PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO BA CHẼ
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒN ĐẠC
&!
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN VIẾT CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4
QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Người thực hiện: Hoàng Thị Dần
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đồn Đạc
Năm học 2013 - 2014
Trang 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Để đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường XHCN nói chung và
các trường Tiểu học nói riêng là đào tạo những con người phát triển toàn diện.
Bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, nó là nền móng đầu tiên cho sự phát
triển toàn diện ấy. Do vậy nền tri thức và nhân cách con người được vững chắc
hay không chính là nhờ vào sự kiên cố của nền móng đó.
Về mặt tâm lý ở cấp bậc Tiểu học này, trẻ bắt đầu tiếp xúc với việc học
tập. Hoạt động của chúng được chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học
tập. Tâm hồn trong trắng của các em bắt đầu tiếp xúc với công việc mới mẻ và
có thể nói cấp Tiểu học sẽ viết những nét đầu tiên trên nền nhân cách trẻ.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Tiếng việt giữ một trong những vị trí
quan trọng nhất. Với nhiệm vụ là trang bị cho học sinh những tri thức về hệ
thống Tiếng việt trong hoạt động tư duy và giao tiếp. Để học sinh có được điều
đó trước hết phải giúp học sinh biết cách sắp xếp các từ ngữ thành câu văn hoàn
chỉnh. Đó là công việc giúp học sinh viết được câu văn đúng về ngữ pháp hay
đúng về mặt nội dung là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết trong việc dạy
Tiếng việt. Đối với Tiếng việt, câu chính là tế bào đầu tiên giúp các em đạt hiệu
quả cao trong quá trình tư duy và giao tiếp, hay nói cách khác quá trình tư duy và
giao tiếp của con người chỉ đầy đủ và trọn vẹn đạt hiệu quả cao khi được cung
cấp ngữ pháp đầy đủ về câu.
Tóm lại, việc viết đúng các câu văn là yếu tố quan trọng hình thành cho
học sinh cách trình bày bài tốt một văn bản, giúp học sinh có khả năng lĩnh hội
tri thức, phát triển tư duy và giao lưu hàng ngày, bạo dạn trước tập thể, giúp
nhân cách học sinh phát triển toàn diện.
Chính vì vậy, việc "Rèn viết câu cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện
từ và câu" là vấn đề cần thiết không thể thiếu được đối với người giáo viên có
tâm huyết với nghề.
II. Mục đích nghiên cứu
"Rèn viết câu cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu" nhằm đạt
được những mục đích sau:
Giúp học sinh lớp 4 thấy được nguyên nhân dẫn đến câu sai, từ đó giúp
các em sửa chữa để có những câu văn đúng, hay, giàu hình ảnh, hướng các em
biết vận dụng phần kiến thức phân môn luyện từ và câu vào việc đặt câu.
Giúp học sinh biết cách trình bày một vấn đề trọn vẹn về ý, khả năng diễn
đặt mạch lạc, lưu loát trước tập thể đối với những môn học khác.
Bên cạnh đó giúp các em thực hiện được yêu cầu nhiệm vụ của bộ môn, là
công cụ để tạo đà cho học sinh nhận thức tốt các môn học khác cũng như quá
trình tư duy và giao tiếp hàng ngày.
Đáp ứng được mục tiêu của giáo dục Tiểu học là giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ và kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam XHCN, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.
Đây là cơ sở để giáo dục lòng yêu quý tôn trọng Tiếng việt trong các em,
có ý thức giữ gìn mở rộng sự phong phú trong sáng của Tiếng việt, ngôn ngữ mẹ
đẻ của dân tộc.
Ngoài ra việc nghiên cứu này còn giúp tôi về việc bồi dưỡng tay nghề,
củng cố thêm vốn tri thức, hành trang sư phạm cho bản thân để vững bước trên
con đường sự nghiệp.
Trang 3
người viết) muốn nói về cái gì, hiểu được thái độ tình cảm của người nói ra sao.
Từ đó, câu là đơn vị có chức năng khác với các đơn vị thấp hơn nó. Câu
giúp cho việc hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng tình cảm từ người này
sang người khác. Các đơn vị thấp hơn câu có những chức năng khác, có thể gọi
chức năng này của câu là "chức năng thông báo" so với các đơn vị cao hơn câu
mà cũng thực hiện được chức năng thông báo (đoạn văn, văn bản) thì câu là đơn
vị thông báo nhỏ nhất.
Câu có một cấu tạo ngữ pháp nhất định và có một ngữ điệu kết thúc. Ở
dạng đơn giản và bình thường nhất, câu có cấu tạo gồm hai thành phần chính
ứng với hai thành phần biểu hiện nội dung nói về đối tượng ấy. Ngữ điệu kết
thúc báo cho người nghe biết câu đã trọn vẹn, trên chữ viết nó được thể hiện
bằng một dấu chấm câu.
II. Cơ sở thực tiễn:
- Năm học 2013 - 2014, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4
với tổng sĩ số là 17 em, trong đó:
+ Học sinh giỏi: 03 em
+ Học sinh tiên tiến: 06 em
+ Học sinh trung bình: 06 em
+ Học sinh yếu: 02 em
Với đặc điểm của lớp như trên, tôi cũng gặp những khó khăn nhưng cũng
có phần thuận lợi như sau:
Trang 5
1. Thuận lợi:
- Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết nghe lời.
- Học sinh có đầy đủ SGK và đồ dùng học tập.
- Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình.
- Hầu hết các em đều đọc viết thành thạo.
- Giáo viên có nhiều năm dạy lớp 4 nên nắm chắc chương trình lớp 4.
2. Khó khăn:
- Lớp có ít học sinh giỏi, học lực của các em đa số là trung bình và yếu,
Trang 6
để giúp học sinh tạo nên câu văn riêng không?
Đây là vấn đề hay nhầm lẫn của học sinh khi đặt câu hỏi hoặc khi viết văn,
do vậy trong quá trình cung cấp kiến thức ngữ pháp phải đặc biệt chú ý hướng
các em tránh những sai phạm trên.
Ví dụ: Khi làm bài văn tả cây bút chì Trần Minh Giang học sinh viết
"Chiếc bút chì của em dài hơn một gang tay, thân bút tròn như chiếc đũa vỏ
ngoài bút sơn màu xanh thấm láng bóng trên nền xanh ấy nổi bật một hàng chữ
vàng in lấp lánh".
Hệ thống từ ngữ của em Trần Minh Giang đã diễn đạt được cây bút chì
với những đặc điểm về chiều dài, hình dáng và đặc điểm bên ngoài, do vậy nó
chứa đựng rất nhiều ý. Để câu văn đúng, chính xác hơn, lời văn của học sinh
diễn đạt sẽ rõ ràng mạch lạc hơn ta có thể dễ dàng dùng các dấu câu để tránh
những ý câu văn ra thành nhiều câu như sau:
"Chiếc bút chì của em dài hơn một gang tay. Thân bút tròn như chiếc đũa.
Vỏ ngoài của bút sơn màu xanh thẫm láng bóng. Trên nền xanh ấy nổi bật một
hàng chữ vàng in lấp lánh".
Nội dung của câu đầy đủ, chính xác ta phải đảm bảo những vấn đề trên.
Về hình thức của câu khi viết và đọc những kiến thức ngữ pháp cần phải nghỉ
hơi trước khi đọc tiếp sang câu khác. Khi viết chữ cái đầu phải viết hoa và cuối
mỗi câu có một dấu chấm câu.
* Thứ hai là: Các kiến thức phân môn luyện từ và câu cung cấp cho các
em về việc phân loại câu theo mục đích nói.
Môn Tiếng việt ở Tiểu học trang bị cho học sinh những kiến thức ngữ
pháp chuẩn mực, rèn luyện cho học sinh có kỹ năng vận dụng vào để tư duy và
giao tiếp. Sản phẩm của nó trước hết là những câu văn hoàn chỉnh. Để có được
sản phẩm này, các em phải huy động bốn kỹ năng (nghe, đọc, nói, viết), trong đó
kỹ năng nói rất quan trọng. Tuỳ vào mục đích nói khác nhau người ta chia câu
văn ra làm một số loại. Nội dung này chiếm 1/3 tổng số kiến thức ngữ pháp
trong chương trình tiếng việt lớp 4. Nhằm kể một sự việc hay tả một cảnh vật, sự
tập".
Để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình trước những hiện thực khách quan
người ta sử dụng câu cảm. Trong câu cảm thường có những từ ngạc nhiên, thán
phục, đau xót… như ôi, a, ồ, eo ôi, chao ôi, trời ơi! … hay sự đánh giá quá, lắm,
ghê thật…
Ví dụ: "Em ngoan lắm!"
"A! mẹ đã về".
"Ô ! Trời đổ mưa"…
Khi nói câu cảm có giọng thay đổi phù hợp với tình cảm và cảm xúc diễn
tả trong câu. Khi viết, cuối câu cảm có dấu chấm cảm (!).
Tuy câu cảm và câu cầu khiến có sự giống nhau ở dấu câu, nhưng ở hai
loại câu này mang một nội dung hoàn toàn khác nhau. Do vậy khi truyền thụ
những kiến thức ở phần này chúng ta cần tập trung phân tích để tránh sự nhầm
lẫn trong quá trình hình thành câu ở các em.
Khi ta dùng câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến hay câu cảm để chuyện trò, hỏi
đáp trực tiếp với người khác thì đó là những câu hội thoại.
Ví dụ:
Một hôm, Đỗ Thái Hậu và vua tới thăm Tô Hiến Thành, hỏi:
Trang 8
- Nếu chẳng may ông mất thì ai là người sẽ thay ông?
Tô Hiến Thành không do dự, đáp:
- Có giám nghị đại phu Trần Trung Tá.
Thái Hậu ngạc nhiên nói:
- Vũ Tán Đường hết lòng vì ông, sao ông không tiến cử?
Tô Hiến Thành tâu:
- Nếu Thái Hậu hỏi người hầu hạ giỏi thì thần xin cử Vũ Tán Đường, còn
hỏi người tài ba giúp nước, thần xin cử Trần Trung Tá.
Tóm lại: Việc tìm hiểu vấn đề trên không chỉ giúp cho học sinh nắm được
các kiểu câu chia theo mục đích và có khả năng vận dụng đặt được các câu văn
mang nội dung đó mà cần có sự so sánh, đối chiếu để học sinh thấy được sự khác
"Nắng vàng trải khắp cánh đồng lúa".
Câu này vị ngữ do nhiều từ tạo nên "trải khắp cánh đồng lúa".
Bên cạnh từng trường hợp vị ngữ là một từ kết hợp từ, còn có những
trường hợp vị ngữ do hai hay nhiều từ hợp từ bình đẳng với nhau tạo thành.
Ví dụ: "Bạn My rất ngoan và học giỏi"
"Lê Văn Tám nhỏ mà anh hùng".
Ngoài hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ ra. Câu còn được cấu tạo
bởi các thành phần phụ. Các thành phần phụ trong câu là những phần thêm vào
để bổ sung ý nghĩa cho cả khối chủ ngữ - vị ngữ gọi là trạng ngữ.
Ngoài ra, phải giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học ở trên
vào việc đặt câu.
Ví dụ: Muốn đặt câu có thành phần định ngữ thì ta phải xác định được
danh từ chính của câu cần đặt, chẳng hạn danh từ chính của câu là học sinh trong
câu "Học sinh được khen" ta có thể thêm thành phần định ngữ "của đội tuyển
văn" bổ sung ý nghĩa cho danh từ "học sinh" và câu văn sẽ hay hơn.
"Học sinh của đội tuyển văn được khen".
Tóm lại: Là người giáo viên Tiểu học ta cần thực sự chú ý vận dụng
nghiên cứu những kiến thức ngữ pháp được phân bố trong chương trình Tiếng
việt 4 để hướng dẫn các em viết câu đúng, chính xác. Biết tự nhận ra những câu
sai của mình để sửa chữa thành câu cảm về mặt ngữ pháp, hay và gợi cảm về mặt
nội dung.
Trang 10
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. Thực trạng dạy và học Luyện từ và câu ở trường Tiểu học Đồn Đạc.
1. Về phía giáo viên.
1.1. Ưu điểm:
- Giáo viên đi đúng phương pháp dạy học của bộ môn và các dạng bài cụ
thể.
- Giáo viên có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chấm
chữa bài nghiêm túc, khách quan.
thiếu xhur ngữ có cao hơn đặc biệt trong viết đoạn văn ngắn. Câu thiếu chủ ngữ
xuất hiện nhiều bởi nhiều học sinh nhầm đối tượng.
Câu thiếu chủ ngữ:
Ví dụ 1: Rung rinh trước gió
Ví dụ 2: Có hoa và đậu lành rất nhiều quả
- Câu thiếu vị ngữ: Đó là những câu chỉ có một cụm danh từ.
VD1: Chiếc đệm êm ái
VD2: Lâu đài cổ kính
Tỷ lệ học sinh viết câu thiếu vị ngữ nhiều hơn những câu thiếu chủ ngữ.
- Nguyên nhân chủ yếu là do học sinh nhầm tưởng những danh từ được
phát triển dài là một câu, tưởng đã có nội dung thông báo trọn vẹn mặc dù ở đó
mới chỉ nêu đối tượng thông báo.
- Câu thiếu cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ
Những câu mắc lỗi sai, thiếu thành phần chủ ngữ và vị ngữ là những câu
chỉ có thành phần trạng ngữ và cũng không nói được với những câu tiếp sau để
tạo thành một câu mới có trạng ngữ. Nguyên nhân của loại lỗi này là học sinh
không hiểu rằng chủ ngữ không thể đứng sau quan hệ từ các danh từ chỉ thời
gian như khi, lúc… cần phải có bộ phận bổ sung nghĩa. Mặt khác thường là bộ
phận đứng sau quan hệ từ được phát triển dài khiến học sinh tưởng là nó có nội
dung thông báo.
VD1: Trên nền sạch bong như vừa gội rửa.
VD2: Đến ngày đợt quả đầu tiên của cây bắt đầu chín.
Trong ba loại câu thiếu thành phần thì tỉ lệ học sinh mắc lỗi sai câu thiếu
thành phần chủ ngữ, vị ngữ nhiều hơn câu mắc lỗi thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ.
- Câu thừa thành phần: Là những câu có thành phần câu lặp lại một
cách không cần thiết.
VD1: Bạn Lan đó là bạn rất chăm sóc
VD2: Mặt trời tròn vành vạch như cái đĩa tròn
Đây là loại lỗi gặp phổ biến trong thực tế viết câu của học sinh hiện nay.
Trang 12
những ngày nào.
3.2. Lỗi về nghĩa:
Tỷ lệ học sinh có câu mắc lỗi về nghĩa trong các bài viết đoạn văn rất lớn
và nhiều kiểu loại. Câu mắc lỗi về nghĩa ở đây bao gồm câu sai nghĩa, câu không
rõ nghĩa và câu có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế
câu rất lớn do với câu sai nghĩa và câu không rõ nghĩa.
- Câu sai nghĩa là những câu chứa đựng nội dung không phù hợp với thực
hiện với thực hiện khách quan, phản ánh sai hiện thực khách quan.
VD: Thân cây sần sùi như da ếch.
Trang 13
- Câu không rõ nghĩa: Là câu thiếu thông tin. Đó là những câu đúng về
mặt cấu tạo ngữ pháp, nghĩa là có đầy đủ thành phần chính, đúng về quan niệm
nghĩa ngữ chung. Nhưng thật sự câu kiểu này còn thiếy thành phần phụ bổ nghĩa
cho các từ trong câu, nen nghĩa câu không đầy đủ gây hụt hẫng cho người đọc.
VD1: Hàng năm em về quê.
VD2: Mùa ổi xanh lá, em trèo cây.
- Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các
vế câu. Loại lỗi này chiếm số lượng rất lớn và đa dạng. Có thể xem loại lỗi này
là loại nỗi từ vựng- ngữ pháp, vì lỗi câu ở đây có nguyên nhân từ việc không
hiểu nghĩa từ và khả năng kết hợp các từ, nhưng do mỗi từ ở trong câu đều có
chức năng riêng làm một thành phần câu nhất định nên chúng ta có thể xem xét
từ góc độ ngữ pháp. Sự không tương hợp giữa các thành phần câu. Nhưng việc
chữa các câu này phải bắt đầu từ việc hướng dẫn học sinh nắm nghĩa từ và khả
năng kết hợp của chúng.
VD1: Cây cối xanh mơn mởn xào xạc trước gió
VD2: Thân cây quýt sần sùi rách nát
- Câu có các vế câu không tương hợp
VD1: Trồng ổi sẽ thu được rất nhiều lợi, những đường gân nổi rõ như con
rắn vậy
VD2: Tuy quả nhỏ chỉ bằng các quả cam nhưng ruột quả không ngon. Các
vế kia. Phổ biến nhất trong loại lỗi này là câu dùng dấu chấm tuỳ tiện khi chưa
hiểu ý, cắt đôi câu ra một cách vô lý.
VD1: Em thấy vỏ mỏng, múi ngọt, em rất thích cái cây của em nó có thể
làm ra trái ngon.
VD2: Hoa chỉ nở vào mấy tháng thôi còn những tháng sau thì cây trở lại
với màu xanh duyên dáng của mình.
VD3: Chiếc cặp ấy to. Hình chữ nhật vuông vắn
Việc học sinh không sử dụng dấu câu và sử dụng sai dấu câu, chưa biết áp
dụng dấu câu trong việc diễn đạt nội dung và chưa nắm được cách sử dụng
chúng. Nói chung nhiều học sinh tiểu học còn ngại sử dụng dấu câu và chưa biết
cách sử dụng chúng. Nói chung nhiều học sinh tiểu học còn ngại sử dụng dấu
câu và chưa biết cách sử dụng dấu câu.
+ Lỗi ngoài câu: Nghiên cứu bài kiểm tra các môn tập làm văn, đạo đức…
tôi nhận thấy học sinh ngoài mắc lỗi trong câu thì các em còn mắc lỗi ở ngoài
câu.
Những câu mắc lỗi trong câu thì các em còn mắc lỗi ở ngoài câu. Những
câu mắc lỗi này xét về mặt cấu tạo không sai nhưng đặt vào trong văn bản thì
mới thấy nó không hợp lý. Do chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học chưa chú
trọng đến việc đặt câu trong văn bản để xem xét nên các lỗi ngoài câu xuất hiện
nhiều trong bài Tập làm văn của học sinh.
+ Lỗi ngoài câu được chia làm 3 nhóm
- Lỗi do câu không phù hợp với các câu khác trong văn bản. Đây là những
lỗi do học sinh tư duy không rõ ràng, mạch lạc nên đã viết ra những câu lạc chủ
đề, những câu lặp lại với những câu khác. Những câu này lạc vào trong văn bản
làm cho đoạn văn như “râu ông lọ cắm cằm bà kia” hoặc nhiều câu luẩn quẩn,
trùng lặp nhàm chán, chủ đề không phát triển được.
- Lỗi câu lạc chủ đề là lỗi do trong văn bản có những câu phá vỡ tính liên
kết chủ đề của đoạn văn.
VD1: Gần nhà em có một cây hoa sữa, thân cây sần sùi, gốc cây phình ra
Trang 15
VD2: Bạn ấy là một cây đơn ca tuyệt cú mèo.
4. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng viết câu của học sinh tiểu học hiện
nay là:
Từ việc điều tra, tìm hiểu, tôi thấy việc viết câu sai của học sinh lớp 4 chủ
yếu tập trung ở một số nguyên nhân sau:
Một là: Các em chưa hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ về các thành phần
chính trong một câu, chưa nắm được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ. Do vậy các
em còn nhầm sang thành phần phụ của câu, dẫn đến việc viết câu thiếu chủ ngữ,
vị ngữ hoặc có khi thiếu cả hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ.
Trang 16
Ví dụ: Các em viết: "Sáng nay chữa bài tập Tiếng việt" và cho rằng đây là
một câu vì có đủ hai bộ phận chủ ngữ và vị ngữ ở trong câu. Để tìm chủ ngữ của
câu trên các em phải đặt câu hỏi "bao giờ chữa bài tập Tiếng việt?" và "Ai chữa
bài tập Tiếng việt?" và các em sẽ được câu trả lời: "Sáng nay, cô giáo chữa bài
tập Tiếng Việt ." Ngược lại, để tìm bộ phận vị ngữ các em đặt câu hỏi "Sáng nay
cô giáo làm gì?" được câu trả lời là "chữa bài tập Tiếng Việt", vậy "chữa bài tập
Tiếng việt" là vị ngữ. Nên câu trên phải viết là: Sáng nay, cô giáo chữa bài tập
Tiếng việt.
Câu các em viết ra như trường hợp trên là sai, hay nói cách khác là chưa
đủ câu vì còn thiếu bộ phận chủ ngữ. Nguyên nhân dẫn đến việc sai sót này là do
học sinh chưa nắm chắc được kiến thức về câu. Do vậy khi đọc bài văn của các
em có những câu thiếu bộ phận chủ ngữ, có câu thiếu bộ phận vị ngữ khiến
người đọc rất khó hiểu em đang muốn diễn đạt điều gì. Hơn nữa, các em sử dụng
những câu thiếu chủ ngữ trong giao tiếp với người lớn tuổi sẽ trở thành thiếu lễ
độ.
Hai là: Đối với các thành phần phụ trong câu các em còn mơ hồ về cách
cấu tạo, vị trí và nhiệm vụ của các thành phần phụ trong câu. Do vậy khi vận
dụng kiến thức về phần này, để đặt câu hỏi có những thành phần phụ các em
thường nhầm lẫn hoặc chưa biết cách đặt câu có các thành phần phụ.
Ví dụ: Các em viết "Cô giáo chữa bài".
Trước hết, người giáo viên phải nhiệt tình truyền đạt những kiến thức đến
các em trong mọi giờ dạy ngữ pháp. Giáo viên luôn tìm ra những phương pháp
giảng dạy thật dễ hiểu giúp các em tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái.
Ngoài ra cần có những câu hỏi gợi mở nhằm kích thích óc tò mò, tư duy của các
em. Sau mỗi bài dạy có liên quan đến việc viết câu của học sinh, người giáo viên
luôn củng cố tổng kết khái quát để hướng các em vào việc sử dụng câu trong
giao tiếp hàng ngày.
Một việc làm có tác dụng rất lớn cho biện pháp này là cho các em tiếp xúc
với những kiểu câu khác nhau. Các em tự tìm các bộ phận, cấu tạo, chức năng và
nhiệm vụ của các bộ phận đó trong câu.
2. Giúp học sinh tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những lỗi viết câu
sai của mình.
Đối với biện pháp này, giáo viên giảng dạy phải là người am hiểu về lỗi
viết câu của các em để có sự tổng hợp tìm ra những lỗi chung. Muốn làm được
việc này thì giáo viên phải thực sự đầu tư về kiến thức, quỹ thời gian… Trong
việc chấm bài nhất là bài tập làm văn cho học sinh. Giáo viên phải ghi thật cụ thể
những lỗi câu của học sinh vào sổ tay, tìm hiểu xem câu đó thiếu hoặc sai gì, cần
sửa ra sao? Tổng hợp xem lỗi viết câu sai của học sinh chủ yếu là lỗi gì sau đó
giáo viên chữa, tìm ra những lỗi sai chung, nêu những lỗi câu này lên trước lớp
để các em tự tiếp nhận, so sánh vào bài của mình để tìm cách sửa chữa.
Ngoài những lỗi câu chung, giáo viên từng bước giúp học sinh sửa chữa
những lỗi câu sai mà cá nhânh học sinh mắc phải. Giúp các em phân tích xem
câu của mình sai ở đâu, thiếu thành phần gì và phải sửa lại như thế nào. Đối với
câu có thành phần phụ đã đúng và hợp lý chưa, hướng giải quyết ra sao.
Đặc biệt cần xem xét việc sắp xếp các ý của các em xem đã hợp lý, lô gíc
chưa để tìm ra nguyên nhân vì sao chưa hợp lý và biện pháp sửa chữa như thế
nào. Phải làm sao biến các hoạt động trên trở thành nhu cầu, hứng thú đối với
từng học sinh, chỉ có điều đó mới giúp việc sửa chữa lỗi câu đạt hiệu quả cao.
3. Giúp học sinh chữa lỗi câu sai:
* Sửa lỗi viết câu trên cơ sở chữa những câu chung.
em từ lời ăn tiếng nói. Khi chấm bài kiểm tra tất cả các môn học ta cũng phải lưu
ý cách sửa câu cho các em.
* Chữa lỗi về chính tả
Khi học sinh tìm ra lỗi chính tả mà mình viết sai, cô giáo đã gạch chân
trong vở, giáo viên cần giúp các em cách phân biệt chính tả, giúp các em viết
đúng.
Ví dụ: tiếng "ra" các em phải biết phân biệt d/ gi/ r.
- Ra vào, ra cửa, đi ra
- Màu da cam, cặp da
- Gia đình, gia súc
Khi chữa lỗi giáo viên kẻ bảng thành hai cột
Trang 19
* Chữa lỗi về cách dùng từ
Ví dụ 1: Ai sống chả có cha mẹ, thật thiệt thòi cho những em nhỏ mồ côi
cả cha lẫn mẹ (học sinh đọc lên).
Giáo viên ghi lên bảng và hỏi?
- Em đọc thấy chỗ nào chưa hay? Có sai không?
( Từ " sống" chưa hay - chưa chính xác
* Chữa lỗi về câu về đoạn văn về diễn đạt
Các lỗi về câu thường gặp ở tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu
què, câu chỉ có thành phần phụ chỉ địa điểm hoặc thời gian, nguyên nhân, kết
quả Thiếu thành phần chính ( tức là cả cụm chủ vị ), nêu ý chưa chọn vẹn (câu
cụt), câu có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng củng. Cách chữa: giáo viên kẻ bảng
thành ba cột.
CÂU SAI LỖI NGỮ PHÁP CÂU ĐÃ ĐƯỢC SỬA THÀNH CÂU ĐÚNG
Ví dụ 1: Học sinh đọc câu lủng củng của mình lên: Trong nhà em có một người
mà em rất yêu mến, đó là bà em rất kính yêu.
Em có nhận xét gì về cách diễn đạt nội dung? (diễn đạt nội dung rườm rà).
Em có thể sửa như thế nào? Trong nhà em, bà là người thật đáng kính.
Ví dụ 2:
việc giúp HS liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo để có được những hình ảnh đẹp,
những câu văn hay
* Hướng dẫn học sinh sửa lỗi câu qua một số bài cụ thể:
Sau khi nghiên cứu tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến những lỗi câu
sai của học sinh và đề xuất biện pháp sửa chữa, tôi hướng dẫn học sinh sửa lỗi
trong một số bài cụ thể như sau:
Tiết 1: Tập làm văn: Kể chuyện (trả bài văn viết).
* Đề bài: Kể một câu chuyện em đã được nghe hoặc được đọc về một
người có tấm lòng nhân hậu - Tuần 12
* Lỗi mắc phải:
- Câu thiếu bộ phận chủ ngữ.
- Câu thiếu bộ phận vị ngữ.
- Câu thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ.
- Câu văn lủng củng, diễn đạt không rõ ý.
* Hướng dẫn chữa lỗi:
- Giáo viên phân tích các câu văn cụ thể của học sinh trong bài viết. Cho
học sinh đọc và nêu cách sửa lỗi cho bạn. Giáo viên công nhận hoặc bổ sung
thêm cho câu văn hoàn chỉnh. Yêu cầu học sinh có câu sai viết lại câu đúng vào
vở
- Giáo viên đọc mẫu một đoạn văn hay, một bài văn tốt về nội dung và bố
cục, có sự sáng tạo khi kể chuyện; dùng từ và sắp xếp ý có sự liên kết.Giáo viên
hỏi để tìm ra cách dùng từ, diễn đạt ý hay để học sinh học tập.
- Hướng dẫn viết lại văn: Yêu cầu học sinh tự chọn lại một đoạn văn chưa
đạt trong bài làm của mình để viết lại cho hay. Lưu ý câu trong đoạn văn phải
Trang 21
diễn đạt 1 ý trọn vẹn, dùng từ phải phù hợp chính xác, hay và nên chọn một đoạn
văn trong phần thân bài. Gọi học sinh đọc lại đoạn văn vừa viết lại và sửa (nếu
cần).
Tiết 2: Luyện từ và câu
Bài: Câu kể
trình rèn luyện công phu. Do vậy, chỉ có sự rèn luyện liên tục trong mọi hoạt
động hàng ngày của học sinh mới rút ngắn và đạt kết quả cao trong công việc
sửa chữa lỗi về câu. Đối với bất kỳ vấn đề gì, học sinh cần có sự tư duy lôgic và
sắp xếp ý nhằm toát lên chủ đề được nêu.
Trang 22
Người giáo viên cần giúp học sinh hình thành nên cách suy nghĩ theo trình
tự phù hợp để viết được những câu văn hay, hợp lý.
5. Nâng cao chất lượng viết câu cho học sinh.
- Trong khi HS làm các bài tập thực hành viết câu, giáo viên phải hướng
dẫn cho các em thói quen xác định yêu cầu của đề bài hay chính là việc đi trả lời
ba câu hỏi:
+ Yêu cầu của đề bài thuộc dạng gì?
+ Với dạng yêu cầu đó thì câu cần viết đã được biết trước các yếu tố gì?
+ Cần bổ sung các yếu tố nào để hoàn thiện câu?
- Với mỗi loại bài tập cần hình thành cho HS cách khái quát để giải quyết.
VD: Dạy phân tích thành phần câu, mô hình khái quát để giải bài tập
này là:
+ Tìm nội dung thông báo chính của câu
+ Tìm chủ đề thông báo, nội dung thông báo có liên quan tới chủ đề
thông báo.
+ Xác định những từ đảm nhiệm vai trò chủ thể thông báo và nội dung
thông báo có liên quan đến chủ thể thông báo. Đối chiếu những từ ấy xem chúng
giữ chức năng gì?
VD: Dạy đặt câu:
+Xác định nội dung chính của câu sẽ đặt.
+ Xác định cấu trúc ngữ pháp của câu
+ Tìm từ để diễn đạt nội dung của câu và tuân theo cấu trúc ngữ pháp
nhất định.
+ Diễn đạt thành câu hoàn thiện.
+ Kiểm tra và sửa chữa câu vừa đặt.
biệt…)
- Con vật em được tả đã để lại cho em ấn tượng, tình cảm gì?
2. Thân bài:
- Tả ngoại hình: Bộ lông, cái đầu, chân, đuôi, hàm răng, móng vuốt,
- Tả hoạt động: khi kiếm ăn; khi đù giỡn; kinh rình con mồi,
3. Kết bài:
- Tình cảm của em với con vật của mình.
- Những suy nghĩ của em về con vật đó.
Văn tả con vật yêu cầu phải đảm bảo tính chính xác, trung thực của từng
chi tiết. Không nên thêm thắt những chi tiết sai sự thật, sẽ làm hỏng bài văn, phải
tả con vật theo đúng trình tự từ bao quát đến chi tiết.
- Điểm 9, 10: đảm bảo các ý ở từng phần trên. Diễn đạt rõ ràng, lưu loát
lời văn chân thành tự nhiên không sai lỗi câu và chính tả.
- Điểm 7, 8: Đảm bảo các ý trên. Diễn đạt đôi chỗ chưa thật rõ ràng. Sai
không quá 3 lỗi câu và chính tả.
- Điểm 5, 6: bố cục chưa rõ ràng, còn thiếu ý cơ bản. Sai trên 3 lỗi câu và
3 lỗi chính tả.
- Dưới điểm trung bình: chưa nắm được phương pháp thuật chuyện, bố
Trang 24
cục không rõ ràng. Diễn đạt không thoát ý. Sai nhiều lỗi câu và chính tả.
+ Không làm bài hoặc viết một vài câu vô nghĩa.
Sau khi chấm bài có kết quả như sau:
100% các em đã viết được những câu đơn giản có chủ ngữ và vị ngữ.
Những câu có cả thành phần phụ, các em đã có sự nhận xét đánh giá và phân biệt
giữa thành phần chính và thành phần phụ nên số lượng mắc lỗi của các em đã
giảm.
Cụ thể là:
- Câu viết thiếu chủ ngữ: 1 em mắc phải.
- Về mặt diễn đạt chưa thoát ý, chưa lưu loát chỉ còn 1 em.
Căn cứ vào bài chấm tôi thống kê điểm bài viết của học sinh như sau: