Nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa về kinh tế - xã hội của sự suy thoái đa dạng sinh học tại một số vùng địa sinh thái tại Việt Nam - Pdf 25

Nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa về kinh tế - xã hội
của sự suy thoái đa dạng sinh học tại một số vùng địa - sinh
thái của Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con
người là một chỉnh thể thống nhất. Con người là một bộ phận của tự nhiên,
con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối
quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên. Môi trường sống
vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt động
như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ mang
tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội. Nói
cách khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường
đối với con người và xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cung
cấp các giá trị vật chất, mà còn tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần. Tuy
nhiên, không phải bao giê và ở đâu con người cũng nhận thức một cách tự
giác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với cuộc
sống. Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, con
người - mét cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơn
môi trường sống của mình. Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt ra
ngoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành một trong những vấn đề mang
tính toàn cầu. Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy cơ khủng hoảng,
mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có những
biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của
1
mình theo hướng "thân thiện" môi trường chắc chắn sẽ phải trả giá đắt và
mọi sự hối hận, tiếc nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng.
Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăng
tốc", đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phải
đối mặt với những thách thức to lớn về mặt môi trường sinh thái. Tất nhiên,
khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của các vấn đề môi trường biểu hiện

phát triển của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành
vấn đề chung của toàn cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại. Chính vì
vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực
và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến hành, nhiều tổ chức, các
công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi trường
được xây dựng, triển khai hoạt động.
Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và
các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào
thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra
đời của Luật bảo vệ môi trường (năm 1993), hàng loạt văn bản dưới luật
liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức thực hiện trên phạm vi
cả nước. Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường được tổ
chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia
khác, các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường
các địa phương đã phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những
biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm
họa môi trường có thể xảy ra. Chỉ thị về "Tăng cường công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ Chính trị Ban
3
chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp phần
tích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta.
Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trường
được đăng tải dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo Có thể kể
đến một số công trình của các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và
giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997;
"Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội" của
tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2001;
"Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995;
"Sinh thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội
1997

đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi trường,
đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản, có tính định hướng đối với
việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân téc ở
vùng lãnh thổ này.
- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm
vụ sau:
+ Một là, dùa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa,
tính tất yếu của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân
dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
5
+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân téc miền
núi phía Bắc nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó.
+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức
bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân téc miền núi phía Bắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề
xây dựng thức bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh
tế hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây
dựng ý thức bảo vệ môi trường của đồng bào các dân téc vùng núi phía
Bắc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dùa trên cơ sở những
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn
kiện của Đảng về vấn đề môi trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quả
nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi trước có liên quan đến đề tài
luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận

Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định
rằng, đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy
thuộc vào cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều
kiện xung quanh và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất
cả sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi
trường hiểu theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu,
môi trường trái đất và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí
quyển, thủy quyển và thạch quyển (địa quyển).
8
Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế
giới vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển.
Môi trường sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể.
Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con
người và xã hội loài người. Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã
hội. Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự
nhiên - người hóa, môi trường sinh thái nhân văn.
Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu,
cả trên thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này
và đề xuất những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường.
Năm 1981, Tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một
định nghĩa về khái niệm này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ
thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao
động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để
thỏa mãn những nhu cầu của mình. Ở nước ta, một số tác giả, từ những góc
độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này.
Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến cho rằng, đứng về
mặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung quanh, bao gồm

thể (sinh thể) hay một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao
quanh và thực thể luôn tồn tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động
lẫn nhau. Đối với con người và xã hội loài người, các điều kiện bao quanh
đó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện
xã hội. Như vậy, nói đến bảo vệ môi trường là nói đến môi trường sinh thái
nhân văn - môi trường sống của con người và xã hội loài người. Con người
10
ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực thể tự nhiên có những
nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà
xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên.
Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người
và xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên
lẫn những điều kiện xã hội. Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này -
không chỉ sống bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế,
còn tồn tại, phát triển trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong
phó. Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn, vấn đề môi trường mà
chúng tôi đề cập đến ở đây trước hết và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các
điều kiện tự nhiên. Nói cách khác, với tư cách là một khái niệm công cụ,
khái niệm môi trường được sử dụng trong luận văn chủ yếu theo nghĩa là
môi trường tự nhiên.
1.1.2. Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và
xã hội loài người
Như chóng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố
thống nhất trong một chỉnh thể không tách rời. Trong hệ thống đó, khó có
thể xác định rằng yếu tố nào là quan trọng nhất. Trên thực tế, mỗi yếu tố
đều có vị trí và vai trò nhất định. Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác
động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to
lớn đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loài
người. Trái lại, sự tác động của các yếu tố con người và xã hội ngày càng
đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối với sự biến đổi, chiều

xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết định song nó có ảnh hưởng quan
trọng đến sự phát triển xã hội. Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844",
khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự phát triển của con người
và xã hội, C. Mác đã khẳng định:
Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới
tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật
liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt
động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động
của anh ta sản xuất ra sản phẩm. Giới tự nhiên cung cấp cho lao
động tư liệu sinh hoạt theo nghĩa là không có vật để cho lao động
tác động vào thì lao động không thể sống được; mặt khác, chính
giới tự nhiên cũng cung cấp tư liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn,
nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại về thể xác cho bản thân người
công nhân [20, tr. 130].
Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong
thời đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh
to lớn, cho phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên
liệu để sản xuất vốn không có sẵn trong tự nhiên. Tuy nhiên, xét đến cùng,
những thành phần để tạo nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ
đâu khác ngoài giới tự nhiên. Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng
vai trò là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của con
người. Dẫu rằng khi xã hội loài người còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông
muội hay đã phát triển đến trình độ văn minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ
tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của tự nhiên vẫn không thể thay
thế, không bị mất đi.
Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con
người và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn
13
cãi. Song, cần phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể.
Nghĩa là vai trò của tự nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn,

những yếu tố cần thiết đối với sự sống của con người, mà còn là những
nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã hội, nếu như con người
biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý" [39, tr. 72].
Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận
các hoạt động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các
giá trị vật chất và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã
hội. Như chúng ta đã biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự
nhiên những sản phẩm có sẵn như một hành vi kiếm sống mang tính bản
năng, tự nhiên. Trái lại, con người là một một sản phẩm hoàn thiện nhất
của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý thức. Con người, như quan niệm
của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã
hội. Con người không chỉ biết sử dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiên
như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát triển, mà còn tác
động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi Ých của mình. Do vậy, tự
nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người, trước
hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự
tồn tại, phát triển của chính bản thân mình.
Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người
và xã hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Hoạt động của con
người là một quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự
nhiên. Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C. Mác
viết:
Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Con
người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là
15
thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại
trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời
sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự
nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn
liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của

nhất tạo nên sự thống nhất, gắn kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên. Nhận
xét về ý nghĩa của lao động - hành vi đầu tiên và quan trọng nhất của
con ngời, C. Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động trớc hết là một quá trình
diễn ra giữa con ngời và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động
của chính mình, con ngời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao
đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr. 266].
Khụng ch l ngun cung cp nng lng vt cht cho s tn ti,
phỏt trin ca con ngi v xó hi, mụi trng t nhiờn cũn l khụng gian
din ra cỏc hot ng sng quan trng khỏc ca con ngi nh ngh ngi,
cm nhn v hng th nhng giỏ tr vn húa thm m, nhng nột p cng
nh s tinh t ca to húa. Sng trong mt mụi trng t nhiờn hi hũa v
a dng, con ngi s cú mt i sng tinh thn phong phú, trong sỏng. Nú
lm cho con ngi thy cuc sng cú ý ngha v ỏng yờu hn.
Trong quỏ trỡnh trao i cht gia con ngi v t nhiờn, con ngi
khụng ch nhn t t nhiờn nhng ngun nng lng cn thit cho s tn
ti, phỏt trin ca mỡnh v xó hi m cũn thi vo t nhiờn cỏc cht thi ca
hot ng sn xut, sinh hot. Núi cỏch khỏc, mụi trng t nhiờn khụng
ch l ngun cung cp cỏc iu kin sng m cũn úng vai trũ l ni ng
húa cỏc ph thi do con ngi thi ra. Ngi ta khụng th hỡnh dung c
rng, gi s lng cht thi khng l do cỏc hot ng sn xut, sinh hot
17
của con người, từ trước tới nay, không được xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc
sống của con người sẽ ra sao. May mắn thay, điều đó đã không xảy ra, Ýt
nhất là cho đến nay. Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều chỉnh và làm sạch
của nó. Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi trường tự nhiên mà
con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập chìm bên cạnh
hàng loạt chất thải bá.
Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự
nhiên càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn. Đây là vấn
đề có tính quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội. Thực tế

Ých vật chất của con người. Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi
cho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra những cái được gọi là kỳ tích Êy, con người
và xã hội loài người đồng thời phải đối mặt với sự tiềm tàng của những
hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã, nếu không nói là bi kịch, của
sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự nhiên.
Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống
của con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia.
Đáng tiếc là, không phải bao giê và ở đâu con người cũng ý thức một cách
đúng đắn và đầy đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên. Quan niệm mới
về sự phát triển, trong đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con
người và tự nhiên, đòi hỏi trong quá trình mưu cầu hạnh phóc của mình,
con người không chỉ khai thác tự nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan
trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn,
bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với quy
luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự nhiên, phù hợp với nhu cầu
của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và
xã hội vì lợi Ých chung, lâu dài của xã hội loài người. Để biến quan niệm
19
mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần phải có ý
thức bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2. Ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý
thức bảo vệ môi trường
1.2.1. Ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường
ĐÓ có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước
hết, cần phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái
niệm cơ bản như ý thức, ý thức xã hội.
Theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt
của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới
hiện thực khách quan. Ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình
thành và phát triển thông qua lao động và ngôn ngữ. Nói cách khác, nguồn

Mt l, ý thc xó hi cú th "vt trc" s phỏt trin ca tn ti xó
hi. S phn ỏnh vt trc ny s mang ý ngha tớch cc, sỏng to nu
phn ỏnh c cỏi lụgớc khỏch quan ca tn ti xó hi; ngc li, s l o
tng, duy ý chớ khi s phn ỏnh ú ch l cm nhn ch quan, khụng dựa
trờn c s lụgớc ca hin thc.
Hai l, ý thc xó hi thng lc hu hn so vi tn ti xó hi. S
lc hu ca ý thc xó hi hoc l do ý thc xó hi khụng phn ỏnh kp s
phỏt trin ca tn ti xó hi, hoc l do sc ca tõm lý xó hi (thói quen,
phong tc, tp quỏn, li sng ).
Ba l, ý thc xó hi cú tớnh k tha.
Bn l, gia cỏc hỡnh thỏi ý thc cú s tng tỏc v nh hng
ln nhau.
21
Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội
thông qua ý thức cá nhân của con người.
Dùa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con
người với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các
hình thái khác nhau. Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học. Mét vấn đề đặt
ra ở đây là, ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải
là một hình thái của ý thức xã hội không và biểu hiện của nó như thế nào
trong thực tiễn đời sống xã hội?
Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản
liên quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức
sinh thái, ý thức bảo vệ môi trường Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái
niệm này là ngang bằng, tương đương nhau về mặt nội dung. Có thể hiểu ý
thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự
giác của con người về tự nhiên và thái độ, trách nhiệm của con người đối
với môi trường sinh thái được hình thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu
biết của con người về tự nhiên và vị trí, vai trò của con người trong mối

đồng và quốc gia, dân téc. Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu
và bảo vệ môi trường trở thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người,
của các tổ chức xã hội và các quốc gia trên thế giới. Thực tế cho thấy, nếu
những vấn đề môi trường sinh thái tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô
và tính chất nghiêm trọng mà không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống con người, đến sự tồn tại và
phát triển của cả cộng đồng, quốc gia. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ môi trường
23
sinh thái trở thành mục tiêu và định hướng cho hoạt động chính trị của toàn
nhân loại, không loại trừ một quốc gia nào.
Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không
chỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực
tiếp đến sự hình thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi
trường. Quan niệm mới về sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơ
bản là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải
chú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh chính trị của ý thức sinh thái. Bởi
lẽ, đó là một trong những cơ sở quan trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt
động của con người theo hướng tích cực, tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn
giữ và "chung sống thân thiện" với môi trường sinh thái.
Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh
thái. Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trước
nguy cơ bị khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái , cần thiết phải có những
quy định thống nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong
quá trình tác động vào môi trường tự nhiên. Trên bình diện quốc tế, những
quy định chung đó là các công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ như
Công ước chung về thay đổi khí hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạng
sinh học ); ở cấp độ quốc gia là các văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môi
trường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998), Luật khoáng sản năm
1996 ).
Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường,

Dùa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của khoa học
kỹ thuật và công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của con người, xã hội hiện
đại đã phát triển về mọi phương diện, với tốc độ nhanh chóng chưa từng
thấy trong lịch sử. Tuy nhiên, đó cũng là lúc mà hoạt động của con người
25

Trích đoạn Thực trạng và những vấn đề cấp bỏch đang đặt ra Một số nguyờn nhõn cơ bản Quan điểm phỏt triển bền vững, kết hợp cỏc mục tiờu tăng trưởng kinh tế, cụng bằng xó hội và bảo vệ mụi trường sinh thỏi trong Một số nhúm giải phỏp nhằm xõy dựng ý thức bảo vệ mụi trường cho đồng bào cỏc dõn tộc miền nỳi phớa Bắc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status