MỤC LỤC
Page 1 of 88
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường
BKHCN : Bộ Khoa học Công nghệ
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
HST : Hệ sinh thái
KLN : Kim loại nặng
ONMT : Ô nhiễm môi trường
QLMT : Quản lý môi trường
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
THCS : Trung học cơ sở
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân
VSV : Vi sinh vật
Page 1 of 88
DANH MỤC CÁC BẢNG
Page 1 of 88
DANH MỤC CÁC HÌNH
2 | P a g e
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con
người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc dù đã có
nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng
mới, song chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng
cạn kiệt bất cứ lúc nào như than đá, dầu mỏ. Quá trình khai thác và đốt cháy
các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đặc biệt là khai
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá được các ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi
trường nước.
- Đề xuất các biện pháp quản lý cho đơn vị tổ chức khai thác cũng
như việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này nhằm giảm thiểu hạn chế
tối đa các ảnh hưởng của hoạt động khai tác tới môi trường và con người.
2 | P a g e
2
1.2.2. Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa
bàn nghiên cứu
- Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện
thực tế của cơ sở.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Củng cố và nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường và vận dụng
kiến thức vào thực tế
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đưa ra các tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường
nước, từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện pháp quản lý,
ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường nước, cảnh quan
và con người.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi
trường cho mọi thành viên tham gia hoạt động khoáng sản.
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3 | P a g e
hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học,
ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
2.1.1.3. Tầm quan trọng của nước?
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh
vật trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt,
1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông
nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường
nước và 44% trọng lượng cơ thể con người. Để sản xuất 1 tấn giấy cần
250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn
nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là
chất mang năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác
nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự
5 | P a g e
5
nhiên. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ
thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ
km
3
, tập trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km
3
), còn lại trong khí
quyển và thạch quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt
tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông
và hồ. Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển
0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng
lượng lớn các kim loại nặng trong cơ thể. Thông qua dây chuyền thực
phẩm mà kim loại nặng được tích lũy trong con người và gây độc với tính
chất bệnh lý rất phức tạp. (Nguyễn Tuấn Anh và cs, 2011)[11]
* Tác nhân coliform
Nhiều VSV gây bệnh có mặt trong nước gây tác hại cho nguồn
nước phục vụ vào mục đích sinh hoạt. Các sinh vật này có thể truyền
hoặc gây bệnh cho người và động vật. Một số các vi sinh vật gây bệnh có
thể sống một thời gian khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm
tàng. Để đánh giá mức ô nhiễm vi sinh vật của nước, người ta thường
dùng chỉ tiêu colifofm. (Trần Thị Hồng Hạnh, 2009) [17]
Số liệu coliform cung cấp cho chúng ta thông tin về mức độ vệ sinh
nước và điều kiện vệ sinh môi trường xung quanh khu vực lấy mẫu
7 | P a g e
7
2.1.1.5. Các vấn đề môi trường phát sinh do khai thác và sử dụng khoáng
sản thể hiện trong các hoạt động cụ thể sau
• Khai thác khoáng sản làm mất đất, mất rừng, ô nhiễm nước, ô
nhiễm bụi, khí độc, lãng phí tài nguyên.
• Vận chuyển, chế biến khoáng sản gây ô nhiễm bụi, khí, nước và
chất thải rắn.
• Sử dụng khoáng sản gây ra ô nhiễm không khí (SO
2
, bụi, khí
độc ), ô nhiễm nước, chất thải rắn
2.1.2. Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước
CHXHCNVN khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội nước CHXHXNVN
thông qua ngày 29/11/2005.
lượng nước ngầm
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
9 | P a g e
9
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1. Thực trạng hoạt động khai thác than trên thế giới
Than là một ngành công nghiệp mang tính toàn cầu, 40% quốc gia
toàn cầu sản xuất than, tiêu thụ than thì hầu như là tất cả các quốc gia.
Toàn thế giới hiện tiêu thụ khoảng 4 tỷ tấn than hàng năm. Một số
ngành sử dụng than làm nguyên liệu đầu vào như: điện, thép và kim loại,
xi măng và các loại chất đốt hóa lỏng. Than đóng vai trò chính trong sản
xuất ra điện (than đá và than non), các sản phẩm thép và kim loại (than
cốc).
Hàng năm có khoảng hơn 4,030 triệu tấn than được khai thác, con
số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Châu Á là châu lục khai thác
thác nhanh nhất trong khi đó Châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần.
Trung Quốc là quốc gia khai thác than trữ lượng lớn nhất trên thế
giới, năm 2008 khai thác 2782 triệu tấn than, tiếp đó là Mỹ và các nước
EU. Điều này cho thấy, than có ở khắp mọi nơi trên trái đất chứ không
tập trung tại một địa điểm nào nhất định cả. (Công ty Cổ phần Chứng
khoán Hà Thành, 2010)[6].
Bảng 2.1. Sản xuất than theo quốc gia (triệu tấn)
Quốc
gia
2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tỷ lệ Dự
trữ
(năm
10 | P a g e
10
)
Indonesi
a
114,3 132,4 146,9 195 217,4 229,5 4,2% 19
Gemany 209,4 207,8 202,8 197,2 201,9 192,4 3,2% 35
Poland 163,8 162,4 159,5 156,1 145,9 143,9 1,8% 52
Total
5187,
6
5585,
3
5886,
7
6195,
1
6421,
2
6781,
2
100% 142
Nguồn: HASC tổng
hợp [6]
Điện là ngành tiêu thụ than lớn nhất hiện nay và sẽ còn duy trì
trong tương lai. Khoảng 39% lượng điện sản xuất ra trên thế giới là từ
nguồn nguyên liệu này.
Lượng tiêu thụ than cũng được dự báo sẽ tăng ở mức từ 0.9% đến
1.5% từ nay cho đến năm 2030. Tiêu thụ về than cho nhu cầu trong các lò
11 | P a g e
11
hơi sẽ tăng khoảng 1.5%/năm trong khi than non, được sử dụng trong sản
xuất điện, tăng với mức 1%/năm. Cầu về than cốc, loại than được sử dụng
Nga 41 55,7 98,6 103,4 112,2 115,4 10,6%
Mỹ 43 48 51,7 51,2 60,6 83,5 7,7%
Colombia 50,4 56,4 59,2 68,3 74,5 81,5 7,5%
Trung
Quốc
103,4 95,5 93,1 85,6 75,4 68,8 6,3%
Nam Phi 78,7 79,4 78,8 75,8 72,6 68,2 6,3%
Canada 27,7 28,8 31,2 31,2 33,4 36,5 3,4%
13 | P a g e
13
Total 713,9 764 936 1000,6 1073,4 1087,3 100%
Bên cạnh những nước sản xuất được than họ đem đi để xuất khẩu
thì những quốc gia không sản xuất được than hay lượng sản xuất ra chưa
đáp ứng được nhu cầu của họ trong hiện tại và tương lai thì họ buộc phải
đi nhập khẩu để cân đối nguồn cung cho các hoạt động trong nước của
mình.
Đất nước nhập khẩu lớn nhất là Nhật – quốc gia không sản xuất
được than mà nhu cầu lại rất lớn. Tiếp theo đó là Triều Tiên với 107.1
triệu tấn được nhập khẩu năm 2008. (Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà
Thành, 2010)[6].
14 | P a g e
14
Bảng 2.3. Nhập khẩu than theo Quốc gia và năm (triệu tấn)
Quốc gia 2006 2007 2008 Tỷ lệ
Nhật 199,7 208 206 19,4%
Nam Tiều Tiên 84,1 94,1 107,1 10,1%
Ấn Độ 52,7 29,6 70,9 6,7%
Đài Loan 69,1 72,5 70,9 6,7%
Đức 50,6 56,2 55,7 5,2%
Tổng 991,8 1056,5 1063,2 100%
không khí; làm suy giảm trữ lượng nước dưới đất; gây tổn hại cảnh quan
sinh thái; ảnh hưởng lớn đến môi trường sống cộng đồng.
Qua hai loại hình công nghệ trên, chúng ta thấy tác động của quá
trình khai thác than đến hệ thống môi trường rất khác nhau về quy mô,
mức độ và tuỳ thuộc vào các điều kiện, yếu tố cụ thể như: công nghệ khai
thác (đi kèm là các yếu tố đặc trưng về chất thải, sự cố môi trường …),
các điều kiện về địa lý, địa chất và các điều kiện tự nhiên khác.
16 | P a g e
16
Hoạt động khai thác than đem lại hiệu quả về mặt kinh tế rất lớn
nhưng bên cạnh đó khai thác than cũng đã và đang gây ra những tác động
không nhỏ đến chất lượng môi trường tại các khu mỏ khai thác và khu vực
dân cư vùng mỏ.
Ô nhiễm môi trường tại khu vực mỏ khai thác than đang là vấn đề
lớn cho các nhà chức trách ở nhiều quốc gia đang khai thác và sử dụng
loại tài nguyên nhiên liệu này. Tại Hoa kỳ, khai thác than là một trong
những nguyên nhân hàng đầu gây ra ô nhiễm môi trường. Theo số liệu
thống kê cho thấy, hoạt động khai thác than tại nước này hàng năm thải
hồi khoảng 60% lượng khí SO
2
, 33% lượng Hg, 25% lượng khí NO
x
và
33% thán khí trên tổng số ô nhiễm không khí toàn quốc (Mai Thanh
Tuyết, 2004)[9]. Vậy, chúng ta thấy dù có những thuận lợi rất lớn về kĩ
thuật cũng như công nghệ trong khai thác nhưng ngành than Hoa Kỳ vẫn
phải gánh chịu những hậu quả xấu do hoạt động khai thác than để lại đó
là vấn nạn ô nhiễm môi trường
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1. Hoạt động khai thác than ở Việt Nam
18
còn sản lượng; các mỏ mới lộ thiên lớn sẽ không có, nếu có là một số mỏ
sản lượng dưới 0,5-1 tr.T/n. Tỷ lệ sản lượng than hầm lò tăng, nói lên
điều kiện khai thác khó khăn tăng, chi phí đầu tư xây dựng và khai thác
tăng, dẫn tới giá thành sản xuất tăng cao. Cho nên, tuy trữ lượng địa chất
của bể than Quảng Ninh là trên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là 1,2 tỷ
tấn và trữ lượng công nghiệp đưa vào quy hoạch xây dựng giai đoạn từ
nay đến 2010-2020 mới ở mức 500-600 triệu tấn. Mức độ khai thác
xuống sâu là -150m. Còn từ -150m đến -300m, cần phải tiến hành thăm
dò địa chất, nếu kết quả thăm dò thuận lợi, thiết bị và công nghệ khai thác
tiên tiến, việc đầu tư cho mức dưới -150m sẽ được xem xét vào sau năm
2020. Khai thác tối đa hợp lý cũng chỉ nên là 15 tr.T/n ở giai đoạn 2010-
2015. (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2006)[3].
-Than antraxit ở các vùng khác. Có nhiều trữ lượng than đá antraxit
khác nằm rải rác ở các tỉnh: Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La,
Quảng Nam, với trữ lượng từ vài trăm nghìn tấn đến vài chục triệu tấn. ở các
nơi này, quy mô khai thác thường từ vài nghìn tấn đến 100-200 ngh.T/n.
Tổng sản lượng hiện nay không quá 200 ngh.T/n. (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
2006)[3].
* Than mỡ
Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó
trữ lượng địa chất là 17,6 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm
(Thái Nguyên) và mỏ Khe Bố (Nghệ An). Ngoài ra, than mỡ còn có ở các
19 | P a g e
19
tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình song với trữ lượng nhỏ. Than mỡ được
dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn sau năm 2000,
nhưng trữ lượng than mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rất khó khăn.
Sản lượng than mỡ khó có khả năng cao hơn 0,2-0,3 tr.T/n, trong khi nhu
cầu sẽ tăng đến 5-6 tr.T/n vào giai đoạn 2010-2020. (Bộ Kế hoạch và Đầu
tấn. Theo đánh giá sơ bộ, than có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho sản
xuất điện, xi măng và công nghiệp hoá học. Nhưng để có thể khai thác
được, cần tiến hành thăm dò ở khu vực Bình Minh - Khoái Châu Hưng
Yên, để đánh gía một cách chính xác trữ lượng, chất lượng than, điều
kiện kiến tạo của vỉa than, nghiên cứu công nghệ khai thác thiết kế. Nói
chung việc khai thác than này rất khó khăn về mặt địa hình, dân cư trong
vùng và về phương pháp khai thác v.v Theo đánh giá của một số nhà
nghiên cứu địa chất và khai thác, đối với than Nâu ở đồng bằng sông
Hồng thì có thể đưa vào đầu tư xây dựng mỏ và khai thác từ 2015-2020.
21 | P a g e
21