Website:
Email :
Tel : 0918.775.368
NGHIÊN CỨU NHỮNG NỘI DUNG ĐỔI MỚI VỀ KINH TẾ ĐẤT
THỂ HIỆN TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI 2003
MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều
kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.
Khi nói về vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với nền sản xuất xã hội,
Các Mác đã khẳng định “ Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra
của cải vật chất và giá trị tiêu thụ – như William petti đã nói – lao động là
cha, còn đất là mẹ của của cải vật chất”.
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành
sản xuất nào. Tuy nhiên đối với từng ngành trong nền kinh tế quốc dân, đất
đai có vai trò rất khác nhau.
Trong các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, đất chỉ đóng vai trò
thụ động là cơ sở không gian, là nền tảng, là vị trí để thực hiện quá trình
sản xuất. Ở đây, quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm không phụ
thuộc vào tính chất và độ màu mỡ của đất.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, ngoài vai trò cơ sở không
gian, đất còn là vai trò cung cấp các nguyên liệu quý giá cho con người.
Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt.
Đất không chỉ là cơ sở không gian, không chỉ là điều kiện vất chất cần thiết
mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất. Hoạt động sản xuất trong nông
nghiệp, đặc biệt trong ngành trồng trọt là quá trình tác động của con người
vào ruộng đất (như cày, bừa, bón phân…) nhằm biến ruộng đất kém màu
mỡ thành ruộng đất màu mỡ hơn. Trong quá trình này ruộng đất đóng vai
trò như đối tượng lao động. Mặt khác, con người sử dụng đất như một công
cụ để tác động lên cây trồng sinh trưởng và phát triển. Trong quá trính đó
thực tiễn.
+ Đưa ra được những kiến nghị để hoàn thiện nhưng nội dung kinh
tế đất.
Với mục tiêu tìm hiểu những nội dung đổi mới về kinh tế đất thể
hiện trong luật đất đai 2003 từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá sơ bộ những
vấn đề phù hợp và chưa phù hợp với thực tiễn dựa trên cơ sở đó đưa ra
những kiến nghị sao cho phù hợp với thực tiễn hơn. Để đạt được mục tiêu
này tác giả đã dựa vào một số nguồn tài liệu sau : cơ sở khoa học về kinh tế
đất, luật đất đai 2003, và một số nguồn tài liệu khác..
Kết qủa nghiên cứu đã đạt được là đánh giá được vai trò của nội
dung kinh tế đất áp dụng trong thực tiễn và đưa ra được một số đề xuất
hoàn thiện những nội dung về kinh tế đất của luật đất đai 2003.
Phần nội dung của đề tài được chia làm 2 chương như sau:
+ Chương1: Cơ sở lý luận về kinh tế đất.
+ Chương2: Các nội dung kinh tế chủ yếu thể hiện trong luật đất đai
2003, (nhận xét, kiến nghị).
+ Phần kết luận.
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ ĐẤT
1.1Đất đai là nguồn vốn nguồn nội lực của đất nước.
Trong tất cảc các nền kinh tế đất đai là một trong 3 nguồn lực đầu
vào (lao động, tài chính, đất đai) và đầu ra là sản phẩm hàng hoá ( bao gồm
cả hàng hoá dịch vụ). Ba nguồn lực đầu vào này phối hợp với nhau, tương
tác lẫn nhau để tạo nên một cơ cấu hợp lý, quyết định tính hiệu quả trong
phát triển kinh tế.
Đối với nền kinh tế thị trường, tích luỹ tài sản cố định là tích luỹ chủ
yếu, trong đó đất đai chiếm một tỉ trọng lớn. Tài sản bất động sản (trong đó
có đất đai là yếu tố cơ bản) với tư cách là hàng hoá lưu thông trên thị
trường đã trực tiếp trở thành tố quan trọng của GDP ( tổng sản phẩm quốc
nội).
quyền sử dụng đất; mở rộng cơ hội cho các công dân và doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế được dễ dàng có đất để sử dụng đất lâu dài
cho sản xuất kinh doanh. Tính đủ giá trị của đất, sử dụng có hiệu quả quỹ
đấ của các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang, ngăn chặn sử
dụng đất lãng phí, hiệu quả…”
Quan hệ kinh tế đất đai vận hành theo cơ chế thị trường .
5
CHƯƠNGII .
CÁC NỘI DUNG KINH TẾ ĐẤT CHỦ YẾU THỂ HIỆN
TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI 2003
2.1 Nội dung giao đất, cho thuê đất.
*Thẩm quyền giao đất, cho thuờ đất
Luật đất đai năm 2003 quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất theo
hướng tiếp tục phân cấp cho địa phương và thực hiện cải cách hành chính trong
lĩnh vực đất đai. Mọi việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất đều được phân cấp cho chính quyền địa phương nhằm giảm bớt những
công việc có tính chất sự vụ của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
địa phương trong việc thu hút các dự án đầu tư, nâng cao trách nhiệm của địa
phương trong việc quản lý, sử dụng đất đai. Về thẩm quyền cụ thể được quy định
như sau:
- UỶ Ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao
đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất
đối với cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao
đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá
nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư.
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông
nghiệp sử dụng đất vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
A. GIAO ĐẤT
hoặc cho thuê;
3.Tổ chức kinh tế được giao đất sử dụng vào mục đích đầu tư xây dựng kết cấu hạ
7
tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê;
4.Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được giao đất làm mặt bằng xây dựng cơ
sở sản xuất, kinh doanh;
5.Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, sử dụng đất để xây dựng công trình công
cộng có mục đích kinh doanh;
6.Tổ chức kinh tế được giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thuỷ sản, làm muối ;
7.người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao đất để thực hiện các dự án đầu
tư.
b. Cho thuª ®Êt
Nhà nước cho thuê đất là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp
đồng cho các đối tượng có nhu câu sử dụng đất.
Đây là một nội dung rất hay của luật đất đai vì nó làm tăng hiệu quả khi sử
dụng đất đai và làm cho đất không bị manh mún.
- Nhà nước cho thuê đất trong các trường hợp sau đây:
+ Hộ gia đình, cá nhân thuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, làm muối;
+ Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng diện tích đất nông
nghiệp vượt hạn mức đước giao trước ngày 01 thang 01năm 1999 mà thời hạn sử
dụng đất đẵ hết theo quy định tại khoản 2 Điều 67 của luật này ;
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất từ
ngày 01 tháng 01 năm 1999 đến trước ngày luật này co hiệu lực thi hành, trừ diện
tích đất do nhận quyền sử dụng đất;
+ Hộ gia đình, cá nhân thuê đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất,
kinh doanh, hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng có
mục đích kinh doanh;