MỤC LỤC
Phần 1 :Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Mục đích nghiên cứu
5. Giả thuyết nghiên cứu
6. Các phương pháp nghiên cứu
Phần 2. Cơ sở lý luận chung
1. Các khái niện cơ bản
1. Khái niệm nhận thức
2. Khái niệm nhu cầu
3. Khái niệm định kiến xã hội
4. Nhận thức chung về đối tượng chấp hành xong hình phạt tù
5. Khái niệm tái hoà nhập cộng đồng
6. Khái niệm tự đánh giá.
2. Một số đặc điểm tâm lý trong quá trình tái hoà nhập cho những người đã
chấp hành xong hình phạt tù
Phần 3. Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
1
PHẦN 1 : PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong hình phạt tù (người
tù tha) là vấn đề từ lâu đã mang tính xã hội và thời sự. Hình phạt tù là hình
phạt cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội đưa họ vào môi trường trại giam để
quản lý và giáo dục tập trung theo quy định của pháp luật. Sau khi ra tù trở về
với cuộc sống đời thường liệu người tù tha có thực sự hòa nhập với gia đình,
với cộng đồng ổn định cuộc sống, trở thành công dân có ích cho xã hội? Đây
là vấn đề không chỉ của bản thân đối tượng được tha tù trở về, của gia đình họ
mà nó là vấn đề nhà nước và xã hội cùng quan tâm. Đây là giai đoạn sau của
Về phía chủ quan, việc không ít những người tù tha này họ nhận thúc
về đặc điểm nhân thân của họ, đặc điểm tâm lý rất thường gặp ở người tù tha
trở về là thái độ mặc cảm, tự ti, e ngại tiếp xúc với cộng đồng. Hơn nữa do
đặc điểm về trình độ văn hóa của các đối tượng này thường thấp chủ yếu là
văn hóa cấp I, II chiếm 70%, cấp III chiếm 28%, cấp III trở lên chỉ chiếm 2%.
Chính sự hạn chế trình độ văn hóa làm người tù tha trở về khó nhận thức đúng
đắn quá trình trở về làm lại cuộc đời và hũa nhập với cộng đồng nơi mình
đang sinh sống. . . đồng nghĩa với điều trên là là đồng nghĩa với việc không
tán đồng với những chuẩn, quy phạm đạo đức của xã hội, có thái độ bất cần
và xem thường những chuẩn mực đó.
Như vậy, có thể thấy rằng quá trình tái hoà nhập của người tù tha sẽ
không có hiệu quả nếu như họ nhận thức không đầy đủ về quá trình tái hoà
nhập xã hội cũng như hình thành cho mình tư thế tích cực hoàn lương trong
quá trình trở về địa phương hoà nhập với cộng đồng.
3
Với lý do trên em đã lựa chọn nội dung : "Nhận thức của những
người sau khi chấp hành xong hình phạt tù về quá trình tái hoà nhập cộng
đồng" làm đề tài Niên luận nhằm làm sáng rõ những nhận thức chung, và thực
tiễn thi hành công tác này ở nước ta hiện nay và thực trạng tái hoà nhập của
các đối tượng tù tha hiện nay. Qua đó đóng góp một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện các chính sách pháp luật, xã hội về vấn đề này.
2. Đối tượng nghiên cứu :
Tìm hiểu nhận thức của những người sau khi chấp hành xong hình phạt
tù về quá trình tái hoà nhập cộng đồng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu nhận thức của những người sau khi chấp hành xong hình phạt
tù về quá trình tái hoà nhập cộng đồng :
3.1. Nhận thức về nhu cầu tái hoà nhập cộng đồng của các đối tượng là
tù tha trên cơ sở các chính sác đãi ngộ của Nhà nước và Pháp luật nước ta
hiên nay.
1. Khái niệm nhận thức
Trong quá trình hoạt động của con người nhận thức là một hoạt động
không thể thiếu, nhận thức phản ánh hiện thực xung quanh và chính bản thân
mình. trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động. Như vậy
nhận thức càng sâu sắc, càng tích cực thì càng có cơ sở để có thể tiến hành
những hành động phù hợp. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp cứ nhận
thức đúng sẽ đi đến hành động đúng.
Theo Can-Tơ nhà triết học cổ điển Đức- cả trong các hệ thống của chủ
nghĩa kinh nghiệm duy vật, nhận thức được xem xét như kết quả của hoạt
động tư duy của chủ thể nhằm thấu hiểu thế giới bên ngoài. "Can Tơ muốn
xây dưng một quan niệm nhận thức riêng của mình, đã đi đến kết luận rằng
quan hệ của nhận thức cảm tính với nhận thức giác tính hay lý tính không phải
là bậc thấp với bậc cao; Chúng đều là hai hành động khác nhau của trí tuệ.
Ông cho rằng để hiểu được bản chất của nhận thức thì cần phải nghiên cứu
chính bản thân tri thức. Can Tơ là người muốn nhấn mạnh tính tích cực của
chủ thể trong nhận thức".
Nhờ hoạt động nhận thức, chúng ta không chỉ phản ánh hiện tượng
xung quanh ta mà cả bản thân, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã
qua và sắp tới, quy luật phát triển của hiện thực. Nghĩa là hoạt động của nhận
thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, mức độ phản ánh khác nhau :cảm
giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng. . . những quá trình này sẽ cho chúng ta
những sản phẩm khác nhau (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm) toàn bộ hoạt
động nhận thức có thể chia thành hai giai đoạn lớn :
+ Giai đoạn nhận thức cảm tính bao gồm cảm giác và tri giác.
6
+ Giai đoạn nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ và tác động bổ sung
cho nhau.
V. I. Lênin đã rút ra kết luận cho hoạt động nhận thức đó là :"từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó
là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý của sự nhận thức hiện thực
lương hoà nhập với cộng đồng. Như vậy nhận thức đúng và hành vi đúng sẽ
tạo nên một nhân cách đúng và một nhân cách lệch chuẩn khi nhận thức sai và
đẩy đến hành vi sai.
2. Khái niệm nhu cầu :
Theo từ điển tâm lí học thì " nhu cầu có nghĩa là điều kiện cần thiết để
đảm bảo tồn tại và phát triển. Được thoả mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó
chịu, căng thẳng ấm ức. Có nhu cầu cá nhân, có nhu cầu chung của tập thể,
khi hoà hợp, khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản; thiết yếu, giả tạo" (Nguyễn
Khắc Viện, Từ điển Tâm lí học, NXB Thế giới, trang 259-260)
Nhu cầu của cá nhân sẽ thay đổi khi trình độ phát triển của xã hội thay
đổi. Cho nên cần xác định rõ những tiêu chuẩn sinh lí, xã hội, tâm lí để phân
biệt những nhu cầu xác đáng với những ham muốn, đòi hỏi không quan trọng.
Nhu cầu là nhân tố xác định hành động của con người với mỗi nội dung
của nhu cầu sẽ hình thành hành động của mỗi cá nhân và từ nội dung của nhu
cầu nó sẽ quyết đinh, thúc đẩy hành động của con người. Khi nhu cầu được
thoả mãn sẽ làm nảy sinh những cảm xúc dương tính, tạo cho sự phát triển
nhân cách của cá nhân hoàn thiện. Và khi cách thức thoả mãn nhu cầu lệch
lạc, hoặc không thể thoả mãn dẫn tới những cảm xúc âm tính, là nguyên nhân
nảy sinh những lệch chuẩn về hành vi nhân cách. Hay rõ ràng hơn là nhu cầu
luôn bộc lộ ở hai chiều hướng : tích cực và tiêu cực. Nhu cầu được xem là tích
8
cực khi nó phù hợp với chuẩn mực xã hội, cộng đồng, bằng những cách thức
phù hợp trong điều kiện của bản thân, xã hội để thoả mãn thì sẽ xuất hiện
những hành vi phù hợp với chuẩn mực tạo nên sự phát triển nhân cách. Ngược
lại nhu cầu tiêu cực nảy sinh khi nó không còn phù hợp với những chuẩn mực
xã hội, cách thức để thoả mãn nó không phù hợp và dẫn đến những hành vi
lệch chuẩn.
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để
tồn tại và phát triển. Nhu cầu của con người có những đặc điểm cơ bản sau :
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng. Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có
Định kiến thường được hình thành trong gia đình, môi trường giáo dục
của nhà trường, các phương tiện truyền thông một cách vô thức hay có ý thức.
Định kiến là phân biệt đối xử do sự không ngang nhau về trình độ văn
hoá, hoàn cảnh sống, tri thức, vị trí kinh tế- xã hội đẫn đến định kiến bản thân
làm thay đổi hình ảnh của bản thân thể hiện ở sự căm ghét bản thân mình, làm
méo mó hình ảnh của bản thân. Định kiến dẫn đến sự phân biệt đối xử với
người khác do hiệu ứng Pygmalyon (nhà điêu khắc Hy Lạp ) là quá trình hình
thành ở người khác những đặc điểm mà thực chất họ không có nhưng người
giao tiếp lại nghĩ họ có.
Tóm lại : Định kiến xã hội là suy nghĩ, thái độ có sẵn đối với một
người, một nhóm người, một dân tộc hay một vấn đề nào đó. Định kiến xã hội
có hai mặt. Thứ nhất, định kién xã hội làm đơn giẩn hoá quá trình xã hội hoá
người khác, làm cản trở sự hiểu biết các đối tượng xã hội một cách chính xác.
Thứ hai, định kién xã hội dẫn đến thái độ đối xử không đúng làm cho việc tri
10
giác đối tượng sai. Chính hiệu quả thứ hai này là yếu tố vản trở cực kỳ lớn đối
với những người lầm lỡ muốn quay trở lại làm người bình thường.
4. Nhận thức chung về đối tượng chấp hành xong hình phạt tù :
Đối tượng chấp hành xong hỡnh phạt tự bao gồm số đối tượng phạm tội
đang chấp hành hỡnh phạt tự cú thời hạn hoặc tự chung thõn ở cỏc trại giam,
trại tạm giam (họ phải là phạm nhõn), hết thời hạn hay chưa hết thời hạn
nhưng tiến bộ được hưởng chính sách khoan hồng được tha về địa phương
(đặc xá, ân xá).
Đối tượng tù tha về địa phương về mặt pháp lý họ có nghĩa vụ và được
hưởng các quyền như các công dân bình thường khác trừ số phải chấp hành
hình phạt bổ sung theo quyết định của Tòa án như : cấm cư trú, quản chế, . . .
Phân loại đối tượng tha tù : 2 nhóm cơ bản gồm nhóm đối tượng phải chấp
hành tiếp các hình phạt bổ sung theo quyết định của Tòa án và nhóm các đối
tượng không phải chấp hành các hình phạt và các biện pháp bổ sung khác.
Nhìn chung các đối tượng tù tha ở địa phương rất phức tạp và da dạng về loại
công đồng đối với những người lầm lỗi. Nhiều người lại thống nhất cho rằng
tái hũa nhập cộng đồng là “quay lại lần thứ hai” hũa nhập với cộng đồng xó
hội những người có qua khứ tội lỗi sau một thời gian bị cách lý khỏi xã hội,
cộng đồng dân cư. Tái hòa nhập cộng đồng hiểu đơn giản là là xóa đi những
tội lỗi và mặc cảm của người tạo cơ hội bình thường hóa các mối quan hệ xã
hội để họ hòa nhập với cộng đồng nơi họ cư trú với tư cách là một công dân,
một thành viên của xã hội. Đây là những biện pháp tác động tích cực giúp đỡ
những người lầm lỗi, những người có quá khứ phạm tội xóa bỏ đi những mặc
cảm của bản thân đối với cộng đồng và để họ có thể trở về là người công dân
lương thiện với đúng nghĩa của nó.
12
Tóm lại, tái hoà nhập cộng đồng của người sau khi chấp hành xong
hình phạt tù là hành động biểu hiện tính tích cực, trong đó cá nhân mong
muốn được thực hiện những hành dông phù hợp các giá trị, chuẩn mực, đạo
đức và pháp luật của Nhà nước nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách, cung
như đảm bảo cho sự ổn định và phát triển xã hội. Vì vậy muốn tái hoà nhập
cộng đồng, những đối tượng tù tha này phải trải qua một thời gian học tập, cải
tạo nhằm điều chỉnh lại những sai lệch trong nhân cách dẫn đến sai lệch trong
hành vi đã diễn ra trong thời kì họ phạm tội, nhằm lấy lại bản chất mà người
họ, bản thân họ đã đánh mất. Điều đó phần lớn là nhờ chính sự cố gắng của
bản thân họ trong việc nhận thức đúng dắn về quá trình cải tạo hoàn lương và
một phần là nhờ các chính sách ưu đãi của Pháp luật.
6. Khái niệm tự đánh giá :
* Quan điểm của I. a. Liphina : Theo Liphina, tự đánh giá "Thái độ của
con người đối với những năng lực, những khả năng, những phẩm chất nhân
cách cũng như đối với toàn bộ mặt bên ngoài của mình "- Như vậy, tự đánh
giá theo tác giả thực chất là quá trình hình thành và phát triển thái độ đối với
chính bản thân. Đối tương của tự đánh giá bao gồm toàn bộ thế giới bên trong
của cá nhân cũng như biểu hiện của thế giới đó ra bên ngoài. Hơn thế nũa, đối
tượng mà tự đánh giá nhằm vào không chỉ là những giá trị cá nhân đó có mà
chế rự đánh giá. Tác giả đã xem xét tự đánh giá như 1 quá trình nhận trhức,
đặc biệt trong đó cá nhân không chỉ xác định được những hiện trượng tâm lý
đang có ở bản thân mà còn chỉ ra mức độ tồn tại của các hiện tượng tâm lý đó.
* Qua các khái niệm của R. J. hubner, G. C. Stanton : coi tự đánh giá là
quá trình cụ thể nhận thức hình ảnh của bả thân mình theo cá cấp độ :
+ Hình ảnh chung về bản thân
14
+ Hình ảnh bản thân có tính nhân hoá ở nhà trường xã hội và thể chất.
+ Hình ảnh bản thân có tính tổng quát được xem xét ở bình diện giá trị
của bản thân trong nhóm, trong cộng đồng.
* Một nhóm tác giả khác thì cho rằng : Tự đánh giá là một hoạt động
nhận thức đặc biệt của con người, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản
thân chủ thể, là quá trình chủ thể thu thập, xử lý thông tin về chíng mình, chỉ
ra được mức độ giá trị nhân cách tồn tại ở bản thân từ đó có thái độ hành động
phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục dể tự hoàn thiện và phát triển.
Tóm lại, tự đánh giá là một hoạt động nhận thức dặc biệt, bởi đối tượng
nhận thức chính là bản thân chủ thể, tự đánh giá là quá trình chủ thể thu thập,
xử lý thông tin về chính mình. Thông qua tự đánh giá, chủ thể nhận thức toàn
bộ thế giới bên trong của cá nhân cũng như mặt biểu hiện của thế giưới đó ra
bên ngoài, khả năng và thái độ phê phán đối với bản thân.
Tự đánh giá cũng như mọi hiện tượng tâm lý khác, bởi chi phối và quy
định bởi các yếu tố bên ngoài, những yếu tố xuát hiện và ảnh hưởng đến cá
nhân trong quá trình hoạt động và thế giới bên trong toàn bộ phẩm chất tâm
lý, ý thưc nhân cách của mỗi cá nhân. Tất nhiên các yếu tố bên trong mới tác
động trực tiếp tơối tự đánh giá, còn yếu tố bên ngoài phải thông qua hoạt động
và giao tiếp của cá nhân mà chuyển thành yếu tố bên trong thì mới ảnh hưởng
tới tự đánh giá của cá nhân.
II. Một số đặc điểm tâm lý trong quá trình tái hoà nhập xã hội cho
những người sắp chấp hành xong hình phạt tù :
Trước hết cần có công tác chuyên biệt để chuẩn bị quản lý cho phạm
chất nhân cách tíc cực trong qúa trình chuẩn bị tâm lý cho phạm nhân với
cuộc sống trong điều kiện mới. . .
16
Có thể chia tất cả những người đã chấp hành xong hình phạt tù thành ba
loại :
+ Những người đã tự cải tạo trong giai đoan ở trại cải tạo. Sau khi chấp
hành xong hình phạt tù, họ mong muốn được nhập vào cuộc sống lao động
chân chính một cách tích cực. Đôi khi những mong muốn này tạo điều kiện để
vượt qua những khó khăn mà họ gặp phải trong giai đoạn thích nghi.
+ Những người có những thiếu sót trong giáo dục. Những thiếu sót này
có thể là trong thế giới quan, trong ý thức pháp luật, trong đạo đức và cả
trongthói quen lao động của phạm nhân. Dự báo về hành vi tích cực của
những người thuộc loại này phụ thuộc nhiều vào điều kiện xung quanh_nơi
mà họ sống và làm việc sau khi họ mãn hạn cải tạo.
+ Những người không chịu cải tạo trong quá trình chấp hành hình phạt.
Vì hàng loạt nguyên nhân nên khi còn ở trại cải tạo họ không thoát khỏi các
quan điểm, thiên hướng định hướng phạm tội của mình, thậm trí là không
thoát khỏi thế giới quan phạm tội. Tồi tệ nhất là trong một số trường hợp,
những người này khi ở trại cải tạo đã tích luỹ thêm kinh nghiệm phạm tôi cho
mình, phát triển các thói quen phạm tội. Họ coi việc chấp hành xong hình phạt
là cơ hội để được tiếp tục hoạt động phạm tội.
Quả trình thích nghi với điều kiện sống bình thường trong môi trường
xã hội bình thường sau một thời gian dài bị tước tự do là hiện tượng phức tạp,
đòi hỏi có ý chí lớn, các phẩm chất đạo đức cao, nhận thức pháp luật tốt.
Những người chấp hành xong hình phạt tù trong thời giạn ngắn cần phải phục
hồi hoặc là tiếp tục hàng loạt các thói quen. Họ cần biết chi tiêu tiền làm ra,
đảm bảo về quần áo, thức ăn, nhà cửa cho bản thân, việc làm. . .
Các công trình nghiên cứu của Khoa Tâm Lý Học, Trường Đại học
khoa học xã hội và Nhân văn về đối tượng hiên đang bị giáo dục, cải tạo tại
các trại tam giam, trại phục hồi nhân phẩm, trại cai nhiện và các đối tượng ở
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC TÁI HOÀ NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO NGƯỜI CHẤP
HÀNH XONG HÌNH PHẠT TÙ
Việc nghiên cứu nhận thức, nhân cách phạm nhân tại thời điểm chấp
hành xong hình phạt tù có ý nghĩa to lớn nhằm giải quyết vấn đề phòng chống
khả năng tái phạm. Vấn đề thích nghi (thích ứng) với cuộc sống bình thường
trong xã hội của người đã xhấp hành xong hình phạt tù có liên quan chặt chẽ
với vấn đề này.
Quá trình nhận thức, thích nghi xã hội của những người đã chấp hành
xong hình phạt từ các trại lao động cải tạo trở về xã hội là hết sức khó khăn và
quá trình đó còn phụ thuộc vào hàng loạt các nhiệm vụ mà họ cần giải quyết .
Trong nhiều quá khứ tội phạm của mình, những người mãn hạn cần phải "bắt
đầu cuộc sống mới" theo đúng nghĩa của nó. Có nghĩa là thay đổi hoàn toàn
lối sống trước đây của mình.
Quá trình hoà nhập được coi là thành công khi những mối quan hệ xã
hội cần thiết của người chấp hành xong hình phạt tù được thiết lập và không
có sự sai biệt đáng kể(mối quan hệ bình thường trong gia đình, có chỗ ở, hộ
khẩu công việc ổn định, tham gia các công tác xã hội, các hoạt động văn hoá
hữu ích, nâng cao trình độ học vấn và trình độ văn hoá ).
- Các biện pháp về mặt chính sách pháp luật và nhà nước : cần xây
dựng văn bản pháp luật riêng điều chỉnh cơ chế chính sách về vấn đề này.
Hiện nay văn bản điều chính riêng và trực tiếp về vấn đề này chưa có. Các
văn bản liên quan thì chỉ điều chỉnh chung chung và cũng rất thiếu (chủ yếu
19
về công tác thi hành án phạt tù còn công tác sau thi hành án chưa được quan
tâm đúng mức).
- Các biện pháp về thủ tục hành chính : tiếp nhận và quản lý các đối
tượng sau khi ở tù trở về. Chính quyền, các cơ quan công an ở địa phương cần
tạo điều kiện giúp đỡ cho các đối tượng làm các thủ tục : tiếp nhận, đăng ký
hộ khẩu, làm chứng minh thư nhân dân, thủ tục về xóa án tích, và các thủ tục
hầu hết những gia đình của người chấp hành xong hình phạt tù đều khó khăn
thì cần quan tâm giúp đỡ để người tù trở về vẫn có môi trường sống thuận lợi
để hoàn lương.
21