
dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có đảm bảo khi cho vay
ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tuy nhiên, khách hàng
vay không đảm bảo phải hội đủ một số điều kiện cơ bản sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi
phù hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo
đảm bằng tài sản
- Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảm
bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định.
1.1.2.3. Phân chia theo hình thức tài trợ
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Theo hình thức tài trợ tín dụng đựơc chia thành: chiết khấu thương
phiếu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu: là việc NH ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu 1 thương phiếu chưa đến hạn. Đây là nghiệp vụ đơn giản nhất dựa
chuyển vốn nhanh hơn. Ở các nước có trình độ phát triển cao, các ngân hàng
thương mại có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành cả một hệ thống hoạt
động hiệu quả.
• Cho vay liên quan đến bất động sản:
Việc cho vay đầu tư bất động sản đã có thời gian đem lại lợi nhuận rất
lớn cho ngân hàng ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan..Khi giá nhà, giá
đất rơi vào trạng thái đóng băng thì với các hoạt động tín dụng liên quan đến
bất động sản ngân hàng phải tăng cường sự giám sát, có sự điều chỉnh phù
hợp mức cho vay, định giá.. để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Ngoài các dịch vụ căn bản trên, hoạt động tín dụng của ngân hàng còn
có một số dịch vụ như:
Bảo lãnh
Đây là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ với bên thứ ba. Bảo lãnh phát triển nhờ uy tín của ngân hàng
ngày được nâng cao. Bảo lãnh thường được áp dụng trong lĩnh vực xây lắp.
Có nhiều loại bảo lãnh : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo
lãnh bảo hành, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán….Hoạt động bảo
lãnh sẽ giúp ngân hàng thu được phí bảo lãnh. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và
tuỷ vào chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ quy định khách hàng có
phải có bảo đảm cho khoản bảo lãnh hay không, khách hàng có thể được bảo
lãnh mà không cần tài sản bảo đảm hoặc phải có tài sản bảo đảm theo quy
định hoặc có thể sẽ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định đối với giá trị của khoản
bảo lãnh, có thể là 10%, 80% hay 100% số tiền bảo lãnh.
Cho thuê
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản đẻ cho khách hàng thuê
theo những thảo thuận nhất định.
Với các thiết bị, phương tiện có giá trị lớn, các doanh nghiệp không
Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu, DNNQD ngày
càng giữ vai trò hết sức quan trọng và trở thành một thành phần không thể
thiếu được đối với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế thị trường. Vai trò
của DNNQD được khẳng định qua các khía cạnh:
Nâng cao tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Thông qua cạnh
tranh, các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất vì giảm chi phí
sản xuất đồng nghĩa với giảm giá thành, đồng thời cũng thúc đẩy các doanh
nghiệp nhanh chóng đổi mới thiết bị, công nghệ. Cạnh tranh không những
giúp các doanh nghiệp đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu về tiêu dùng cho sản
xuất hay tiêu dùng cho cá nhân trong xã hội, mà thông qua đó nó còn giúp
đào thải và bình tuyển tự nhiên các doanh nghiệp, doanh nghiệp nào làm ăn
không có hiệu quả sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi thị trường, trên thị trường
chỉ tồn tại các doanh nghiệp có hiệu quả thực sự.
Góp phần làm tăng thu nhập quốc dân: Hoạt động sản xuất, kinh doanh
của các DNNQD đã góp phần làm gia tăng hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế, thông qua đó làm tăng đáng kể thu nhập quốc dân trong nước.
Tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước: Nguồn thu chủ yếu của
Ngân sách Nhà nước là thuế. Thuế do các tổ chức, các cá nhân trong quốc gia
thực hiện nghĩa vụ của mình. Phần lớn thuế thu được là do đóng góp của các
tổ chức kinh tế trong đó có các DNNQD. Về mặt pháp luật các DNNQD cũng
như các doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ như nhau trong việc nộp thuế.
Các loại thuế phổ biến mà các doanh nghiệp này thường phải đóng là thuế
VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập
khẩu.
Góp phần tạo việc làm, giảm thất nghiệp: Việc làm hay một tỷ lệ thất
nghiệp cao là một vấn đề xã hội nan giải với bất cứ quốc gia nào. Với dân số
trên 85 triệu người như nước ta hiện nay, hàng năm sẽ có trên 1,5 triệu người
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bước vào độ tuổi lao động. Giải quyết một số lượng việc làm như vậy mỗi
doanh sẽ giúp ngân hàng ngày càng năng động và hoàn thiện hơn trong hoạt
động của mình và giữ vững vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế đặc biệt
trong giai đoạn đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng như
hiện nay.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong tương lai khu vực kinh tế NQD sẽ chiếm một vị trí quan trọng
trong nền kinh tế vì vậy nó sẽ là một thị trường đầy triển vọng của ngành
ngân hàng, do vậy việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực này sẽ là
một chiến lược phát triển của ngân hàng.
1.2.1.2 Những ưu thế và khó khăn của DNNQD
DNNQD có những ưu thế nổi bật sau:
Mục tiêu của các DNNQD là lợi nhuận. Do các DNNQD có tính tư hữu
cao nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn liền với
quyền lợi, lợi ích cá nhân của người sản xuất cũng như chủ doanh nghiệp.
Chính vì vậy mà các DNNQD luôn luôn tập trung, tận dụng tối đa những gì
họ có để đạt được lợi nhuận cao nhất có thể.
Các DNNQD có số vốn đầu tư ban đầu ít, nhưng hiệu quả sử dụng vốn
cao, thường đầu tư vào các ngành nghề nhanh thu hồi vốn nên khả năng thu hồi
vốn nhanh. Cũng chính vì ưu thế quy mô nhỏ mà các DNNQD có thể dễ dàng
thích ứng đối với sự thay đổi của thị trường, cơ chế chính sách của nhà nước.
Các DNNQD thường có bộ máy quản lý, tổ chức, kinh doanh gọn nhẹ.
Vì vậy mà các quyết định quản lý được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra,
điều hành trực tiếp. Điều này góp phần đáng kể trong việc giảm chi phí quản
lý doanh nghiệp .
Các DNNQD có tính linh động cao, có khả năng chuyển hướng kinh
doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh và dễ dàng nhanh chóng tiếp thu
được những tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới giúp họ có thể nhanh chóng “đi
tắt”, “đón đầu”.
DNNQD tận dụng triệt để được lợi thế về nguồn lao động dồi dào, cách
đầy đủ các quy định của pháp luật về an toàn lao động và đóng bảo hiểm xã
hội đối với người lao động của mình .Như vậy, DNNQD tuy có nhiều ưu thế,
song cũng bộc lộ không ít các hạn chế của mình. Các hạn chế trên mới chỉ là
những hạn chế của bản thân các doanh nghiệp. Mặt khác những doanh nghiệp
này đang phải hoạt động trong một môi trường kinh tế mà trong đó còn có
nhiều cản trở như sự bất bình đẳng về chế độ chính sách giữa doanh nghiệp
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
quốc doanh và DNNQD, hay các cản trở gây khó khăn trong quá trình tìm
kiếm nguồn vốn tài trợ. Do đó mà DNNQD cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
về nhiều mặt như cơ chế chính sách, thuế, công nghệ, và đặc biệt là vốn. Có
thể thấy với đặc điểm về quy mô vốn, trình độ Ban lãnh đạo, thiết bị công
nghệ việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài của các DNNQD là rất khó.
Việc tự thu hút vốn thông qua phát hành cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp
là vô cùng khó khăn, vì cần phải đáp ứng các điều kiện gắt gao về quy mô
vốn, trình độ quản lý của Ban lãnh đạo v..v. Do đó nguồn vốn chính mà các
DNNQD luôn mong mỏi có được chính là nguồn vốn vay từ ngân hàng.
1.2.2 Hoạt động tín dụng đối với các DNNQD
1.2.2.1 Các hình thức tín dụng đối với các DNNQD
Cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Các hình thức cho vay: Cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho
vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp.
• Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép
một số DN được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến
một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này này
được gọi là hạn mức thấu chi. Cho vay thấu chi nhìn chung chỉ áp dụng đối
với các doanh nghiệp có quan hệ lâu dài với ngân hàng và có độ tin cậy cao,
ra đảm bảo cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh
cho một thành viên vay. Cho vay gián tiếp được áp dụng đối với thị trường có
nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Tuy nhiên, hình
thức này cũng bộc lộ khiếm khuyết như nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế
của mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên
khác cho riêng mình, …
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nhận nợ).
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng dựa trên cơ sở trao
đổi trái quyền: Ngân hàng bỏ tiền ra trong hiện tại để thu về một khoản lớn
hơn trong tương lai với lãi suất xác định (lãi suất chiết khấu), nhưng thực chất
ngân hàng đã thay người mua trả tiền trước cho người bán, như vậy người bán
sớm có tiền để tiếp tục sản xuất kinh doanh, quay vòng vốn nhanh chóng hơn.
Bảo lãnh
Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc
thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi
khách hàng của ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết.
Bảo lãnh được coi là một hình thức tín dụng thông qua chữ ký, tuy
ngân hàng không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã dùng uy tín của mình
để thu lợi (phí bảo lãnh).
Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách
hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Cho thuê tài chính thường là hình thức tín dụng trung - dài hạn. Ngân
hàng mua tài sản và cho khách hàng thuê với thời gian sao cho ngân hàng
đầu ra), phương án sản xuất kinh doanh, và các hồ sơ khác có liên quan.
• Hồ sơ bảo đảm tín dụng: Gồm các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu,
sử dụng, giá trị của tài sản hay hợp đồng, văn bản bảo lãnh của bên thứ ba.
b. Phân tích tín dụng
Mục tiêu chính của việc phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý
chí trả nợ của khách hàng. Đây cũng là khâu quan trọng nhất để hạn chế tối đa
rủi ro đối với một khoản tín dụng.
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nội dung của việc phân tích tín dụng tập trung vào 5 yếu tố: uy tín, tư
cách của khách hàng, quyền sở hữu về tài sản, khả năng tạo lợi nhuận, và một
số điều kiện khác có ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng.
Cụ thể việc phân tích tín dụng phải trải qua các bước sau:
Bước 1: Thu thập thông tin
Cán bộ tín dụng cần phải thu thập các thông tin về DNNQD xin cấp tín
dụng. Nguồn thông tin có thể do chính DNNQD đó cung cấp, hay do cán bộ
tín dụng thu thập được trực tiếp thông qua thăm, xem xét tình hình thực tế của
doanh nghiệp, hoặc có thể lấy thông tin từ các bên thứ ba (các chủ nợ cũ,
thông tin của phòng Kế hoạch - Đầu tư nơi DNNQD đăng ký kinh doanh).
Bước 2: Xử lý thông tin
Sau khi có được đầy đủ các thông tin, cán bộ tín dụng tiến hành phân
tích các thông tin đó theo các khía cạnh sau:
• Đánh giá về tài sản của DNNQD: bao gồm đánh giá về ngân quỹ
(tiền mặt, tiền gửi, các khoản phải thu có khả năng chuyển đổi thành tiền); các
chứng khoán có giá, hàng hóa trong kho, tài sản cố định...
• Đánh giá các khoản nợ: Ngân hàng quan tâm đến tất cả các chủ nợ
của khách hàng (ngân hàng, người cung cấp, người lao động, các khoản nợ
cũ), các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác.
• Phân tích luồng tiền: Các luồng tiền vào và luồng tiền ra thực tế là một
chỉ tiêu rất quan trọng trong việc dự đoán các vấn đề tín dụng trong tương lai.
+ Các điều kiện thanh toán.
Và một số điều kiện khác.
d. Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi đã ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm
cấp tiền (hoặc thanh toán tiền hàng) cho khách hàng như đã thoả thuận. Kèm
theo ngân hàng phải kiểm soát khách hàng trong quá trình cho vay.
e. Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
Theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng thông qua hợp đồng tín
dụng, sổ sách kế toán, chứng từ kế toán...để có thông báo trả nợ cho khách
25