Luận văn: "vậy nghiên cứu việc sử dụng các công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiêp" - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh
đạo, đất nước đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới: thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nền kinh tế của Việt nam đã có nhiều biến tích cực, tăng trưởng
ngày càng cao. Sự phát triển của công nghiệp,nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy
sản và dịch vụ,đặc biệt là công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát
triển chung của toàn xã hội, song cũng chính từ sự phát triển đó đã làm nảy
sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Vì vậy nhiệm vụ bảo vệ môi
trường hiện đang là vấn đề hết sức cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt
đối với tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên hành tinh, trong đó có
Việt Nam.
Để thực hiện các mục tiêu về môi trường cũng như nhiều nước trên thế giới,
Việt Nam đang sử dụng công cụ pháp lý hay còn gọi là “Mệnh lệnh-Kiểm
soát” trong quản lý môi trường. Đây là biện pháp hữu hiệu, thường đưa lại kết
quả nhanh. Tuy nhiên “Mệnh lệnh-Kiểm soát” chưa tạo điều kiện để các
doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tối ưu là tuân thủ quy định của nhà nước về
bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền
kinh tế thị trường với mục đích điều hòa xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ môi trường. Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp
chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường va tuân thủ pháp luật thông qua
việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất kinh doanh va
giá thành sản phẩm. Đây là biện pháp đang được nhiều nước trên thế giới vận
dụng và đã đem lại những kết quả khả quan. Trong điều kiện của nướchiện
nay, khi mà ngân sách nhà nước còn khó khăn,khả năng bố trí kinh phí cho
các mục tiêu về quản lý, giữ gìn và bảo vệ môi trường còn hạn chế thì việc sử
dụng các công cụ kinh tế để huy đọng nguồn lực toàn xã hội tham gia bảo vệ
môi trường (thông qua các công cụ thuế,phí,các quỹ bảo vệ môi trường…) là
1
hướng đi đúng, vừa giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa giúp
đạt được các mục tiêu về bảo vệ môi trường với hiệu quả cao hơn.

3.2.3. Cấp giấy phép ô nhiễm chuyển nhượng........................................................18
3.2.4. Quỹ bảo vệ môi trường..................................................................................19
3.2.5 Một số công cụ kinh tế khác...........................................................................20
IV. Những giải pháp đẩy mạnh sử dụng các công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường
trong phát triển công nghiệp.............................................................................................22
4.1. Những giải pháp có tính chiến lược......................................................................22
4.1.1 Các giải pháp về chính sách............................................................................22
4.1.2. các giải pháp về thể chế.................................................................................24
4.1.3. Các giải pháp về nâng cao nhận thức cộng đồng..........................................25
4.2. Những giải pháp cần giải quyết trước mắt...........................................................27
KẾT LUẬN...............................................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................29
3
NỘI DUNG
I. Thực trạng ô nhiễm môi trường và quản lý môi trường trong phát triển
công nghiệp.
1.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa
học hoặc các dạng năng lượng như tiếng ồn, nhiệt, ánh sáng... tới mức độ gây
ảnh hưởng có hại cho sức khỏe con người, các cơ thể sống khác, hoặc hại cho
chính môi trường. Có 3 loại ô nhiễm môi trường chính là: Ô nhiễm môi
trường đất, ô nhiễm môi trường nước. và ô nhiễm môi trương không khí.
Ô nhiễm môi trường đất xảy ra khi các chất hóa học bị nhiễm đất qua các
hoạt động chủ động của con người như bón phân hóa học, phun thuốc trừ
sâu,... hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm. Ngày nay khi công nghiệp
càng phát triển, gày càng có nhiêu các loai thuốc trừ sâu, hay phân bón hóa
học được sử dụng… là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường cục bộ, làm
suy thoái môi trương đất. Thực tế cho thấy các loại đất bị thoái hóa chiếm hơn
50% diện tích của nước.
4

3
vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên
đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
5
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn. Theo ước tính, mỗi khu công nghiệp thải ra
khoang từ 3000-10.000 m nước thải/ngày đêm. Như vậy tổng lượng nước thải
công nghiệp của các khu công nghiệp trên cả nước lên khoảng 500.000-
700.000m3/ngày đêm.
Ô nhiễm không khí, nhiễm không khí là kết quả của sự thải ra không khí
các chất thải khí độc hại ở thể hơi, bụi, khí. Làm tăng đột biến các chất như
CO
2
, NO
X
, SO
X
...
Cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm không khí đang gia tăng ở
Việt Nam. Giải quyết vấn đề này khá phức tạp, đòi hỏi phải xác định được
mức độ ô nhiễm, nhận dạng các quy luật diễn biến chất ô nhiễm và nguồn
phát sinh để từ đó có hướng xử lý đúng.
Theo các chuyên gia môi trường, nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí
ngày càng gia tăng là do dân số, xe máy, ôtô, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp phát triển quá nhanh, nhất là không gian đô thị phát triển nhanh hơn hạ
tầng cơ sở.
. Thực tế cho thấy khói thải từ khí đốt các ngành công nghiệp, sinh hoạt
…đã và đang làm chất lượng không khí xấu đi. Theo thống kê của Cục Bảo
vệ Môi trường, một nhà máy có công suất 675 MW khi xây dựng xong, mỗi

đối với các cơ quan của Chính phủ. Các cơ quan này thường thiếu năng lực,
công cụ và tầm ảnh hưởng để làm cho việc bảo vệ môi trường trở thành một
nhân tố then chốt trong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, hiện tại chi phí xây dựng hệ thống chất thải cùng với việc chưa
có cơ chế hỗ trợ thỏa đáng từ phía nhà nước, là một trong những nguyên nhân
khiến các nhà đầu tư chậm triển khai hệ thống này. Ngoài ra, hệ thống pháp
luật về bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp còn chưa hoàn chỉnh.
Chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lý môi
trường theo các loại hình ô nhiễm rắn, lỏng, khí và chưa thích hợp với đặc
điểm của các KCN - đòi hỏi quản lý ô nhiễm theo từng ngành và theo cả hệ
7
thống trong KCN là chưa phù hợp. Quy định về thẩm định môi trường đối với
các dự án trong KCN chậm được đổi mới và không có chế tài mang tính bắt
buộc. Ngoài cơ chế hỗ trợ theo Quyết định 183 năm 2003 của Thủ tướng
Chính phủ, thì cơ chế hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý chất thải ở KCN vẫn
chưa được hình thành. Hơn nữa, việc có nhiều đầu mối quản lý KCN cũng
dẫn đến hiệu quả phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý môi trường trong
KCN chưa được tốt
Quản lý Nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường có vị
trí và vai trò cực kỳ quan trọng trong mối quan hệ giữa con người - xã hội - tự
nhiên: đó là vai trò quản lý, điều chỉnh, kiểm soát và giám sát việc khai thác,
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Cho nên, Việt Nam cần
phải có sự hợp tác khu vực và quốc tế trong việc giải quyết vấn đề môi
trường.
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các công cụ kinh tế nhằm
bảo vệ môi trường trong phát triển công nghiệp.
2.1. Cơ sở phương pháp luận.
2.1.1. Quan hệ tương tác giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Kinh tế và môi trường có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau.
Môi trường có quan hệ trực tiếp với kinh tế. Môi trường đóng một vai trò

khỏe con người.
2.1.2. Phát triển kinh tế bền vững.
Để đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế có tính ổn định và bền vững các
quốc gia cần phải đồng thời quan tâm tới 3 mục tiêu cơ bản là: mục tiêu kinh
tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường. Nếu nền kinh tế của quốc gia nào
thục sự đạt được 3 mục tiêu đó thì chính là nền kinh tế hướng tới sự phát triển
bền vững.
Như vậy để hướng tới một sự phát triển bền vững, các quốc gia đều phải
cân nhắc, tính toán, xem xét, cân bằng cả 3 mục tiêu đã nêu trên. Ba mục tiêu
9
này có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau. Phát triển
kinh tế nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu vật chất của con người trên cơ sở nâng
cao không ngừng tính hiệu quả, bảo đảm tính ổn định, vững chắc.
Bảo vệ môi trường nhằm duy trì và phát huy sự đa dạng sinh học, bảo
tồn các nguồn TNTN , ngăn chặn ô nhiễm là các tiền đề cơ bản bảo đảm cho
sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn xã hội. Để bảo vệ môi trường một
cách hữu hiệu các quốc gia cần tiến hành thường xuyên đánh giá tác động tới
môi trường của các hoạt động phát triển, tiền tệ hóa tác động môi trường của
chúng thông qua các công cụ có hiệu lực của nền kinh tế thị trường – các
công cụ kinh tế.
2.2. Cơ sở khoa học - thực tiễn.
2.2.1. Nguyên tắc PPP.
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ( tiếng Anh là popluter pays
principle, viết tắt là PPP ).
Theo nguyên tắc này thì người gây ra ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi
phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực
hiện,nhằm khắc phục và hoàn trả.
Nguyên tắc PPP xuất phát từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế
phúc lợi. Trong đó, nội dung quan trọng nhất đối với một nền kinh tế lý
tưởng là giá cả các loại hàng hóa và dịch vụ có thẻ phản ánh đày đủ các chi

chính sách hiệu quả về môi trường. Mục đích hướng tới của BPP là nhằm bảo
vệ môi trường, do đó công chúng ủng hộ rộng rãi.
III. Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm bảo vệ môi trường trong
phát triển công nghiệp.
3.1. Sự cần thiết phải sử dụng các công cụ kinh tế.
Các công cụ kinh tế là một trong số các công cụ của quản lý môi trường.
Chúng có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của
quản lý môi trường. Khi sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi
11

Trích đoạn Những giải pháp cần giải quyết trước mắt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status