BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA
X W Y Z X W
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI NCKH&PTCN CẤP BỘ NĂM 2012 Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CỞ SỞ DỮ LIỆU CÁC TIÊU
CHUẨN, QUY CHUẨN, HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐÁNH
GIÁ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
CỦA NGÀNH CÔNG THƯƠNG
”
Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đặng Trần Chuyên
1.4.6. Lĩnh vực Giấy 17
1.4.7. Lĩnh vực Thủy tinh 18
1.4.8. Lĩnh vực Thuốc lá 18
1.4.9. Lĩnh vực Hóa chất 18
1.4.10. Da giầy 19
1.4.11. Dệt may 19
1.4.12. Ngành Nhựa 20
1.4.13. Ngành Thép 20
1.5. Tổng quan về hoạt động đánh giá sự phù hợp 22
1.5.1. Tổ chức đánh giá 23
1.5.2. Tổ chức Giám định 28
1.5.3. Tổ chức Thí nghiệm 31
1.5.4. Hoạt động công nhận đối với phòng thí nghiệm 37
1.5.5. Hoạt động thỏa ước thừa nhận lẫn nhau 38
1.5.6. Thực trạng của các phòng thí nghiệm thuộc ngành công thương 39
CHƯƠNG II. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TIÊU
CHUẨN HÓA GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 43
2.1. Về kế hoạch xây dựng Hệ thống Tiêu chuẩn, Quy chuẩn 43
Mục lục VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
2.1.1.
Các yêu cầu cơ bản đối với Hệ thống Tiêu chuẩn, Quy chuẩn 43
2.1.2. Các nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch xây dựng TCVN, QCVN 44
2.2. Về kế hoạch nâng cấp hoặc xây dựng mới Phòng thử nghiệm, đo lường, kiểm
định, giám định thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương 56
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TCVN: Tiêu chuẩn quốc gia
CSDL: Cơ sở dữ liệu
QCVN: Quy chuẩn quốc gia
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Danh mục các hàng hóa có khả năng gây mất an toàn 39
Bảng 2.1. Kế hoạch xây dựng các TCVN giai đoạn đến năm 2020 56
Bảng 2.2. Kế hoạch kiện toàn, xây dựng các Tổ chức đánh giá sản phẩm 69
Bảng 2.3. Kế hoạch xây dựng nguồn nhân lực cho các Tổ chức đánh giá sản
phẩm 72
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng cục bộ LAN 74
Hình 3.2. Mô hình cấu trúc hệ thống triển khai qua mạng internet 74
Hình 3.3. CSDL - Sơ đồ quan hệ thực thể 76
Hình 3.4. Sơ đồ phân rã chức năng 78
Hình 3.5. Các chức năng quản lý của phần mềm quản lý văn bản chạy trên máy
server 79
Hình 3.6. Mô tả quá trình đăng nhập. 80
Hình 3.7. Giao diện đăng nhập hệ th
ống chương trình 80
Hình 3.8. Mô tả quá trình nhập thêm mới dữ liệu 82
Hình 3.9. Giao diện thêm mới dữ liệu 82
Hình 3.10. Mô tả quá trình cập nhật dữ liệu 84
Hình 3.11. Giao diện cập nhật 85
Hình 3.12. Mô tả quá trình tìm kiếm dữ liệu 86
Hình 3.13. Giao diện tìm kiếm dữ liệu theo trường mô tả 86
CNAS của Trung quốc, VILAS của Việt Nam. Trong đó có những hệ thống đã
đi vào hoạt động từ vài chục năm nay như NAMAS của Anh từ năm 1945, DKD
của Đức từ những năm 70 của thế kỷ trước.
Năm 1977 ra đời Tổ chức Hợp tác Công nhận Phòng thí nghiệm Quốc tế -
ILAC và năm 1992 Tổ chức Hợp tác Công nhậ
n Phòng thí nghiệm khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương –APLAC được thành lập. Kể từ đó, các hệ thống
công nhận phòng thí nghiệm của các nền kỹ thuật đã hợp tác chặt chẽ với nhau
theo các chương trình hoạt động nhằm thúc đẩy hoạt động công nhận ở mỗi
nước, cùng nghiên cứu, đóng góp vào việc cải tiến các chuẩn mực đánh giá
phòng thí nghiệm để thực hiện thống nhất ở các nướ
c. Các Thỏa ước thừa nhận
lẫn nhau về công nhận phòng thí nghiệm (MRAs) của ILAC va APLAC là cơ sở
để thừa nhận lẫn nhau các kết quả đo lường và thử nghiệm, hướng tới mục tiêu
-5- Phần mở đầu VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
Một tiêu chuẩn, một lần thử nghiệm, một giấy chứng nhận, được chấp nhận
ở mọi nơi.
Đồng thời, các quốc gia đều rất chú trọng hoàn thiện các thủ tục đánh giá,
chỉ định cơ quan thử nghiệm, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa,
cơ quan giám định phục vụ nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong nội
địa cũng như
xuất khẩu, tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm và hàng
hóa sản xuất ra trên trường quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa đi đôi với hội nhập vào thị trường thế giới, việc
hài hòa hóa hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy
định quốc tế đã bước sang giai đoạn mới và ngày càng được các quốc gia quan
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
2. Phương pháp tiếp cận
- Thu thập tài liệu, số liệu trong nước và ngoài nước có liên quan;
- Điều tra khảo sát đại diện một số đơn vị, kết hợp phương pháp phân
tích đánh giá chuyên gia, có sử dụng một số tư liệu số liệu còn tính thời
sự;
- Tổng hợp các số liệu để xây dựng Hệ thống CSDL;
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu t
ổng quan về hoạt động tiêu chuẩn hóa;
- Hệ thống hóa các TC, QC hiện đang áp dụng trong các ngành công
nghiệp, đánh giá tình trạng áp dụng;
- Hệ thống hóa các tổ chức đánh giá sự phù hợp, các phòng thí nghiệm,
đo lường, kiểm định hiện có của ngành Công Thương;
- Nghiên cứu, đề xuất một số nội dung về kế hoạch xây dựng các TC,
QC, các tổ chức đánh giá, nâng cấp hoặc xây dựng mới các phòng thử
nghiệm, đo lường, kiểm định, giai đoạn đến năm 2020;
- Xây dựng phần mềm CSDL hệ thống các TC, QC hiện đang áp dụng
trong các ngành công nghiệp và hệ thống các tổ chức đánh giá sự phù
hợp phục vụ các doanh nghiệp SXKD cũng như công tác quản lý nhà
nước của Bộ Công Thương.
-7- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HÓA
1.1. Một số khái niệm cơ bản
-8- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
Chứng nhận hợp quy là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh
vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Công bố hợp chuẩn là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của
hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng.
Công bố hợp quy là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của hoạt
động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương
ứng.
Công nhận là việc xác nhận phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ
chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định có năng lực phù hợp với các
tiêu chuẩn tương ứng.
Theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 đã được
Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua tháng 11 năm 2007:
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản
phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn
kỹ thuật tương ứng.
Tổ chức đánh giá sự phù hợp là tổ chức tiến hành hoạt động thử nghiệm,
giám định, kiểm định, chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, quá trình
sản xuất, cung ứng dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn
kỹ thuật tương ứng.
Thử nghiệm là thao tác kỹ thuật nhằm xác định một hay nhiều đặc tính
của sản phẩm, hàng hóa theo một quy trình nhất định.
Giám định là việc xem xét sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa so với hợp
đồng hoặc tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng bằng cách
quan trắc và đánh giá kết quả đo, thử nghiệm.
Chứng nhận là việc đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, quá
Tính cạnh tranh: Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá và
d
ịch vụ phù hợp theo tiêu chuẩn ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Có được hệ thống sản
phẩm phù hợp tiêu chuẩn chất lượng sẽ đem đến cho doanh nghiệp lợi thế cạnh
tranh. Việc sản phẩm được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, Doanh nghiệp có
bằng chứng đảm bảo với khách hàng rằng: Sản phẩ
m do họ sản xuất phù hợp với
Tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế hiện hành. Trên thực tế, tiêu chuẩn chất
lượng được áp dụng định hướng bởi chính người tiêu dùng, những người luôn
mong muốn được đảm bảo rằng sản phẩm mà họ sử dụng có chất lượng đúng
như nhà sản xuất khẳng định. Hợp đồng mua hàng thường có yêu cầu phải kèm
theo hồ
sơ chứng nhận chất lượng do bên thứ ba cung cấp.
Tạo năng suất và giảm giá thành: Thực hiện quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn giúp Doanh nghiệp tăng năng suất và giảm giá thành. Hệ thống chất
lượng sẽ cung cấp các phương tiện giúp cho mọi người thực hiện công việc đúng
ngay từ đầu và có sự kiểm soát chặt chẽ qua đó sẽ giảm khối lượng công việ
c
làm lại và chi phí cho hành động khắc phục đối với sản phẩm sai hỏng vì thiếu
-10- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
kiểm soát và giảm được lãng phí về thời gian, nguyên vật liệu, nhân lực và tiền
bạc. Đồng thời, nếu Doanh nghiệp có sản phẩm chất lượng phù hợp với tiêu
chuẩn sẽ giúp giảm thiểu được chi phí kiểm tra, tiết kiệm được chi phí cho cả
Doanh nghiệp và khách hàng.
Tăng uy tín của Doanh nghiệp về đảm bảo chất lượng: Áp dụng quản lý
ại; Cơ hội cho quảng cáo, quảng bá sản phẩm đến với người tiêu
dùng. -11- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
1.3. Sự hội nhập của Việt nam trong lĩnh vực Tiêu chuẩn
Trước đây, trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng, nước ta mới
chỉ là thành viên của 3 tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá là ISO năm 1977,
CAC-1989 và Ban Thường trực tiêu chuẩn hoá của Hội đồng Tương trợ Kinh tế.
Tuy nhiên, sau những năm 90 thế kỷ trước, với những chính sách đổi mới, nền
kinh tế
Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và chuyển từ một nền kinh tế tập
trung sang kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế. Đây là tiền đề, là cơ
sở cho hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó
có hoạt động hội nhập về khoa học và công nghệ mà cụ thể là về tiêu chuẩn, quy
chuẩn và chất l
ượng hàng hóa. Cho tới nay, trên lĩnh vực này chúng ta đã có
quan hệ hợp tác với 19 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực. Việc mở rộng quan
hệ như vậy đã tạo ra cơ hội cho chúng ta nhanh chóng hơn đi vào hội nhập với
quốc tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng và đã tạo điều kiện
thuận lợi hoá thương mại cho các doanh nghiệp.
T
ổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là đại diện của Việt Nam tham
gia trong các ban lãnh đạo chủ chốt của một số tổ chức quốc tế và khu vực lớn
như: Chủ tịch Tổ chức Năng suất châu Á (APO) năm 2000, Chủ tịch Uỷ ban tư
vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng của ASEAN (ACCSQ) năm 2002, đồng thời
Đẩy mạnh việc nghiên cứu để dần dần đưa những vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ
trong xây dựng tiêu chuẩn tiếp cận với thông lệ quốc tế. Hài hoà các TCVN với
tiêu chuẩn quốc tế cũng được đặc biệt chú trọng, trong đó ưu tiên hàng đầu là
các tiêu chuẩn thuộc chương trình hài hoà tiêu chuẩn của ASEAN, APEC và
ASEM. Trong tổng số các TCVN đã được ban hành, cho đến nay đã có khoảng
25% được hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước
ngoài tiên tiến. Để trực tiếp tham gia nghiên cứu xây dựng các TCVN và góp ý
cho các tiêu chuẩn quốc tế, đã có trên 800 nhà khoa học, các chuyên gia từ các
viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp
tham gia làm thành viên của các Ban kỹ thuật và Tiểu ban kỹ thuật. Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lường Ch
ất lượng là thành viên chính thức của CAC từ 1989 và
Uỷ ban Codex Việt Nam đã được thành lập để phối hợp với CAC chỉ đạo hoạt
động của 10 Ban kỹ thuật tiêu chuẩn thực phẩm, trong việc góp ý cho các TCVN
theo các qui định của Codex và các tiêu chuẩn ISO có liên quan tới thực phẩm.
Các tài liệu, chỉ dẫn và quy định của CAC đã được phổ biến cho các cơ quan có
liên quan, làm cơ sở để Việt Nam hội nhập với thế
giới trong việc quản lý vệ
sinh, an toàn thực phẩm sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu.
Việc Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế về Công nhận Phòng thử
nghiệm (ILAC), Hợp tác châu Á - Thái Bình dương về công nhận phòng thử
nghiệm (APLAC), Hợp tác công nhận Thái Bình Dương (PAC) và ký kết các
Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) của ILAC, APLAC là cơ hội và điều
kiện để hoạt động công nh
ận, chứng nhận chất lượng của Việt Nam phù hợp với
xu hướng hội nhập với các thông lệ và tập quán quốc tế. Là thành viên của các
tổ chức năng suất, chất lượng khu vực như APO, APQO, phong trào hoạt động
năng suất chất lượng của Việt Nam đã được đẩy mạnh và hội nhập dần với quốc
tế. Cho đến nay, Việt Nam đã có hàng ngàn tổ chứ
c/doanh nghiệp được chứng
Hoa Kỳ. Hợp tác quốc tế giúp cho lĩnh vực TCĐLCL tiếp cận, hội nhập được
với khu vực và quốc t
ế và góp phần thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và các
nước trên thế giới.
1.4. Tổng quan về tình hình áp dụng Tiêu chuẩn ở Việt Nam
1.4.1. Lĩnh vực Cơ khí - chế tạo máy.
Cơ khí là ngành công nghiệp chế tạo ra các máy, thiết bị, phương tiện, hệ
thống cho các ngành công nghiệp khác và phục vụ sản xuất và đời sống. Khoa
học kỹ thuật về Cơ khí là một lĩnh vự
c rộng lớn và phức tạp, có quan hệ mật
thiết với nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác như Điện, Điện tử viễn thông,
Công nghệ thông tin, Công nghệ vật liệu, Công nghệ sinh học,… Sự phát triển
của ngành Cơ khí đóng vai trò nền tảng và có ảnh hưởng lớn, góp phần quan
-14- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như các ngành công
nghiệp khác.
Trong giai đoạn những năm trước năm 2000, khi mà ngành công nghiệp cơ
khí gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chủ yếu chế tạo
những sản phẩm phi tiêu chuẩn, mức độ phức tạp không cao. Những năm gần
đây, ngành cơ khí đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, s
ản xuất được nhiều loại
thiết bị đồng bộ cung cấp cho các ngành công nghiệp quan trọng như điện lực, xi
măng, mía đường, giấy và bột giấy, phân bón, chế biến thực phẩm. Ví dụ, trong
lĩnh vực điện lực, ngành cơ khí Việt Nam đã đủ sức cung cấp toàn bộ phần thiết
bị thủy công cho các nhà máy thủy điện, là sản phẩm mà trước đ
ây không lâu
VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm;
- Nâng cao năng suất lao động;
- Đáp ứng tốt yêu cầu lắp ráp, sửa chữa, thay thế phụ tùng trong ngành
chế tạo máy.
Tiêu chuẩn hóa là tiền đề không thể thiếu được cho sản xuất hàng loạt lớn
nhằm tạo ra sản phẩm có giá thành rẻ và có chất lượng cạnh tranh. Công nghiệp
thế giới đã bước qua thời kỳ cơ khí hoá, tự động hoá trên n
ền tảng truyền dẫn cơ
khí và đang ở giai đoạn phát triển cao của cơ - điện tử (mechatronics). Các máy
móc, thiết bị hoặc dây chuyền thiết bị được cấu thành từ các môdun. Sự tương
hợp giữa các hệ truyền động cơ khí - Thủy lực - Điện - Điện tử, giữa các môdun
đòi hỏi phải có TCH, và sự hài hoà của các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu
chuẩ
n quốc tế và khu vực sẽ đáp ứng rất tốt yêu cầu trên.
Trước đây, Tiêu chuẩn hóa chỉ áp dụng phần nhiều cho các chi tiết, cụm chi
tiết nhỏ lẻ và một số thiết bị máy móc công nghiệp cơ khí truyền thống (Ví dụ,
các máy gia công kim loại bằng cắt gọt, máy động lực, các phương tiện cơ giới
giao thông đường bộ, các máy móc thiết bị điện ). Hiện nay, TCH trong ngành
Cơ
khí Chế tạo không còn bó hẹp như trên nữa mà tác động đến phạm vi rộng
các ứng dụng và đem lại lợi ích, hiệu quả và ý nghĩa kinh tế không nhỏ (Ví dụ,
trong khâu tư vấn, tính toán và thiết kế các hệ thống thiết bị cơ khí, nhờ có TCH
mà có thể đơn giản và giảm bớt từ 10 đến 15% khối lượng công việc do sử dụng
các chi tiết và cụm chi tiết được tiêu chuẩn, được th
ống nhất. Trong công nghiệp
chế tạo cơ khí, quá trình lắp ráp và đặc biệt việc thay thế sửa chữa các phụ tùng
cơ khí đòi hỏi sử dụng tiêu chuẩn, không thể thiếu tiêu chuẩn và thực hiện công
tác tiêu chuẩn hoá khá cao, hiệu quả mang lại có ý nghĩa kinh tế rất lớn).
của nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, một số rất ít là doanh nghiệp
nội địa cũng chỉ lắp ráp theo các đơn hàng của nước ngoài, nên các sản phẩm
điện tử đều phải đạt các tiêu chuẩn của nước ngoài theo những
đơn hàng.
Từ năm 1975 đến năm 2004 có 190 TCVN thuộc ngành Điện tử được ban
hành. Hầu hết các tiêu chuẩn này đều được chuyển đổi từ các tiêu chuẩn quốc
gia của Liên Xô cũ và đã lạc hậu. Hơn nữa, do các sản phẩm điện tử hầu hết
được sản xuất theo công nghệ nhập từ nước ngoài nên được sản xuất theo tiêu
chuẩn của nước cung cấp công nghệ
hoặc cung cấp phụ tùng, chi tiết, linh
kiện…
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn về điện tử viễn thông đang áp dụng
trong ngành Công thương là 78 TCVN và 62 QCVN do Bộ Thông tin và Truyền
thông ban hành
1.4.3. Lĩnh vực Thực phẩm
Các tiêu chuẩn ngành kỹ nghệ thực phẩm của Việt Nam được hiệu chỉnh
theo các tiêu chuẩn ISO, CODEX . Các Quy chuẩn kỹ thuật công nghiệp thực
phẩm nói chung và của ngành kỹ nghệ thực phẩm nói riêng liên quan
đến vấn đề
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP).
-17- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 51 TCVN và 34 QCVN về VSATTP do Bộ Y tế ban hành
1.4.4. Lĩnh vực Điện
Các TCVN về Điện rất nhiều và phong phú, chủ yếu được chuyển từ các
tiêu chuẩn IEC, ISO. Hiện nay đã có khoảng hơn 507 TCVN về lĩnh vực điện,
VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
1.4.7. Lĩnh vực Thủy tinh
Ngành sành sứ thủy tinh công nghiệp là một trong các ngành bao gồm
nhiều chủng loại hàng hóa và đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển công
nghiệp nước ta.
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 50 TCVN về Thủy tinh
1.4.8. Lĩnh vực Thuốc lá
Thuốc lá không phải là mặt hàng thiết yếu, nhưng có đóng góp vào ngân
sách Nhà nước rất cao, doanh thu khoảng hơn 11.000 tỷ
đồng/ năm. Cả nước có
khoảng 17 doanh nghiệp sản xuất thuốc lá điếu, trực thuộc các cấp, các ngành và
địa phương quản lý. Hiện tại các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá áp dụng cả các
TCVN và TCN. Các TCVN áp dụng trong ngành thuốc lá được xây dựng chủ
yếu dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, còn TCN chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn kỹ
thuật của các tập đoàn, các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá t
ại Việt Nam và hầu
hết là các tiêu chuẩn về qui phạm kỹ thuật liên quan trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm và đánh giá chất lượng sản phẩm.
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 86 TCVN về Thuốc lá
1.4.9. Lĩnh vực Hóa chất
a) Ngành sản xuất phân bón
Hiện tại các doanh nghiệp sản xuất phân bón áp dụng cả các TCVN và
TCN. Các TCVN áp dụng trong ngành sản xuất phân bón
được xây dựng chủ
yếu dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, còn TCN tập trung chủ yếu vào phân tích
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 170 TCVN về các sản phẩm cao su
1.4.10. Da giầy
Hiện nay sản phẩm của ngành Da giầy rất đa dạng, năm 2011 kim ngạch
xuất khẩu đạt 6,5 tỷ USD (Toàn ngành đạt 7,8 tỷ USD - số liệu của Viện nghiên
cứu Da giầy), đứng thứ tư thế giới, với 03 thị trường chính là EU, M
ỹ và Nhật
Bản, giá trị trong nước đạt 1,5 tỷ USD.
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 70 TCVN về các sản phẩm Da giầy
1.4.11. Dệt may
Ngành dệt may luôn là một trong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng
trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới. Với
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành dệt may đã có những đóng góp
không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tế
nói chung ở Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt gần 14 tỷ USD
(Thông tin từ Tập đoàn Dệt may Việt Nam) tăng 38 % so với năm 2010.
Hiện nay số lượng các Tiêu chuẩn đang áp dụng trong ngành Công thương
là 227 TCVN về các sản phẩm Dệt may
-20- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
1.4.12. Ngành Nhựa
Ngành nhựa là một trong những ngành tăng trưởng ổn định của thế giới,
trung bình 9% trong vòng 50 năm qua. Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế 2008
tác động lớn tới nhiều ngành công nghiệp, nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn
tăng trưởng 3% trong năm 2009, năm 2010 tăng trưởng trên 20% về giá trị và
18.75% về sản lượng so với 2009. Trong bối cảnh ngành Nhựa thế giới đang
nghiệp luyện, phần lớn do hạn chế về vốn đầu tư, do chính sách phát triển
-21- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
ngành. Ý kiến khác lại cho rằng ngành Thép sở dĩ phát triển ngược là do Việt
Nam không có chính sách bảo hộ đúng mức cho phần gốc là luyện phôi thép,
cho nên mặc dù thời gian gần đây ngành Thép phát triển được là nhờ nguồn phôi
nhập khẩu, không tận dụng được lợi thế giàu tài nguyên của Việt Nam. Quy
hoạch tổng thể phát triển ngành Thép đến năm 2010, ban hành năm 2001, đặt ra
mục tiêu năm 2005 ngành Thép đạt sản lượng sản xuất 1,2 – 1,4 tấ
n phôi thép;
2,5 – 3,0 tấn thép cán các loại; 0,6 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán và
đến năm 2010 ngành Thép sẽ đạt sản lượng sản xuất 1,8 triệu tấn phôi thép; 4,5
– 5,0 triệu tấn thép cán các loại và 1,2 – 1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau
cán. Tính đến hết 2007, về căn bản ngành thép Việt Nam đã đạt được chỉ tiêu so
với kế hoạch đề ra. Sản lượng phôi thép năm 2007 đạt 782.000 tấn, thép cán đạt
2,2 triệu tấn thấp hơn so vớ
i quy hoạch phát triển ngành phải đạt đến năm 2005.
Tuy sản lượng sản xuất chưa đạt được so với mục tiêu đề ra, nhưng sản lượng
thép tiêu thụ trong nước năm 2007 đã tăng từ 10 – 14% so với mức tiêu thụ năm
2006. Năm 2007, mức bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đạt xấp xỉ 100
kg/người/năm, mức được coi là điểm khởi đầu giai đoạn phát triển công nghi
ệp
các quốc gia. Mức tiêu thụ này đã vượt xa dự báo về mặt tăng trưởng, đưa Việt
Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất thế giới.
Theo thông tin từ hiệp hội Thép Việt Nam, hiện ngành Thép Việt Nam có
các chủng loại sản phẩm sau :
- Thép tấm, lá, cuộn cán nóng
chất lượng phòng thí nghiệm của các quốc gia khác. Thoả ước quốc tế này được
gọi là Thoả ước thừa nhận lẫn nhau (MRA) và hệ thống MRA quốc tế giữa các
tổ chức công nhận đã tạo điều kiện cho các phòng thí nghi
ệm được công nhận
đạt được một hình thức thừa nhận quốc tế và cho phép kết quả thử nghiệm, hiệu
chuẩn đi kèm của hàng hoá xuất khẩu hoặc báo cáo kết quả xét nghiệm dễ được
chấp nhận hơn trên thị trường nước ngoài. Điều này làm giảm đáng kể chi phí
cho cả nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người sử dụng dịch vụ thí nghiệm b
ởi vì
nó làm giảm hoặc loại bỏ yêu cầu phải được thử nghiệm, hiệu chuẩn và xét
nghiệm lại tại quốc gia khác.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc sử dụng các kết quả của hoạt
động đánh giá và công nhận sẽ ngày càng phổ biến trong đời sống hàng ngày,
đặc biệt trong các hoạt động thương mại. Công nhận là hoạt động kỹ thuật phục
vụ công tác quản lý chất lượng (bao gồm xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật và đánh giá phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật). Đây là
những hoạt động quan trọng cần thiết để thực hiện mục tiêu của Tổ chức tiêu
chuẩn hoá quốc tế là “Một tiêu chuẩn - một lần thử nghiệm - được chấp nhận ở
mọi nơi”.
Hoạt động đ
ánh giá và công nhận giữ một vai trò quan trọng trong việc
phát triển của thị trường nội địa và gia tăng thương mại xuất nhập khẩu. Cùng
với hoạt động đánh giá và công nhận nói chung, hoạt động đánh giá và công
-23- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
nhận chất lượng phòng thí nghiệm là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của một nền kinh tế.
thương mại mở, trong đó các nền kinh tế thành viên sẽ tham gia cạnh tranh tự do
và bình đẳng. Tổ chức này đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm, tham gia
-24- Chương I. Tổng qian về hoạt động têu chuẩn hóa VIELINA “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn, Hệ thống Tổ
Đề tài cấp bộ 2012 chức đánh giá phục vụ công tác quản lý chất lượng của ngành công thương”.
của các nước và Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này vào
tháng 12 năm 2006.
Một trong những chức năng chính của tổ chức Thương mại thế giới WTO
là giám sát việc thực hiện các hiệp định liên quan đến tự do hoá thương mại,
trong đó có Hiệp định TBT và SPS. Các giải pháp mà WTO đưa ra nhằm giúp
các nước đang phát triển vượt qua hàng rào kỹ thuật mà các nước phát triển
dựng lên là: (1) đảm bảo minh bạch trong chính sách và cơ chế quản lý, (2) hài
hoà các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp, và (3)
tăng cường năng lực hoạt động đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử
nghiệm, giám định, chứng nhận sản phẩm, chứng nhận hệ thống quản lý, tự công
bố và công nhận. Mục tiêu cuối cùng của các giải pháp này là thừa nhận kết quả
tương đương và không phân biệt đối xử giữa sản phẩm sản xuất trong nước với
các sản phẩm đến từ các nền kinh tế thành viên khác của WTO. Khẩu hiệu của
tiến trình thừa nhận này là "Đánh giá một lần, cấp một Giấy chứng nhận nhưng
có giá trị ở mọi nơi".
Sự ra đời của các tổ chức đánh giá sự phù hợp ở Việt Nam mà Trung tâm
Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn - QUACERT vào năm 1999 với tư cách là một
tổ chức chứng nhận độc lập theo quyết định của Bộ Khoa học Công nghệ và
Môi trường (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) là sự chuẩn bị cần thiết và đúng
lúc của ngành Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng cho việc phát triển năng lực
đánh giá sự phù hợp theo đúng thông lệ quốc tế tại Việt Nam, chấm dứt tình
trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi" của các đơn vị tư vấn và chứng nhận trong
Tổng cục trước đó. Tuy nhiên, để hình thành thị trường đánh giá sự phù hợp