Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học bằng ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việ - Pdf 25

Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
MỤC LỤC
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. I/ Lý do chọn đề tài 2
2. II/ Mục đích nghiên cứu 3
3. III/ Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. IV/ Đối tượng nghiên cứu 4
5. V/ Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4
6. VI/Phương pháp nghiên cứu 4
7. VII/ Đóng góp của đề tài 4
B.PHẦN NỘI DUNG
8. I/ Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
9. 1. Các khái niệm liên quan 4
10. 2. Vai trò, nhiệm vụ và nội dung GDTM cho HSTH 6
12. a. Vai trò của GDTM cho HSTH 6
13. b. Nhiệm vụ GDTM cho HSTH 6
14. c. Nội dung GDTM cho HSTH 7
15. 3. Bản chất của GDTM 7
16. II/ Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 8
17. 1. Đặc điểm nhân cách của HSTH 8
18. 2. Thực trạng 10
19. 3. Nguyên nhân 18
20. a. Nguyên nhân khách quan 18
21. b. Nguyên nhân chủ quan 18
22. 4. Một số giáo án về phân môn luyện từ cà câu ở Tiểu học 19
23. III/ Đề xuất một số giải pháp 25
26. 1. Đối với xã hội 25
27. 2. Đối với ngành GD 26
28. 3. Đối với nhà trường 27
29. 4. Đối với giáo viên 28
30. 5. Đối với gia đình 28

điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng
cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước. Để nhấn
mạnh vai trò của giáo dục tiểu học (GDTH), Luật phổ cập GDTH, điều 2,
chương I qui định: “ GDTH là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục
quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ,
thẩm mỹ và thể chất của các em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự
phát triển toàn diện nhân cách con người VN XHCN”. Đồng thời “GDTH
phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết,
tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con
người, có lòng nhân ái, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, yêu quí anh chị
em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè và
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 2 - GVHD: Th.s Võ Đình Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
các em nhỏ; yêu lao động; có kỉ luật, có nếp sống văn hoá, có thói quen
rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh, yêu quê hương đất nước, yêu hoà
bình.” (Điều 3, chương I – Luật phổ cập GDTH ). Đó chính là mục đích
giáo dục mà nền giáo dục Việt Nam đã, đang, và sẽ phấn đấu để thực
hiện.
Trong chúng ta, ai cũng biết rằng cái đẹp là hình mẫu lý tưởng, mẫu
mực mà con người luôn luôn hướng tới, lấy nó làm mục tiêu phấn đấu,
làm tiêu chuẩn để tu dưỡng bản thân. Muốn đạt được mục đích này con
người đã phải rèn luyện, học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để chắt lọc, sắp
xếp “ cái đẹp” thành một hệ thống chặt chẽ.Đó là sản phẩm quý giá nhất
của con người và được con người gìn giữ, bảo vệ để truyền đạt cho thế hệ
mai sau. Trong hệ thống “cái đẹp” đó thì ca dao, tục ngữ là hai loại hình
văn học dân gian gần gũi, quen thuộc nhất đối với học sinh tiểu học
(HSTH). Do đó, việc đưa ca dao, tục ngữ vào chương trình GDTH là điều
cần thiết.
Trước sự phong phú, đa dạng của cuộc sống, với học sinh tiểu học,
các em chưa có khả năng để phân biệt chân chính với cái đẹp phi văn

V. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.
- Giáo dục bằng ca dao, tục ngữ.
VI. Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc tài liệu và phân tích, tổng hợp, khái quát vấn đề cần nghiên cứu.
- Trò chuyện.
- Lấy ý kiến chuyên gia.
VII. Đóng góp của đề tài:
Đề tài góp phần đưa ra một số ý kiến chia sẻ với đồng nghiệp về
việc GDTM cho HSTH bằng ca dao, tục ngữ. Từ đó nhằm thu hút học
sinh đến với “cái đẹp”, bồi dưỡng tích cực cho học sinh những hiểu biết
nhất định về việc giữ gìn và bảo vệ “cái đẹp”, đưa “cái đẹp” vào trong
cuộc sống hằng ngày.
B.PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu:
1. Các khái niệm liên quan:
a. Giáo dục là gì?
Giáo dục là sự truyền thụ những và lĩnh hội hệ thống kinh nghiệm
xã hội bao gồm: tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, niềm tin, hành vi, thói quen đạo
đức, kĩ năng lao động, kinh nghiệm ứng xử, những hiểu biết và thói quen
về cuộc sống, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và các kĩ năng thích
nghi (theo giáo dục học). Đó là một quá trình hình thành nhân cách toàn
vẹn, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch thông qua các hoạt
động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục,nhằm
chiếm lĩnh những kinh nghiệm và hội của con người. Vì thế, giáo dục là
một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện của hiện tượng giaó dục
trong xã hội là nhu cầu tất yếu của lịch sử.
b.Thẩm mỹ là gì?
Theo giáo dục học, thẩm mỹ là cảm quan về cái đẹp, là sự hiểu
biết và thưởng thức cái đẹp. Thẩm mỹ có được là nhờ con người biết nhìn

- Tình cảm thẩm mỹ gồm những rung cảm thẩm mỹ,
những phản ứng nhanh chóng và tinh tế về mặt xúc cảm
và tình cảm, tính nhạy cảm đối với cái đẹp và cái không
đẹp.
- Lý tưởng thẩm mỹ gồm quan điểm về cái đẹp một cách
hoàn thiện nhất, kiểu mẫu nhất, lôi cuốn con người vươn
tới.
- Hứng thú và nguyện vọng xây dụng cái đẹp theo qui luật
cái đẹp.
- Năng lực sáng tạo cái đẹp là trình độ, khả năng sáng tạo
ra cái thẩm mỹ.
d. Ca dao là gì?
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 5 - GVHD: Th.s Võ Đình Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
Xét trên lĩnh vực văn học thì ca dao là phần lời của dân ca dùng để
chỉ những bài thơ được sáng tác theo phong cách nghệ thuật của ca dao
truyền thống. Đó là những câu hát trữ tình, êm ả viết về tình yêu quê
hương, đất nước, về tình cảm gia đình, về lao động và nếp ứng xử trong
cuộc sống. Tất cả đều là những tâm tư, tình cảm của ông cha ta đối với
nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Những tình cảm ấy luôn gắn với ruộng
đồng, với nghề nông truyền thống, nó mộc mạc, chất phát và chân quê.Ca
dao là một hình thức truyền miệng trong dân gian nhưng vẫn giữ được
cái thần, cái hồn vốn có của nó.
e.Tục ngữ là gì?
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, thường có vần nhằm
đúc kết tri thức, những kinh nghiệm, những lời khuyên răn về đạo lý làm
người, về cách cư xử với thiên nhiên, về lối ứng xử với mọi người xung
quanh, về tình yêu đối với lao động……… Người ta có thể gọi tục ngữ
là một hình thức nghệ thuật truyền miệng nhưng lại là một thể loại triết lý
dân gian độc đáo.

đẹp của bản thân mà chúng ta hình thành năng lực cảm thụ cái đẹp, giúp
học sinh có những rung cảm thẩm mỹ nhất định. Từ đó, phát triển những
rung cảm thành tình cảm thẩm mỹ cho học sinh. Có tình cảm thì con
người mới có động lực để tìm tòi chân lý, hướng tới cái đẹp trong cuộc
sống.
- Bồi dưỡng cho học sinh có nhu cầu và khả năng sáng tạo cái đẹp.
Hiểu biết về cái đẹp, rung động và có tình cảm sâu sắc, mạnh mẽ về cái
đẹp sẽ nảy sinh mong muốn xây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp.
Giúp học sinh biết thưởng thức cái đẹp và có nhu cầu đưa cái đẹp vào
trong cuộc sống của mình. Đồng thời chúng ta còn phải giúp học sinh
biết sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo những đồ vật và những sản phẩm có giá
trị thẩm mỹ cũng như đưa cái đẹp vào trong quan hệ hằng ngày của cuộc
sống người học sinh.
- Phát hiện và bồi dưỡng năng lực sáng tạo thẩm mỹ: phát hiện
sớm và chính xác những trẻ em có năng khiếu thông qua các hoạt động
thẩm mỹ đa dạng và phong phú là sự mở đầu quan trọng cho quá trình
đào tạo nhân tài trong các lĩnh vực của hoạt động thẩm mỹ.Tạo điều kiện
thuận lợi cho trẻ học tập và rèn luyện để phát triển năng lực và những
phẩm chất cần thiết cho lĩnh vực hoạt động mà trẻ có năng khiếu cần
được quan tâm khi trẻ còn là HSTH. Các thầy cô giáo cần giúp đỡ, định
hướng và khuyến khích học sinh phát huy năng khiếu thẩm mỹ của mình.
c.Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho HSTH:
- Giáo dục lòng biết ơn, sự kính trọng đối với ông bà, cha mẹ và
thầy cô giáo.
- Giao dục tình cảm yêu thương, gắn bó giữa anh chị em trong gia
đình.
- Giáo dục tình yêu đối với làng xóm, quê hương, đất nước.
- Giaó dục cách ứng xử đối với mọi người xung quanh.
- Giáo dục tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ những người
gặp khó khăn trong cuộc sống.

Ngoài ra, để có thể giáo dục con người phát triển một cách toàn diện thì
cùng với việc bồi dưỡng và ổn định khả năng thưởng thức cái đẹp,
GDTM phải tạo khả năng sản xuất ra cái đẹp, không những chỉ phản ánh
đúng cái đẹp, GDTM phải tạo khả năng sản xuất ra cái đep, không những
chỉ phản ánh cái đẹp của thế giới mà còn cần sáng tạo thêm cho thế giới
những cái đẹp mới.
II.Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
1. Đặc điểm nhân cách của HSTH:
*Tính cách:
HSTH thường có nhiều nét tính cách tốt như: hồn nhiên, ham hiểu
biết, có lòng thương người , lòng vị tha hồn nhiên trong quan hệ với mọi
người, với thầy cô, với người lớn, với bạn bè. Vì hồn nhiên nên các em
rất dễ tin người, niềm tin của các em còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng
dẫn dắt. Tuy nhiên HSTH cũng có một số nhược điểm : hay bất thường,
bướng bỉnh. Ở lứa tuổi này, tính bắt chước của các em còn đậm nét. Các
em thường bắt chước những cử chỉ, hành động , của những người mà các
em xem là thần tượng. Tính bắt chước của trẻ lợi hại như con dao hai
lưỡi, cũng có thể tích cực cũng có thể “lợi bất cập hại”. Do đó, khi giáo
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 8 - GVHD: Th.s Võ Đình Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
dục các em cần phải hiểu biết thấu đáo và tận dụng tính bắt chước của trẻ
để nâng cao hiêu quả.
*Nhận thức:
Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em từ tuổi thơ ,đến
lớp mẫu giáo, thì nhu cầu này phát triển mạnh. Bước sang lứa tuổi tiểu
học, nhu cầu nhận thức của các em thể hiện rõ nét nhất, đặc biệt là nhu
cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọí thứ có liên
quan. Nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của trẻ em .
Nếu không có nhu cầu thì HSTH cũng không có tính tích cực trí tuệ.
Thường thì nhu cầu nhận thức là nhu cầu tự nhiên của trẻ nhưng nếu nội

SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 9 - GVHD: Th.s Võ Đình Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng độ tuổi, cùng
lớp và cùng cấp học, HSTH lĩnh hội các chuẩn mực và qui tắc đạo đức
của hành vi. Những biến đổi cơ bản quan trọng trong sự phát triển tâm lý
của HSTH chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc
sống ở tuổi thiếu niên – tuổi học sinh THCS. Vì thế, chúng ta cần có sự
quan tâm, định hướng đúng đắn tác động đến trẻ nhằm hình thành và phát
triển nhân cách cho trẻ một cách tốt nhất.
2.Thực trạng:
Đồng chí Lê Duẩn – Tổng bí thư của Đảng từng nói: “Cái đẹp là
yêu cầu sống, là cái đẹp góp phần tạo ra ý chí và tình thương một cách
bền vững và sâu sắc……”(Báo Nhân dân ngày 29 tháng 12 năm 1978).
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng cũng đã đặt vấn đề:
“Đưa cái đẹp vào trong lao động sản xuất và đời sống hằng ngày.”
Nhưng làm thế nào để đưa cái đẹp vào trong lao động sản xuất và đưa cái
đẹp vào trong đời sống hằng ngày? Đó chính là công việc nặng nề của
toàn bộ sự nghiệp cách mạng hiện nay, trong đó sự nghiệp GDTM giữ
vai trò khá quan trọng.
Như chúng ta đã biết, trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục đã
thu được những thành tích đáng kể trong công tác bồi dưỡng tri thức và
giáo dục tư tưởng. Tuy nhiên, về công tác giáo dục đạo đức và đặc biệt là
GDTM chúng ta triển khai chưa mạnh, chưa sâu và hiệu quả còn thấp. Vì
thế mà chưa chuẩn bị tốt về phẩm chất và tài năng cho mỗi thế hệ trong
lao động sản xuất, trong xây dựng CNXH với tư cách là ngừơi làm chủ.
Những hiện tượng tiêu cực, lối sống thiếu văn minh, các hành động vô
văn hoá còn xảy ra trong xã hội đòi hỏi chúng ta phải đưa cái đẹp vào
trong lao động sản xuất, vào đời sống hằng ngày, hơn bao giờ hết phải
tăng cường sự nghiệp GDTM cho thế hệ trẻ nước ta.
Khi nói về năng khiếu âm nhạc của mình, cố nhạc sĩ Trịnh Công

Như chúng ta đã biết thì cái đẹp không chỉ là những biểu hiện bên
ngoài của sự vật, hiện tượng mà còn là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp
của con người. Chính vì lẽ đó mà GDTM luôn hướng tới việc hòan thiện
nhân cách cho HSTH. Để đạt được mục đích đó thì GDTM trước tiên
phải giáo dục cho các em có lòng biết ơn đối với ông bà, cha mẹ và thầy
cô. Vì họ là những người đã có công sinh thành, chăm sóc và dưỡng dục
các em nên người.
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
Những câu ca dao này đã rất quen thuộc với các em HSTH. Nếu
như thầy cô giáo biết tận dụng nó trong giờ dạy của mình thì sẽ đem lại
hiệu quả rất cao. Thế nhưng trên thực tế thì những bài học chứa đựng
trong ca dao – tục ngữ chưa được phát huy hết tác dụng. Ví dụ như câu
ca dao:
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.”
(Tiếng Việt 5 – tập 2, trang 92)
Trong sách TV lớp 5 – tập 2 câu ca dao trên xuất hiện trong phần
luyện từ và câu, tên bài là: “Mở rộng vốn từ: Truyền thống”. Với nội
dung giảng dạy mà giáo viên đã sọan trong giáo án thì chỉ đề ra yêu cầu
là các em học sinh phải làm quen và ghi nhớ được các câu tục ngữ đã nêu
trong bài. Để thực hiện yêu cầu đó thì giáo viên sẽ cho các em tham gia
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 11 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
trò chơi điền từ còn thiếu vào các câu ca dao – tục ngữ để hòan chỉnh nó,
đồng thời điền từ đó vào ô chữ đã được kẻ sẵn. Như thế thì giáo viên sẽ
không giải thích gì thêm về nội dung của các câu ca dao – tục ngữ đó.

cha mẹ thì việc giáo dục tình cảm yêu thương gắn bó giữa anh chị em
trong gia đình cũng là một nội dung khá quan trọng. Tục ngữ có câu:
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.”
Anh chị em là những người cùng chung huyết thống, cùng sống
trong một gia đình. Vì lẽ đó mà anh chị em cần phải thương yêu nhau,
nhường nhịn và giúp đỡ lẫn nhau. Do đó, giáo viên cần giúp các em có
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 12 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
thái độ đúng đắn đối với mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình. Là
anh trai, chị gái thì phải biết nhường nhịn em nhỏ; là em thì phải biết
vâng lời và thương yêu anh chị.Có như vậy thì gia đình mới hòa thuận và
vui vẻ được. Để làm được điều đó thì gia đình và giáo viên phải có sự
định hướng cho các em từ bây giờ, chỉnh sửa ngay trong cách xưng hô.
Nhiều gia đình hiện nay không quan tâm đến việc đó, thế nhưng chính
cách xưng hô lại thể hiên được mối quan hệ giữa anh chị em trong gia
đình. Có xưng hô đúng vai vế thì mới cư xử đúng mực được.
Người ta thường nói: “Thương nhau như chị em gái”
(Tiếng Việt lớp 4 – tập 1 – trang 33)
Hay
“Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”
(Tiếng Việt lớp 3 – tập 1 – trang 54)
Điều này cho thấy rằng mối quan hệ giữa anh chị em trong gia đình là
một vấn đề quan trọng. Vì thế, trong giờ học thì giáo viên nên giải thích,
làm rõ nghĩa các câu CD – TN có liên quan nhằm giúp học sinh có được
thái độ đúng đắn trong mối quan hệ với anh chị em trong gia đình.
Một khía cạnh khác trong vấn đề GDTM cho HSTH thông qua CD
– TN là giáo dục tình yêu làng xóm, quê hương, đất nước. Hai tiếng “quê

thẩm mỹ của các em, vừa giới thiệu cho các em biết thêm về đất nước lại
vừa nâng cao lòng tự hào dân tộc, tự hào về những truyền thống tốt đẹp
của quê hương trong các em.
Không những thế học sinh còn được giáo dục cách ứng xử với mọi
người xung quanh.
“Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu.”
(Tiếng Việt lớp 4 – tập 1 – trang 49)
Trên thế giới này, con người sống với nhau cốt ở tấm lòng và cách
cư xử hợp tình, hợp lý. Chính vì thế mà việc cư xử trong các mối quan hệ
xã hội cần được quan tâm, chú trọng. Với HSTH thì việc xây dựng các
mối quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là cơ sở quan trọng để các em phát triển
một cách toàn diện, đầy đủ. Do đó, trong quá trình giảng dạy thì giáo
viên cần phải chú trọng đến việc giáo dục ứng xử cho các em.
Qua câu tục ngữ trên giáo viên phải tác động đến ý thức của các
em một cách triệt để, phải ho học sinh biết được tầm quan trọng của việc
ứng xử. Đồng thời có thể đưa ra thêm một số câu CD – TN giáo dục cách
ứng xử để các em hiểu rõ hơn về vấn đề này. Chẳng hạn như:
“Chim khôn kêu tiếng rảnh ran
Người khôn nó tiêng diu dàng dễ nghe”
Hay
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Có như thế thì học sinh mới có thể điều chỉnh hành động lời nói
của mình trong cách ứng xử của mình cho phù hợp. Nhưng điều quan
trọng hơn nữa là giáo viên cần phải làm gương cho học sinh noi theo.
Người dạy không thể hướng học sinh của mình đến những điều tốt đẹp
mà bản thân lại có những cư xử không đúng. Làm như thế học sinh sẽ
không tôn trọng và sẽ không vâng lời.
Trên trên thực tế thì HSTH rất hồn nhiên, hòa đồng, do vậy mà

việc giúp đỡ, quan tâm, chia sẻ với những hòan cảnh kho khăn trong cuộc
sống. Đó là một nền tảng tốt đẹp chho việc hòan thiện nhân cách của các
em sau này. Giáo viên cần phải biết tận dụng nó, đồng thời trong quá
trình giảng dạy phải có sự tác động tích cực đến tình cảm thẩm mỹ của
các em. Không những dạy lý thuyết suông mà giáo viên cần phải đưa ra
những việc làm cụ thể những hoạt động thực tế để các em có thể tiếp cận
thực tế. Từ đó rút ra bài học cho bản thân.
Trong những năm qua, công tác giáo dục tinh thần tương thân
tương ái cho HSTH đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nhiều
trường tiểu học hiện nay đã xây dựng quỹ nhân đạo hằng tuần và mỗi lớp
trong trường đều tham gia rất tích cực. Các em đã biết tiết kiệm tiền quà
vặt mỗi ngày để đóng góp quỹ đó vào cuối tuần hoặc đóng góp đồ dùng
học tập, sách giáo khoa cũ, quần áo cũ … để giúp đỡ các bạn vùng lũ lụt,
vùng biên giới, hải đảo….Những việc làm đó rất thiết thực, thể hiện được
nét đẹp trong tâm hồn của các em. Đồng thời, với những hoạt động đó,
tinh thần của các em sẽ được nuôi dưỡng tạo thành một nền tảng trong
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 15 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
việc hình thành tình thương yêu, sự đồng cảm đối với những số phận kém
may mắn trong cuộc sống.
Tuy nhiên bên cạnh những hoạt động nhân đạo ấy vẫn còn một số
em có những hành động không tốt trong việc đối xử với những người gặp
khó khăn trong cuộc sống. Nhiều em học sinh khi thấy người tàn tật,
người lang thang xin ăn thì lại trêu chọc, đùa giỡn với ý khinh miệt, xem
thường. Việc này đã gây ra ác cảm đối với những người xung quanh, họ
sẽ cho rằng học sinh ngày nay không còn được giáo dục tốt nữa…… Đó
là nhữn vấn đề đáng lo ngại đối với GDTM, giáo dục đạo đức nói riêng
và đối với giáo dục tiểu học nói chung.
Làm thế nào để HSTH ngày càng có những hành động đẹp trong

Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Đẩy mạnh hơn nữa việc giáo
dục lao động trong nhà trường là khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp
giáo dục XHCN nhằm đào tạo thế hệ trẻ không những có kiến thức khoa
học mà còn có kiến thức cơ bản về kĩ thuật sản xuất công nghiệp và nông
nghiệp, những thói quen lao động sẵn sàng bước vào công cuộc xây dựng
CNXH (Theo văn hóa nghệ thuât là một mặt trận – HCM.NXB Văn học
Hà Nội năm 1981, trang 252). Chính vì thế mà ở trường tiểu học các em
đã được nhà trường tổ chức lao động sân trường hoặc đường phố. Từ
những hoạt động đó, HSTH sẽ được giáo dục tình yêu đối với lao động.
Đồng thời các em sẽ có cái nhìn rõ nét hơn về việc giữ gìn vệ sinh đường
phố, trường học xanh – sạch – đẹp.
Tuy nhiên bên cạnh đó nhiều em vẫn chưa có ý thức về lao động.
Các em thiếu sự tôn trọng đối với những người lao công, những người
buôn bán ve chai……Do đó giáo viên cần phải chấn chỉnh học sinh tiểu
học trong vấn đề này, phải khuyên bảo các em không được xem thường
những người lao động trên hè phố. Tất cả những việc làm đó đều đem lại
cuộc sống tốt đẹp cho chúng ta nên phải biết quí trọng và ghi nhớ.
Mặt khác, lao động không chỉ là công việc quét dọn, làm vệ sinh
đường phố, làm việc trong công sở hay công truờng mà học tập cũng là
lao động. Trên thực tế HSTH đã được giáo dục tinh thần học tập rất tốt,
nhiều em đã có tinh thần học tập. Mặc dù không được bố mẹ, anh chị
nhắc nhở nhưng các em vẫn học tập xuất sắc, rất đáng khen. Thế nhưng,
bên cạnh những thành tích đã đạt được thì ngành giáo dục cúng đã gặp
phải một thực tế đáng lo ngại rằng: tỉ lệ học sinh bỏ học ngày càng nhiều.
Theo ông Phạm Ngọc Đình – Phó vụ trưởng vụ GDTH, Bộ GD - ĐT cho
biết: “Sau khi khai giảng năm học 2008 – 2009 đã có 61 trên 63 tỉnh,
thành phố báo cáo về tình trạng học sinh bỏ học ở cấp Tiểu học. Theo đó,
ngay từ đầu năm học 2008-2009 đã có 18701 học sinh bỏ học trên tổng
số 6,6 triệu hoc sinh chiếm tỉ lệ 0,28%. Tuy nhiên so với năm học trước

mang tính phản giáo dục xuất hiện ngày càng nhiều. Hàng lọat những
lọai “phim đen” trên mạng đã cuốn hút học sinh hơn là những bài CD –
TN.Tất cả những tệ nạn đó đã làm cho HSTH quên đi nhiệm vụ học tập
của mình, ngày càng xa rời các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc.
b.Nguyên nhân chủ quan:
 Ca dao – tục ngữ là những kinh nghiệm, những tình cảm gắn bó,
tha thiết đối với quê hương mà ông cha ta để lại. Đó là một kho
tàng quí báu. Thế nhưng trong chương trình học của HSTH, ca dao
– tục ngữ xuất hiện rất hạn chế. Việc này khiến cho HSTH không
có sự tiếp xúc thường xuyên, không được có cơ hội tìm hiểu kĩ về
ca dao tục ngữ. Do đó, đối với ca dao, tục ngữ - một nét đẹp riêng
của văn học dân tộc, các em chưa thật sự được cọ xát; tình yêu đối
với ca dao – tục ngữ còn chưa được hình thành.
 Các thầy cô giáo chưa phát huy hết vai trò của ca dao – tục ngữ
trong giờ học, chưa đưa ca dao – tục ngữ đến gần với các em do đó
chưa tác động đến tình cảm thẩm mỹ của các em một cách sâu sắc.
 Giữa gia đình, nhà trường và xã hội thiếu sự đồng bộ trong việc
phối hợp với nhau để tạo thành một hệ thống quản lý các em. Chưa
có sự định hướng rõ ràng để các em xa rời những yếu tố phi văn
hóa, đồi trụy để quay về với những cái đẹp chân chính.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 18 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
 Các em học sinh còn thụ động trong việc tìm hiểu về ca dao, tục
ngữ. Các em chưa để ý đến những cảnh đẹp xung quanh mình,
những hành vi ứng xử tốt đẹp hay những việc làm mang ý nghĩa
nhân đạo sâu sắc, chưa có sự rèn luyện, khám phá để trau dồi năng
lực thẩm mỹ của mình.
4.Một số giáo án về phân môn luyện từ và câu ở tiểu học:

SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 19 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
3. Bài mới
a.Giới thiệu
bài.
b.Phát triển
bài.
* Bài tập 1:
* Bài tập 2:
- GV giới thiệu bài.
-GV yêu cầu HS đọc yêu cầu
bài tập 1.
- GV chia 4 nhóm và tổ chức
thảo luận.
- GV phát phiếu học tập.
- GV yêu cầu đại diện nhóm
lên báo cáo kết quả.
- GV cho các nhóm nhận xét
và chốt lại.
Hiền Ác
Hiền dịu
Hiền đức
Hiền hậu
Hiền lành
……
Hung ác
Độc ác
Ác ôn
Ác nghiệt

bày.
- HS theo dõi.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 20 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
* Bài tập 3:
* Bài tập 4:
+ -
Nhân hậu - Nhân từ
- Nhân ái
- Hiền
hậu
- Phúc
hậu
- Đôn
hậu
- Trung
hậu.
- Độc ác
- Tàn ác
- Hung ác
- Tàn bạo
Đòan kết - Cưu
mang
- Che chở
- Đùm
bọc
- Bất hòa
- Lục
Đục

- Lớp nhận xét.
- HS lắng nghe.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 21 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
Câu Nghĩa
đen
Nghĩa
bóng
1. Môi hở
răng lạnh
Môi và
răng là hai
bộ phận
trong
miệng
người.Môi
che
chở,bao
bọc bên
ngoài
răng.Môi
hở thì
răng lạnh.
-Những
người ruột
thịt,gần gũi
thì phải che
chở, đùm
bọc nhau.

hở
Người khỏe
mạnh, cưu
mang, giúp
đỡ người
yếu.Người
may mắn
giúp đỡ
người bất
hạnh.Người
giàu có
giúp đỡ
người
ngheo khó.
4. Củng cố,
dặn dò
- GV tổng kết nhận xét tiết học
- Dặn dò các em về đọc lại các câu
thành ngữ và giải nghĩa các câu
thành ngữ đó.
-HS lắng nghe.
- HS thực hiện.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 22 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
- Liên hệ giáo dục HS.
- Yêu cầu HS về học thuộc lòng
các câu thành ngữ, tục ngữ ở bài
tập 3 và 4,
- Chuẩn bị bài cho tiết học sau.

- Lớp nhận xét.
3. Bài mới
a. Giới thiệu
bài.
b. Hướng dẫn
- GV giới thiệu bài. - HS lắng nghe.
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 23 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
làm bài tập.
*Bài tập 1:
* Bài tập 2:
- Gọi một HS đọc yêu cầu bài
tập 1.
- Cho HS thảo luận nhóm
đôi.
- Gọi 3 HS lên bảng làm bài
tập.
- GV cho HS nhận xét bài
làm trên bảng.
- GV nhận xét, kết luận, tìm
lời giải đúng.
*GV minh họa:
- Yêu nước: “Giặc đến nhà,
đàn bà cũng đánh”.
- Lao động cần cù: “Có làm
thì mới có ăn
Không dưng ai dễ mang
phần đến cho”.
- Đòan kết: “Một cây làm

HS tìm.
- GV gọi tên nhóm đã tìm ra
- HS lắng nghe, tìm từ
còn thiếu, điền vào ô
chữ cho phù hợp.
- Cử đại diện nhóm
SVTH: Nguyễn Thị Tường Vi - 24 - GVHD: Th.s Võ Đình
Dũng
Đề tài: GDTM cho HSTH ca dao, tục ngữ thông qua môn học Tiếng Việt
4.Củng cố, dặn
dò.
kết quả.
- GV nhận xét đúng – sai.Nếu
đúng thì cho điền vào ô
chữ.Nếu sai thì bỏ qua và cho
tìm từ tiếp theo.
- GV nhận xét và tuyên
dưong nhóm thắng cuộc,và
đưa ra đáp án cuối cùng.
- GV cho HS đọc lại toàn bộ
những câu CD-TN trong bài.
- GV giải thích nghĩa của các
câu CD-TN và liên hệ giáo
dục phải biết “nhớ nguồn”,
ghi nhớ công ơn của những
người đã đem lại ấm no, hạnh
phúc cho cuộc sống.
- Nhận xét tiết học.
- Dặn các em học thuộc lòng
những câu CD-TN trong bài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status