I ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHI NHÁNH PHÍA NAM
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI THỬ NGHIỆM BỔ SUNG SẮC TỐ ASTAXANTHIN
VÀ CANTHAXANTHIN VÀO THỨC ĂN CHO
CÁ CHÉP NHẬT (CÁ CHÉP KOI – Cyprinus carpio)
Chủ nhiệm đề tài: Ths. TRỊNH THỊ LAN CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 10/2010
ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM TRUNG TÂM NHIỆT ĐỚI VIỆT - NGA
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHI NHÁNH PHÍA NAM
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI
3.2. Đánh giá hiệu quả của sắc tố canthaxanthin đối với việc cải thiện màu sắc ở cá
chép Nhật.
3.3. Phân tích kinh tế
4. Sản phẩm của đề tài
4.1. Báo cáo khoa học về hàm lượng sắc tố astaxanthin và canthaxanthin bổ sung
hiệu quả nhất đối với cá chép Nhật.
4.2. Quy trình nuôi cá chép Nhật bằng thức ăn có bổ sung sắc tố astaxanthin và
canthaxanthin. II
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU I
MỤC LỤC II
DANH SÁCH BẢNG V
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VI
DANH SÁCH HÌNH VII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1. Cơ sở lý luận 2
2.1.1. Thời gian 19
2.1.2. Địa điểm 19
2.2. Vật liệu thí nghiệm 19
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: cá chép Nhật (cá chép KOI – Cyprinus carpio) 19
2.2.2. Thức ăn thí nghiệm 19
2.2.3. Các sắc tố carotenoid 20III
2.2.4. Bể thí nghiệm 21
2.3. Bố trí thí nghiệm 23
2.3.1. Thí nghiệm 1: Đánh giá hiệu quả cải thiện màu sắc cá chép Nhật của sắc tố
astaxanthin 23
2.3.2. Thí nghiệm 2: Xác định hàm lượng astaxanthin cần thiết để sắc duy trì màu
sắc của cá thí nghiệm 25
2.3.3. Thí nghiệm 3: Đánh giá hiệu quả cải thiện màu sắc cá chép nhật của sắc tố
canthaxanthin 26
2.3.4. Thí nghiệm 4: Xác định hàm lượng canthaxanthin hiệu quả nhất đối với việc
cải thiện màu sắc ở cá chép Nhật 26
TỐ ASTAXANTHIN VÀ CANTHAXANTHIN 72
3.4.1. Chuẩn bị ao, bể nuôi 72
3.4.2. Cá 73IV
3.4.3. Quản lý chăm sóc 73
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN 80
4.1. KẾT LUẬN 80
4.2. ĐỀ NGHỊ 81
PHỤ LỤC 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
V
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Ảnh hưởng của astaxanthin lên màu sắc và tăng trưởng tôm sú 11
Bảng 1.2: Liều lượng canthaxanthin sử dụng trong thức ăn chế biến 13
Đồ thị 3.2: Tương quan tuyến tính giữa chỉ số màu sắc của cá chép Nhật với các
mức độ gia tăng hàm lượng astaxanthin bổ sung trong khẩu phần 32
Đồ thị 3.3: Biến thiên chỉ số màu sắc của cá chép Nhật thí nghiệm 1 33
Đồ thị 3.4: Chỉ số màu sắc của cá chép Nhật được cho ăn thức ăn có bổ sung
astaxanthin với hàm lượng 20, 40, 60, 80mg/kg thức ăn 40
Đồ thị 3.5: Tương quan tuyến tính giữa chỉ số màu sắc của cá chép Nhật với các
mức độ gia tăng hàm lượng astaxanthin bổ sung trong khẩu phần 41
Đồ thị 3.6: Chỉ số màu sắc của cá chép Nhật được cho ăn thức ăn có bổ sung
canthaxanthin với hàm lượng 25, 50, 75, 100mg/kg 49
Đồ thị 3.7: Biến thiên chỉ số màu sắc của cá chép Nhật thí nghiệm 3 50
Đồ thị 3.8: Chỉ số màu sắc của cá chép Nhật được cho ăn thức ăn có bổ sung
canthaxanthin với hàm lượng 100, 125, 150, 175, 200mg/kg 57
Đồ thị 3.9: Tương quan tuyến tính giữa chỉ số màu sắc của cá chép Nhật với các
mức độ gia tăng hàm lượng canthaxanthin bổ sung trong khẩu phần. 58
Đồ thị 3.10: Biến thiên chỉ số màu sắc của cá chép Nhật thí nghiệm 4 59 VII
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1.1: Cấu tạo các lớp da cá da trơn 3
Hình 1.2: Hình dáng các loại cá KOI 16
Hình 1.3: Phân loại cá chép KOI theo màu sắc 18
Hình 3.11: Nghiệm thức A100 sau 2 tháng thí nghiệm 36
THÍ NGHIỆM 2 42
Hình 3.12: Cá chép nhật lúc bắt đầu thí nghiệm 2 (tháng 02/2010) 42
Hình 3.13: Cá thí nghiệm ở tuần thứ 8 (tháng 4/2010) 43
Hình 3.14: Cá thí nghiệm ở tuần thứ 16 (tháng 6/2010) 44
Hình 3.15: Cá thí nghiệm ở tuần thứ 16 (tháng6/2010) 45
Hình 3.16: Cá thí nghiệm ở tuần thứ 16 (tháng 6/2010) 46
THÍ NGHIỆM 3: 51
Hình 3.17: Cá chép Nhật lúc bắt đầu thí nghiệm 3 (tháng 01/2009) 51
Hình 3.18: Nghiệm thức C0 (ĐC) sau 1 tháng thí nghiệm 52
Hình 3.19: Nghiệm thức C25 sau 1 tháng thí nghiệm 52VIII
Hình 3.20: Nghiệm thức C50 sau 1 tháng thí nghiệm 52
Hình 3.21: Nghiệm thức C75 sau 1 tháng thí nghiệm 52
Hình 3.22: Nghiệm thức C100 sau 1 tháng thí nghiệm 52
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá chép Nhật (cá chép koi – Cyprinus carpio) là một trong những đối tượng
cá cảnh được yêu thích vì có màu sắc đẹp và giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng như
hầu hết các loại cá cảnh khác, sau một thời gian nuôi trong môi trường nhân tạo,
màu sắc của cá sẽ nhạt đi và kém rực rỡ. Theo Lovell T., 1998, sắc tố rất quan trọng
trong thịt của một vài loài cá, như cá hồi, hoặc trong da của những loài cá khác như
cá cảnh, tôm Đối với hầu hết các loại cá, các carotenoid được xem như là những
sắc tố quan trọng nhất trong việc làm tăng màu sắc vì chúng không thể tự tổng hợp
được mà phải lấy từ khẩu phần ăn. Do đó, một trong những giải pháp để cải thiện và
duy trì màu sắc đẹp ở cá là bổ sung các carotenoid vào thức ăn của chúng.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam các loại thức ăn chế biến có bổ sung sắc tố
cho cá koi rất đa dạng về mẫu mã và chủng loại, đa số là do nước ngoài sản xuất,
giá cả rất đắt, còn chất lượng, thành phần dinh dưỡng thì nằm ngoài tầm quản lý của
các nhà chuyên môn.
Để phát triển nghề nuôi cá cảnh bền vững, một trong những vấn đề cần quan
tâm hiện nay là cung cấp nguồn thức ăn vừa hợp vệ sinh, đầy đủ chất dinh dưỡng,
tạo màu sắc đẹp cho cá vừa tiện lợi và rẻ tiền.
Trong nuôi trồng thủy sản, hai loại carotenoid thường được sử dụng là
astaxanthin và canthaxanthin vì ngoài việc cung cấp sắc tố, tạo màu sắc đẹp cho
tôm, cá; hai chất này còn có chức năng tăng cường bảo vệ cơ thể chống lại sự oxy
hóa, tăng cường hệ miễn dịch, sức đề kháng … của tôm, cá.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu trên cá hồi, cá vàng và tôm cho thấy ở một liều
lượng giới hạn nào đó, việc bổ sung sắc tố sẽ đạt đến độ bão hòa. Mặt khác, đối với
từng đối tượng nuôi sẽ có đáp ứng khác nhau với từng loại sắc tố. Để sử dụng có
hiệu quả các loại sắc tố bổ sung vào thức ăn, vấn đề nghiên cứu loại sắc tố, liều
hoặc vài tuần. Tuy nhiên khi cả 2 sự thay đổi màu sinh lý và hình thái cùng xảy ra
thì sự thay đổi màu hình thái cung cấp màu sắc cơ bản hơn [14]
1.1.2. Khái quát về tế bào sắc tố trên da cá
1.1.2.1. Cấu trúc của lớp da cá
Da của cá là một lớp hàng rào có chức năng chủ yếu ngăn cách với môi trường
bên ngoài và duy trì sự ổn định môi trường bên trong cơ thể. Cũng giống như các
loài động vật có xương sống khác, da cá gồm tầng biểu bì (epidermis) và tầng bì
(dermis) ngăn cách với nhau bởi một lớp màng gốc (basalment membrane hay basal
lamina) có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử.
Tầng bì (dermis) bao gồm 2 lớp chủ yếu: lớp xốp (stratum spongiosum,
stratum laxum) và lớp đặc (stratum compactum).
3
Lớp xốp (stratum spongiosum) là một mạng lưới lỏng lẻo gồm collagen và các
sợi lưới. Lớp xốp chứa mạch và các thành phần thần kinh, và vảy được giữ chặt
trong các túi vảy. Lớp này cũng bao gồm các nguyên bào sợi, tế bào sắc tố, bạch
cầu và các mô tạo vảy.
Lớp đặc (Stratum compactum) bao gồm các bó chất tạo keo tạo thành một lớp
dày đặc phía trên lớp hạ bì (hypodermis) [14]
1.1.2.2. Tế bào sắc tố (Chromatophore cell)
Các sắc tố được dự trữ trong những tế bào đặc biệt dưới da, gọi là tế bào sắc tố
(chromatophore – pigment cell).
a). Vị trí
Ở lớp cá xương, tế bào sắc tố thường được tìm thấy trong lớp xốp (stratum
spongiosum) của tầng bì (dermis) và trong lớp hạ bì (hypodermis). Chúng nằm gần
lớp màng gốc: trong phần trên của lớp xốp ở những vùng không có vảy hoặc nằm
dưới tấm vảy ở da cá có vảy (hình 1.1) [14].
Trái ngược với các tế bào sắc tố hấp thu ánh sáng (melanophore, xanthophore
và erythrophore), leucophore và iridophore là những tế bào sắc tố phản xạ ánh sáng
thường được tìm thấy ở những vùng da màu hơi trắng hoặc óng ánh như bạc [14]
Các tế bào sắc tố đỏ và vàng hầu hết bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng, do
đó cách tốt nhất là bổ sung các thực phẩm kích thích tạo màu để duy trì và cải thiện
màu sắc ở cá. Hơn nữa, việc bổ sung các sắc tố đỏ và vàng không có nghĩa là chỉ cải
thiện 2 màu này mà những cấu trúc khác, như các protein, cũng có khả năng liên kết
với những tế bào sắc tố để tạo ra sự đa dạng về màu sắc ở cá [19].
1.1.3. Các chất trong thức ăn có khả năng làm gia tăng màu sắc của cá
Màu sắc biểu hiện bên ngoài của cá là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố.
Tuy nhiên, nhiều thí nghiệm trên các loài cá cảnh cho thấy màu cá nuôi bị nhạt dần
là do trong thức ăn nhân tạo thiếu carotenoid, mà cá không thể tự tổng hợp những
sắc tố này. Vì vậy, để duy trì và làm cho màu sắc của cá tươi hơn, sống động hơn,
trong môi trường bể nuôi cần phải cung cấp cho chúng một chế độ dinh dưỡng có
những chất bổ sung màu hiệu quả.
Có 4 nhóm sắc tố chủ yếu cung cấp màu ở cá là: melanins (màu đen / nâu),
carotenoids (màu đỏ, cam, vàng), pteridines (màu đỏ), và purines (các tinh thể phản
chiếu).
5
Melanins và purines ít bị ảnh hưởng bởi thức ăn, tuy nhiên thức ăn cũng cần
phải đầy đủ dinh dưỡng để bảo đảm cung cấp đủ nguyên liệu cho việc hình thành
các sắc tố này (melanin có màu đen / nâu, được tổng hợp từ tyrosine)
Đối với hầu hết các loại cá, các carotenoid được xem như là những sắc tố quan
trọng nhất trong việc làm gia tăng màu sắc vì chúng không thể tự sản xuất ra được
mà phải lấy từ thành phần thức ăn (pteridines chỉ đóng một vai trò nhỏ) [19].
Sắc tố carotenoid là hợp chất sắc tố hữu cơ có trong tự nhiên, tạo màu vàng,
đỏ và cam trên da, cơ thịt và vỏ giáp của giáp xác. Trong carotenoid, caroten là
nhóm sắc tố được chiết xuất từ carotte, được Wackenroder phân lập trong phòng thí
tạo nhưng astaxanthin cũng có thể được chiết xuất từ các nguồn tự nhiên như các
giáp xác và tảo. Trong nhiều năm canthaxanthin cũng được sử dụng như là một loại
màu thực phẩm an toàn ở Canada [7].
1.1.3.1. Astaxanthin
Astaxanthin là một sắc tố xanthophyll, là dẫn xuất 3,3’-dihydroxy - 4,4’diketo-
β-caroten.
Công thức hóa học: C
40
H
52
O
4
(M = 596)
Công thức cấu tạo: Astaxanthin là một sắc tố màu đỏ, có thể hoà tan trong dầu / mỡ, được sản
xuất bởi những các loại vi tảo như Haematococcus pluvialis. Tảo Haematococcus
có thể chứa đến 30g astaxanthin trong 1kg tảo khô. Các động vật biển như cá, tôm,
cua và tôm hùm ăn các loại tảo này và astaxanthin tạo ra màu đỏ cho chúng [15]
Không giống như một số loại carotenoid khác, trong cơ thể người Astaxanthin
không chuyển đổi thành vitamin A (Retinol). Nếu hàm lượng vitamin A quá nhiều
thì có thể gây ngộ độc cho cơ thể, nhưng với astaxanthin thì sẽ không có hiện tượng
này xảy ra. Astaxanthin còn là một chất chống oxy hóa mạnh, gấp 10 lần các
carotenoid khác [4].
Astaxanthin có khả năng cải thiện hệ thống miễn dịch bằng cách tăng số lượng
các tế bào sản xuất kháng thể. Các tác dụng ức chế bệnh ung thư của astaxanthin
tích cực trên sự tăng trưởng. Mặt khác, astaxanthin còn đóng vai trò tương tự như
vitamin E trong phòng chống sự oxy hóa tế bào và liên hệ đến chức năng sinh sản ở
các động vật thủy sản.
8
Nguồn cung cấp sắc tố astaxanthin và canthaxanthin bao gồm: astaxanthin và
canthaxanthin tổng hợp, astaxanthin nấm men, astaxanthin tảo và astaxanthin ly
trích từ phế phẩm của các loài giáp xác.
Astaxanthin và canthaxanthin tổng hợp hóa học: có cấu trúc tương tự cấu trúc
tự nhiên. Một dạng tổng hợp astaxanthin, có tên thương mại CAROPHYL PINK
chứa đến 8% astaxanthin, rất phổ biến trên thế giới.
Astaxanthin nấm: trong thiên nhiên, loài nấm Phaffia rhodozyma chứa tỉ lệ cao
astaxanthin. Công nghệ nuôi cấy tế bào tạo ra những chủng nấm Phaffia có năng
suất astaxanthin rất cao, lên đến 2.000 – 3.000mg astaxanthin /kg nấm. Astaxanthin
nấm đã được thương mại hóa với các tên thương mại khác nhau. Việc sử dụng
astaxanthin nấm trên cá hồi, cho kết quả: tạo màu tương tự như astaxanthin tổng
hợp và hiệu quả tạo màu thường lâu hơn astaxanthin tổng hợp. Trên loài giáp xác,
astaxanthin nấm có tác dụng tương tự astaxanthin tổng hợp và astaxanthin tích lũy
nhiều trong lớp vỏ hơn.
Astaxanthin tảo: các loài tảo đều chứa một tỉ lệ nhất định các carotenoid, trong
đó, astaxanthin chiếm tỉ lệ cao trong tảo lục Haematoccocus và Chlorella. Sinh khối
các loài tảo trên được sấy phun, bảo quản và sử dụng như nguồn astaxanthin bổ
sung vào thức ăn. Astaxanthin tảo cho tác dụng tạo màu trên cá hồi, tương tự như
astaxanthin tổng hợp, nhưng tăng trưởng của lô sử dụng astaxanthin nấm không
khác với lô đối chứng (không bổ sung astaxanthin). Khi sử dụng astaxanthin tảo,
việc tiêu hóa và hấp thụ astaxanthin trong tế bào cơ thể cá tôm bị ngăn cản, do lớp
vách tế bào tảo hạn chế độ tiêu hóa. Do đó, thông thường, tế bào tảo phải được phá
vỡ bằng kỹ thuật nghiền.
Astaxanthin từ phế phẩm giáp xác: các bột giáp xác như bột ruốc, bột đầu tôm,
yêu cầu màu đỏ hoặc cam nhiều hơn [9].
Canthaxanthin là một chất phụ gia thực phẩm được sử dụng cho cá hồi nuôi
trong môi trường không có sẵn các nguồn astaxanthin. Canthaxanthin cung cấp cho
cá hồi màu hồng tương tự như màu hồng / đỏ của cá hồi hoang dã, đồng thời hoạt
động như một chất kháng sinh. Canthaxanthin là chất phụ gia có màu được phép
cho vào thực phẩm và thức ăn động vật ở nhiều quốc gia, bao gồm các nước Châu
Âu, Mỹ và Canada. Tại Anh, canthaxanthin được cho phép bổ sung vào thức ăn gia
cầm, một số loại xúc xích xuất khẩu sang Pháp, và trong thức ăn cá hồi. Liên minh
châu Âu cũng đã quy định giới hạn của canthaxanthin là 80mg/kg thức ăn.
Canthaxanthin cũng được sử dụng kết hợp với astaxanthin trong vài loại thức ăn cá
hồi [8].
Canthaxanthin được cung cấp bởi DSM Nutritional Products được bán trên thị
trường với tên thương mại là CAROPHYLL RED chứa 10% canthaxanthin
10
1.1.4. Hoạt động của các chất làm gia tăng màu sắc ở cá
Những loài cá khác nhau có khả năng sử dụng chất làm gia tăng màu khác
nhau. Các loại cá ăn thịt (cá hồi…) cần astaxanthin trong thành phần thức ăn của
chúng, vì vậy chúng có thể tiêu hóa và tích tụ nó trong các tế bào erythrophores.
Những loài khác, như cá koi và cá vàng, thích nghi hơn, có thể chuyển đổi các
carotenoid đơn giản hơn thành astaxanthin và những sắc tố chủ yếu khác. Khả năng
chuyển đổi sắc tố của cá liên quan đến thành phần thức ăn mà chúng đã lựa chọn để
ăn trong hoang dã. Một số loài cá ăn cỏ / ăn tạp có khả năng chuyển đổi tốt hơn, bao
gồm nhiều loài cá nhiệt đới. Vì vậy, các thành phần thức ăn được chọn lựa theo hàm
lượng carotenoids chủ yếu của chúng, và khả năng sử dụng của các loài. Cá tiêu hóa
những loại thức ăn này, giải phóng các carotenoids và hấp thụ chúng. Tiếp theo các
carotenoid kết hợp với mỡ (dầu) và tích tụ trong các tế bào sắc tố. Để sử dụng sắc tố
hiệu quả, điều quan trọng là xác định liều lượng sử dụng đối với từng đối tượng
nuôi vì đến một giới hạn nào đó, sắc tố sẽ giảm tác dụng cải thiện màu sắc và sẽ gây
Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008 [3]
Các nghiên cứu trên tôm sú Penaeus cũng cho thấy các loại giáp xác không thể
tổng hợp được carotenoid, vì vậy phải được cung cấp trong thành phần thức ăn của
chúng. Astaxanthin là một carotenoid tốt nhất cho sự hình thành sắc tố thích hợp
của tôm sú. Ngoài việc cung cấp sắc tố, carotenoid còn đóng vai trò như một chất
chống oxi hoá và như nâng cao đáp ứng miễn dịch, sinh sản, tăng trưởng, thành
thục Astaxanthin cải thiện tốt chất lượng nauplii và tỷ lệ sống zoea [17]
Menasveta et al., 1993 (trích bởi Todd Lorenz [17]) đã chứng minh nguyên
nhân của hội chứng Blue color của tôm sú nuôi (Penaeus monodon) là do thiếu
astaxanthin trong khẩu phần ăn hàng ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 4 tuần
được cho ăn khẩu phần chứa 50 ppm astaxanthin, tôm đã hồi phục lại hệ sắc tố hơi
xanh lục – nâu bình thường. Phân tích mô các nhóm thử nghiệm cho thấy nhóm
được cho ăn astaxanthin đã tăng hàm lượng carotenoid 318% và có màu sắc bình
thường, trong khi đó nhóm được cho ăn khẩu phần thương mại không có
astaxanthin thì hàm lượng gia tăng carotenoid chỉ 14% và có màu xanh dương.
Yamada et al., 1990 (trích bởi Todd Lorenz [17]) cũng đã chứng minh ảnh
hưởng của sắc tố carotenoid trong khẩu phần thức ăn đến sự hình thành sắc tố của
tôm he Nhật (P. japonicus). Thí nghiệm được thực hiện bằng cách bố trí cho tôm ăn
100ppm các loại carotenoid khác nhau (- carotene, canthaxanthin và astaxanthin).
Sau 8 tuần, 3 loại sắc tố carotenoid này đều tích tụ trong các mô, tuy nhiên nhóm
được cho ăn khẩu phần có astaxanthin có mức độ mô astaxanthin cao nhất (16,5mg/
kg trọng lượng thân). Kết quả này cao hơn nhóm cho ăn canthaxanthin 23% và 43%
so với nhóm cho ăn (-caroten.
12
Thử nghiệm thứ 2 tập trung vào các mức cho ăn đặc biệt với astaxanthin từ 50
– 400ppm trong 8 tuần. Kết quả cho thấy khi hàm lượng astaxanthin gia tăng đến
200ppm, sự tích tụ astaxanthin cũng gia tăng tối đa là 29,1 mg/kg trọng lượng thân.
Tuy nhiên, khi hàm lượng astaxanthin tăng hơn 200 ppm thì hàm lượng tích tụ trong
vàng của da.
Sự tích tụ của canthaxanthin trong thịt cá, trứng gà và da / mỡ của gà giò có
liên quan với nồng độ của sắc tố trong khẩu phần ăn của chúng. Bên cạnh đó, nhiều
yếu tố dinh dưỡng, sinh lý và môi trường cũng liên quan đến sự tích tụ
canthaxanthin, điều này giải thích tính biến thiên lớn của các kết quả nhận được
trong thực tế, đặc biệt là đối với cá. Trên cơ sở những số liệu đã công bố, nhu cầu
thị trường về mặt đánh giá cảm quan của thực phẩm tươi sống hoặc đã chế biến, các
mức độ tích lũy canthaxanthin trong sản phẩm có thể chấp nhận được như sau:
- Đối với thịt cá hồi: hàm lượng tối thiểu là 8mg carotenoid / kg thịt, bất kế
bản chất của carotenoid (là canthaxanthin hay astaxanthin), thực tế mỗi loại sắc tố
này có thể đóng góp khác nhau vào sự chuyển đổi dần màu của sản phẩm.
- Đối với trứng : hàm lượng 6mg canthaxanthin / kg trứng
- Đối với gà giò sơ chế (bỏ đầu, ruột): 2,5 mg canthaxanthin / kg da / mỡ và
0,25 mg canthaxanthin / kg cơ.
Canthaxanthin là sắc tố duy nhất của họ carotenoid được đăng ký sử dụng cả
trong thức ăn của người và động vật. Đối với Liên minh Châu Âu, canthaxanthin
cũng là sắc tố carotenoid duy nhất mà liều sử dụng hàng ngày có thể chấp nhận
(Acceptable Daily Intake - ADI) được quy định là 0,03mg / kg thể trọng.
Ngày 23 tháng 8 năm 2002, Anh và một số quốc gia thành viên của Liên minh
Châu Âu khác đã thông qua việc sử dụng canthaxanthin và các chất phụ gia thực
phẩm khác theo nghị định 70/524 (nghị định về các chất phụ gia thực phẩm), theo
đó liều lượng canthaxanthin được sử dụng trong thực phẩm hiện nay là:
Bảng 1.2: Liều lượng canthaxanthin sử dụng trong thức ăn chế biến
Đối tượng nuôi
Liều sử dụng tối đa (mg/kg) trong thức ăn chế biến
Gia cầm 80mg/kg thức ăn (có thể kết hợp với các carotenoid, xanthophill)
Cá hồi 80 mg/kg thức ăn. Được phép sử dụng từ 6 tháng tuổi trở lên.
Cho phép sử dụng kết hợp canthaxanthin và astaxanthin không
vượt quá 100 mg/kg trong thức ăn chế biến
1.3.2. Xuất xứ cá chép Nhật
Cá chép bắt nguồn từ Trung Quốc, được lai tạo trở thành giống cá đẹp để
trưng bày làm cảnh và nuôi rộng rãi. Người Nhật cũng đã nghiên cứu để nhân giống
loài cá này đầu tiên tại đảo Niigata. Năm 1914, để tôn vinh hoàng tử Hirohito, Nhật
Bản đã cho triển lãm giống cá chép Koi đầu tiên tại Tokyo và đảo Niigata chính
thức được mang tên Niigata Koi. Từ đây, cá chép Nhật với 2 màu chủ đạo "đỏ và
trắng" được tôn vinh và mua bán rộng rãi. Để nghiên cứu thêm về cách lai tạo màu,
sinh sản, nhân giống và nuôi dưỡng v.v… từ năm 1950, Nhật Bản đã cử các chuyên
gia đến học hỏi tại Trung tâm Khoa học Kỹ thuật thuộc khoa Sinh vật trường Đại
học Chicago và khoa Hóa lý thuộc Viện nghiên cứu Illinois, Hoa Kỳ.
15
Cá chép do người Nhật lai tạo đẹp về màu sắc và đắt giá. Do vậy, mỗi khi
nhắc đến loài cá chép được lai tạo có nhiều màu sắc đẹp, người ta liên tưởng ngay
đến người Nhật và thường được dùng chung một tên gọi là "cá chép Nhật". Thực ra,
cá chép do Nhật Bản lai tạo có tên gọi là Nishikigoi, dịch ra tiếng Việt là cá chép
nhiều màu sắc, đến thế kỷ 19 thì có thêm tên gọi KOI. Từ Koi theo tiếng Nhật là cá
chép, từ đồng âm khác nghĩa là tình yêu, yêu mến. Như vậy, giống cá này được lai
tạo bắt nguồn từ Trung Quốc, Koi là tên do người Nhật đặt và được gọi chung cho
tất cả các loại cá chép lai tạo. Do cá Koi của Nhật thuộc loại xuất sắc, đắt giá và nổi
tiếng, nên người Nhật đã tự đặt ra những quy cách về gam màu, tên gọi để phân biệt
từng chủng loại [1]
1.3.3. Hình dáng
Cá Koi được chia ra làm 2 loại: Koi chuẩn và Koi bướm (hình 1.2)
Koi chuẩn (Standard Koi): Hình dáng giống như cá nguyên thủy, nhưng được
pha trộn nhiều màu sắc rất đẹp (khi được nhìn từ trên xuống, dọc theo sống lưng),
do đó cá Koi chỉ thật sự đẹp khi được nuôi ở ao.
Hình 1.2: Hình dáng các loại cá KOI
a) Cá KOI chuẩn với vây và đuôi ngắn
b) Cá KOI bướm với vây và đuôi dài
I.3.4. Màu sắc:
Sự đa dạng của cá chép KOI được phân biệt bởi màu sắc, hoa văn và vảy. Cá
chép KOI có nhiều màu sắc khác nhau. Một số màu chủ yếu là trắng, đen, đỏ, vàng,
xanh dương và kem. Dựa vào màu sắc và hoa văn trên thân, người Nhật đặt tên cho
các loài cá chép KOI như sau:
Kohasu : da màu trắng, với các hoa văn màu đỏ
Taiso sanshoku (Sanke) : da màu trắng với các hoa văn đỏ và đen.
Showa Sanshoku (Showa) : da màu đen với các hoa văn màu đỏ và trắng.
Tancho : có một vòng tròn màu đỏ trên trán, có thể là
Tancho Showa, Tanco Sanke hay Tancho Goshiki
Asagi : màu xám bạc
Shusui : kiểu vảy cục bộ của loại Asagi
Bekkko : da màu trắng, đỏ hoặc vàng với hoa văn đen
Utsurimono : màu đen với hoa văn màu đỏ, trắng hoặc vàng
Nguồn: www.floridafishfarms.com/koi.htm [1]