Báo cáo khoa học : Nghiên cứu công nghệ xử lý bảo quản và đóng gói hoa lan cắt cành phục vụ nội tiêu và xuất khẩu - Pdf 25


LỜI CẢM ƠN!

Thay mặt những người thực hiện đề tài “Nghiên cứu quy trình công nghệ
xử lý, bảo quản và đóng gói hoa lan cắt cành phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”
tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Ban giám đốc Phân Viện Cơ Điện Nông nghiệp Và Công nghệ Sau thu
hoạch
- Phòng phân tích hóa sinh – Phân viện cơ điện NN & CN STH
- Ban lãnh đạo của Ban Quản Lý Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TP
HCM
- Chủ vườ
n lan Tân Xuân – Quận 12 – TP HCM
- Ban giám đốc Nông trường Phạm Văn Cội- huyện Củ Chi – TP HCM
Đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
này !

TP HCM, Ngày Tháng Năm 2009
Chủ nhiệm đề tài

Phạm Đình Dũng


điều hòa sinh trưởng trong dung dịch nuôi dưỡng hoa thích hợp trong quá trình bảo
quản 22
2.2.6.1. Xác định nhiệt độ và thời gian xử lý 2 loại hoa lan 22
2.2.6.2. Xác định công thức bổ sung chất dinh dưỡng cho dung dịch cắm hoa 23
2.2.7. Khảo sát các loại bao bì và cách bao gói bảo quản thích hợp cho các loại hoa lan
cắt cành 24
2.2.7.1. Xác định độ thấm khí của các loại bao bì 24
2.2.7.2. Phương pháp đóng gói phù hợp cho từng loại hoa lan cắt cành 25
2.2.8. Xác định nhiệt độ, độ ẩm không khí thích hợp cho quá trình bảo quản hoa lan . 25
2.2.9. Xây dựng quy trình công nghệ xử lý, bảo quản các loại hoa cắt cành từ khi cắt,
lưu trữ và phân phối 28
2.10. Tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế 30
CHƯƠNG 3: KẾT QU
Ả VÀ THẢO LUẬN 31
3.1. XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ SAU THU HOẠCH CHO TỪNG LOẠI HOA 31
3.1.1. Xác định chỉ số sau thu hoạch của lan Mokara 31
3.1.2. Chỉ số thu hoạch dendrobium 34
3.2. XỬ LÝ VI KHUẨN SAU THU HOẠCH CHO 2 LOẠI HOA TRÊN 38
3.3. PHÂN LẬP CÁC LOẠI NẤM BỆNH TRÊN HAI LOẠI HOA TRONG QUÁ
TRÌNH BẢO QUẢN 40
3.4. KHẢO SÁT CƯỜNG ĐỘ HÔ HẤP, CƯỜNG ĐỘ SINH ETYLEN VÀ SỰ MẪN
CẢM CỦA 2 LOẠI HOA VỚI NHIỆT ĐỘ VÀ ETHYLEN 46
3.4.1. Xác định cườ
ng độ hô hấp 46
3.4.1.1. Đo nồng độ CO
2
bằng phương pháp dùng khí liên tục 46
3.4.1.2. Đo nồng độ CO
2
bằng phương pháp nhốt khí 47


DANH MỤC BẢNG BIỂU
SỐ TÊN BẢNG BIỂU
TRANG
1 Thang điểm các chỉ tiêu đánh giá theo TCVN 3215-79
27
2 Cơ sở phân cấp chất lượng sản phẩm hoa lan sau bảo quản
27
3 Điểm đánh giá chất lượng cảm quan và thời gian bảo quản hoa lan (ngày)
31
4 Điểm đánh giá chất lượng cảm quan và số ngày bảo quản hoa lan (ngày)
35
5 Số ngày bảo quản hoa mokara sau khi xử lý bằng dung dịch diệt khuẩn
38
6 Số ngày bảo quả

=30-32
0
C, W= 65-70%)
59
17 Độ thấm khí của 2 loại bao bì
60
18 Thời gian bảo quản hoa lan ở điều kiện phòng (t
0
=30-32
0
C, W=65-70%)
63
19 Thời gian bảo quản hoa lan ở nhiệt độ 14
0
C, W= 85-95%
64
20 Thời gian bảo quản hoa lan ở các nấc nhiệt độ khác nhau
65
21 Kết quả đánh giá cảm quan lan mokara
66
22 Kết quả đánh giá cảm quan lan dendrobium
67
23 Kết quả phân tích thành phần % đường tổng và protein hoa lan mokara
68
24 Kết quả phân tích thành phần % đường tổng và protein hoa lan
Dendrobium
69 DANH SÁCH HÌNH ẢNH

16
Cường độ hô hấp đo ở nhiệt độ 10
0
C 47
17
Cường độ hô hấp đo ở nhiệt độ 12
0
C 47
18
Đồ thị đo cường độ hô hấp ở nhiệt độ 14
0
C 48
19
Đồ thị đo cường độ hô hấp ở nhiệt độ 16
0
C 48
20
Nồng độ etylen sinh ra trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 30
0
C 50
21
Nồng độ etylen sinh ra trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 10
0
C 50
22
Nồng độ etylen sinh ra trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 12
0
C 50
23
Nồng độ etylen sinh ra trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 14

MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi phát triển ngành
sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành sản xuất hoa cây kiểng. Hoa của Việt Nam rất đa
dạng về chủng loại, có chất lượng tương đối cao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi nước ngoài.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những vùng trồng và tiêu thụ hoa lớn của cả nước.
Do thuận lợi về
điều kiện khí hậu, đất đai, nhân lực, thị trường nên ngành trồng hoa ở
Thành phố Hồ Chí Minh rất có tiềm năng phát triển. Trong những năm gần đây ngành
sản xuất hoa cắt cành, đặc biệt là lan cắt cành tăng lên rất nhanh cả về diện tích lẫn sản
lượng. Loại hoa trồng phổ biến nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh là các loại hoa lan như:
mokara, dendrobium…mang lại giá trị rất cao.
Hiệu quả kinh tế từ ngành sản xuất hoa cắt cành mang lại cao hơn 4-5 lần so với
trồng lúa. Hoa lan cắt cành không những được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu đi
các nước. Hoa lan cắt cành sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng tốt tương
đương với các sản phẩm của Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc Tuy nhiên hoa lan cắt
cành của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của Việt Nam nói chung khó xâm nhập
được vào các thị trường như: Mỹ, Nh
ật, EU là do nhiều nguyên nhân. Trong các

sống cho hoa; mặt khác lại là sự tổng hợp các chất như etylen.
Quá trình hô hấp giải phóng năng lượng từ glucose hoặc các hóa chất hữu cơ khác.
Hóa năng glucose được sử dụng để cung cấp năng lượng cho nhu cầu phát triển, trưởng
thành và già cỗi. Quá trình hô hấp của hoa sau thu hoạch bình thường là hô hấp hiếu
khí, cần có oxi hoặc hô hấp hiếm khí khi thiếu oxi. Trong quá trình hô hấp của hoa cắt
cành nói riêng và nông sản nói chung thì thường sử dụng glucose để oxi hóa tạo nă
ng
lượng. Một mole glucose sản sinh 2830 kJ năng lượng khi hô hấp hiếu khí (phương
trình (2.1)). Hô hấp hiếm khí cũng giải phóng năng lượng (118 kJ) từ glucose nhưng
nhỏ hơn nhiều so với hô hấp hiếu khí và là quá trình “lên men” (phương trình (2.2)).
Tuy nhiên trong bảo quản hoa cắt cành thì phải hạn chế tối đa quá trình hô hấp hiếm khí
xãy ra
Hô hấp hiếu khí:
C
6
H
12
O
6
+ 6O
2
Æ 6CO
2
+ 6H
2
O + 2830 kJ (2.1)
Hô hấp yếm khí:
C
6
H

C, cường độ hô hấp tăng gấp đôi. Nồng độ O
2
thấp làm giảm cường
độ hô hấp. Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của hoa và thực vật cảnh
cắt cành. Hô hấp là quá trình phức tạp liên quan đến các phản ứng enzym. Tỷ lệ của các
phản ứng này, trong biên độ nhiệt độ bình thường, sẽ tăng theo cấp số mũ khi nhiệt độ
tăng lên. Thực tế, ở nhiệt độ từ 0-20
o
C, hoạt động hô hấp của hoa cẩm chướng có thể
tăng gấp 25 lần. Dưới hay trên giới hạn nhiệt độ này (mỗi loại hoa sẽ có riêng hoặc khác
biệt nhau về giới hạn này) họat động hô hấp của hoa sẽ ngừng do xu hướng giảm hoạt
động của các enzym. Hô hấp tăng cao không những tạo ra nhiệt quanh sản phẩm, mà
còn sử dụng hết các chất dinh dưỡng tích lũy trong hoa. Vì vậy nhiệ
t độ của hoa cắt
cành hạ thấp sẽ giảm các hoạt động hô hấp của chúng, điều này sẽ làm chậm quá trình
tiêu thụ các dưỡng chất và tạo nhiệt. Nếu nồng độ O
2
quá thấp hoa sẽ chuyển sang hô
hấp yếm khí. Điều chỉnh được nồng độ O
2
và CO
2
là vấn đề cơ bản của điều khiển môi
trường (CA) và biến đổi môi trường (MA) trong bảo quản hoa. Có thể hạ thấp nồng độ
O
2
môi trường tới mức có thể để giảm cường độ hô hấp nhưng phải tránh hô hấp yếm
khí. Nồng độ CO
2
cao làm giảm cường độ hô hấp và sự phát triển nấm bệnh. Trong khí

2/3 lượng nhiệt này thải ra môi trường xung quanh, còn 1/3 được dùng vào các quá trình
trao đổi chất bên trong tế bào, quá trình bay hơi và một phần dự trữ ở dạng năng lượng
hóa học “vạn năng”. Sinh nhiệt là quá trình bất lợi trong quá trình bảo quản, vì khi nhiệt
độ tăng sẽ thúc đẩy cho vi sinh vật phát triển nhanh làm cho hoa cắt cành nhanh chóng
bị hư hỏng. Ngay ở nhiệt độ bảo quản tối ưu, gần 0
o
C, nhiệt độ khối hoa vẫn có thể tăng
1-2
o
C trong 1 ngày đêm. Sự sinh nhiệt chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ càng
cao thì sinh nhiệt càng lớn. Nhiệt độ tăng kích thích hô hấp mạnh, hoạt động sinh lý
tăng, độ ẩm tăng. Đó là điều kiện thích hợp cho vi sinh vật phát triển và làm cho hoa hư
hỏng một cách nhanh chóng. Vì vậy trong quá trình bảo quản hoa, phải khống chế điều
kiện bảo quản sao cho sự sinh nhiệt là ít nhấ
t [5].
Trong quá trình bảo quản, xảy ra các quá trình biến đổi về vật lý, sinh lý và sinh
hóa. Các biến đổi này liên quan chặt chẽ với nhau và phụ thuộc vào tính chất tự nhiên
của hoa tươi: giống, loại, điều kiện gieo trồng, chăm sóc, độ già chín khi thu hái, vận
chuyển và các yếu tố kỹ thuật trong quá trình bảo quản.
Những tổn thương cơ giới trong quá trình thu hái, vận chuyển: hoa bị gãy, dập nát
không những gây méo mó xấu xí bề ngoài mà còn tăng s
ự mất nước, tạo điều kiện cho
lây nhiễm bệnh, kích thích quá trình hô hấp và tổng hợp ethylen. Những loại hoa này
không thể bảo quản được vì chúng chỉ thối hỏng trong vài giờ. Vì vậy giảm thiểu những
tổn thương cơ giới là một trong những con đường kéo dài tuổi thọ và chất lượng của hoa
cắt cành, đồng thời nâng cao chất lượng bảo quản.
1.2. CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ĐỐI V
ỚI HOA CẮT CÀNH
Hiện nay công nghệ sau thu hoạch đối với hoa cắt cành bao gồm một số công đoạn
chính như: Thu hoạch, xử lý, đóng gói và bảo quản sau đóng gói. Đây là những công

C. Các loại hoa cắt có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt
đới rất mẫn cảm với nhiệt độ lạnh nên đòi hỏi bảo quản ở nhiệ 9t độ cao hơn: lay ơn (2-
4
0
C), lan (7-10
0
C), [9], [7].
+ Bảo quản hoa cắt trong khí quyển điều chỉnh (Modified atmosphere, MA)
Ba chất khí chủ yếu trong công nghệ MA là oxygen O
2
, dioxid carbon CO
2

nitrogen N
2
. Trong công nghệ MA người ta giảm nồng độ O
2
xuống thấp nhất còn
khoảng 2 - 6% (v/v (% thể tích)), CO
2
tăng lên khoảng 5 - 15% (v/v), còn lại là N
2
.
Bao gói trong khí quyển cân bằng (Equilibrium Modified Atmosphere, EMA).
Cho hoa vào bảo quản với một hỗn hợp khí O
2
, CO
2
, N
2

O
2

theo phản ứng.

Cô chaát – H
2
+ H
2
O
2
Cô chaát + 2H
2
O
PO

Cơ chất thường là các phenol, amin thơm và một số hợp chất dị hoàn.
+ Enzym polyphenoloxydase còn gọi o-diphenol oxydase hay tyrosinase là một
cuproprotein (có chứa Cu). Polyphenoloxydase có rất nhiều trong thực vật, nó oxy hóa các
monophenol, diphenol, polyphenol thành các quinon tương ứng. Thí dụ:

OH
OH
+
1
2
O
2

PY

loạn một số quá trình sinh lý, sinh hóa của hoa làm cho hoa mất giá trị cảm quan, hiện
tượng nầy gọi là sự tổn thương lạnh (chilling injury). Mỗi loại hoa có một giới hạn nhiệt
độ bảo quản tối ưu. Bảo quản hoa ở nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn khoảng nhiệt độ
này, hiệu quả bảo quản sẽ không tốt, hoa chóng hư và có chất lượng kém. Mỗi loại hoa
có một khoảng nhiệt độ bảo quản tối ưu riêng. Sự dao động nhiệt độ cũng gây ảnh
hưởng lớn đến thời hạn bả
o quản. Trong thực tế chỉ cho phép nhiệt độ dao động ±0,5
o
C.
Trong quy trình bảo quản thì nhiệt độ bảo quản đóng vai trò rất quan trọng. Nếu
hoa được bảo quản ở nhiệt độ quá cao thì hoa sẽ nhanh hư hỏng, còn hoa bảo quản ở
nhiệt độ quá thấp sẽ gây hiện tượng tổn thương các tế bào làm cho hoa bị thối nhanh.
Tùy theo loại hoa được sản xuất ở vùng khí hậu ôn đới hay nhiệt đới mà có nhiệt độ bảo
quản khác nhau. Hoa được canh tác ở
vùng ôn đới nhiệt độ bảo quản khoảng từ 0-7
o
C
tùy thuộc vào mùa vụ. Nhiệt độ không khí trong kho nên thường xuyên được kiểm tra
để đảm bảo nhiệt kế hoạt động tốt vì khi nhiệt độ tụt xuống -1
o
C tới 0,5
o
C có thể làm
hoa đông cứng lại và làm phai màu hoa, hay có thể ức chế các nụ hoa làm chúng chậm
nở. Nhiều loại hoa nhiệt đới và á nhiệt đới , và cả một số loài hoa ôn đới, không cần
phải làm mát chúng ở nhiệt độ thấp, mà có thể giữ chúng tốt hơn ở nhiệt độ 10-12
o
C.
Điều chỉnh ẩm độ
Độ ẩm tương đối của không khí cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến thời hạn

động của etylen, màng tế bào của hoa có những biến đổi cơ bản: tính thấm của màng
tăng lên đáng kể do etylen có ái lực cao đối với lipit, một thành phần chủ yếu cấu tạo
nên màng tế bào. Điều đó dẫn đến giải phóng các enzym vốn tách rời với cơ chất do
màng ngăn cách. Các enzym này có điều kiện tiếp xúc với cơ chất và gây ra các phản
ứng có liên quan đến các quá trình sinh lý, sinh hoá của hoa cắt cành, thoát hơi nước…
Theo Yang và cộng sự etylen là một loại hormone thực vật được tạo thành trong
giai đo
ạn phát triển của cây trồng. Quá trình sinh tổng hợp etylen bao gồm những công
đoạn chính sau: xuất phát ban đầu từ axít amin methionine (MET) và sản phẩm quan
trọng nhất của chu trình này là tạo ra etylen, quá trình này đi qua hai sản phẩm trung
gian chính đó là S-adenosyl methionine (SAM) và 1- aminocyclopropane 1-cacboxylic
axit (ACC). Từ methionine (MET) chuyển hoá thành S-adenosyl methionine (SAM)
nhờ tác dụng xúc tác của enzym SAM-synthetaza. Từ SAM chuyển hóa theo 2 con
đường khác nhau: một phần tổ hợp lại axit amin MET để tiếp tục quá trình sinh tổng
hợp trong cơ thể sinh vật; một phần chuyển hóa thành 1-aminocyclopropane 1-
cacboxylic axit (ACC) nhờ tác dụng xúc tác của enzym ACC-synthetaza. Khi hoa còn
trên thân cây mẹ, con đường hình thành trở lại MET xảy ra mạnh và sự hình thành ACC
là yếu hơn. Quá trình này sẽ diễn ra ngược lại khi hoa bị tách khỏi cây mẹ. Từ ACC
chuyển hoá thành etylen (C2H4) nhờ tác dụng xúc tác của enzym ACC-oxydaza.
Theo quan điểm của Lurssen và cộng sự trong quá trình sinh tổng hợp etylen từ
axít amin MET, hoạt tính của hai enzym ACC- synthetaza và ACC-oxydaza đóng vai
trò quan trọng trong quá trình điều hoà sản sinh etylen và bị ảnh hưởng bởi các ion kim
loại nặng. Nếu có tác độ
ng của các biện pháp kỹ thuật nhằm chống lại sự hình thành
ACC, chẳng hạn như sử dụng chất kháng etylen (Retain - AVG) thì chất này sẽ có tác
dụng ức chế hoạt động của enzym ACC-synthetaza. Do đó, quá trình chuyển hoá từ
SAM để tạo thành hàm lượng ACC thấp (chất tiền etylen). Chính vì vậy, hàm lượng
etylen tạo thành thấp, ứng dụng tính chất này để kéo dài thời gian bảo quản hoa cắt
cành.
Trong chu trình của Yang và Adams một hướng thực hi

2
H
4
/kg.h. Trong quá trình bảo quản phải khống chế sự tổng hợp ethylen để làm
chậm sự chín kéo dài thời gian bảo hoa. Đặc biệt, trong quá trình bảo quản hoa thường
sử dụng một số chất kháng Ethylen. Hiện nay có 3 phương pháp được áp dụng để khử
ethylen.
- Đốt cháy toàn bộ ethylen trong không khí với chất xúc tác thích hợp tẩm trên
chất mang rắn có diện tích riêng lớn, thí dụ PdCl
2
tẩm trong than hoạt tính (Japan Patent
8155147, 1981). Phương pháp này khó áp dụng vì cần phải làm nóng không khí có chứa
ethylen để ethylen được đốt cháy với chất xúc tác.
- Dùng khí O
3
hoặc O nguyên tử tạo ra từ đèn tử ngoại UV ở  = 184-254 nm để
oxid hóa cắt đứt nối đôi ethylen tạo ra CO
2
. Với phương pháp này khí O
3
và O ở nồng
độ cao trong bầu khí quyển có thể tác hại đến sức khỏe công nhân thao tác.
- Oxid hóa ethylen với chất oxid hóa mạnh như Ag
2
S
2
O
3
, Thiosunfat bạc, Chrysal
AVB, STS, KMnO

chuyển tới các hoa và đài nụ, từ đó gây hiện tượng phân hủy protein làm cho cành hoa
tích lũy nhiều axit amin dẫn đến làm thay đổi pH và làm thay đổi sắc tố hoa. Hoa biến
màu nâu là do tích luỹ Phenoltalein, khi áp lực nước bị mất hoa sẽ bị gục vì do mất áp
lực căng của cuống đồng thời tăng hô hấp đột biế
n sản sinh ra C0
2
và etylen gây hiện
tượng lão hóa hoa nhanh [12].
+ Nguyên nhân tắc do vi khuẩn: Hiện tượng này là do chính bản thân vi khuẩn
hoặc hợp chất do chúng tiết ra nút lại. Cả hai loại vi khuẩn và nấm sản sinh rất nhanh
trong dung dịch cắm hoa.
+ Nguyên nhân do sinh lý: Chủ yếu là do tế bào bị sát thương tiết ra một số chất
như keo, tanin các chất phenol bị oxy hóa từ các vết cắt di chuyển trong mạch làm tắc
mạch Ngoài ra khi cắt cành không khí lọt vào mạch gỗ, tạo ra những b
ọt khí cũng
làm cản trở đến vận chuyển nước trong mạch.
Để khắc phục các hiện tượng trên khi hoa cắt xong được cắm ngay vào trong dung
dịch có độ pH thấp dao động từ 3 – 4,5 và bổ sung các thuốc diệt vi khuẩn như
Steptomycin, Oxytetracylin, Metabisulphit, Axit citric, Axit Ascorbic trong hoa cắt
cành [15].
Ngoài các yếu tố kể trên vấn đề dinh dưỡng cho hoa cũng rất quan trọng vì hoa sau
khi cắt nếu không bổ sung thêm dinh dưỡng từ ngoài vào thì hoa sẽ rất nhanh tàn vì lúc
đó hoa sẽ tận d
ụng lại chất hữu cơ dự trữ trong lá, thân để tiếp tục phát triển, theo Brian
M, MC Grego ( Tropical products Transprot Handbook) để hoa kéo dài tuổi thọ thì
chúng ta phải bổ sung dinh dưỡng từ ngoài vào chủ yếu là đường saccarose và các
vitamin ở trạng thái dung dịch. Tuỳ theo từng loại hoa mà nồng độ đường sử dụng dao
động từ 2 – 20%. Trong dung dịch ngoài hai chất kể trên thì còn bổ sung các chất khác
như STS, Ag
2

Nhiệt độ và độ ẩm trong kho bảo quản cũng đóng vai trò quan trọng đối với tuổi thọ
sản phẩm và chất lượng hoa. Nhiệt độ cao và ẩm độ môi trường thấp làm giảm sự phát
triển của phần lớn vi sinh vật gây thối rữa nhưng lại làm tăng sự bay hơi nước, cường độ
hô hấp, hàm lượng etylen. Từ đó sẽ làm ảnh hưởng lớn đến cấu trúc của hoa sinh ra hiện
tượng co nguyên sinh dẫn đến rối loạn trao đổi chất và mất khả năng đề kháng với các
tác động bên ngoài dẫn đến sự lão hóa hoa nhanh. Còn nếu bảo quản ở
độ ẩm cao sẽ tạo
điều kiện cho các sinh vật phát triển làm thối nhũn cánh hoa, núm hoa, đồng thời màu
sắc hoa giảm. Theo Sirichai Kanlayanarat, Antonio L.Acedo J.r.( Davision of
Postharvest Technology, King Mongkurt s University of Technology Thonburi
Bangkok, Thailand) thì hoa lan bảo quản ở độ ẩm không khí từ 85 – 96% là thích hợp
nhất, tùy theo giống và vùng khí hậu canh tác hoa [13].
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm dinh dưỡng và chất kích thích sinh
trưởng đến cúc vàng Đài Loan tác giả Đặng Văn Đông cũng rút ra kết luận Gibberellin
(GA3) tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, còn Spray-N-Grow và
Atonik tác động mạnh ở giai đoạn sinh thực nâng cao tỷ lệ nở hoa hữu hiệu nâng cao
chất lượng hoa, kéo dài tuổi thọ của hoa.
Theo tác giả Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch: sử dụng Thiosunphat
bạc 0,5 ppm có tác dụng rõ rệt nhất đối với hoa cúc Nhật, tuổi thọ của hoa dài hơn 4
ngày so với đối chứng.
Các tác giả Nguyễn Quang Thạch - Nguyễn Mạnh Khải - Trần Hạnh Phúc đã
nghiên cứu ảnh hưởng của Ethylen đối với một số loại hoa cắt như hoa hồng, cẩm
chướng, lan, cho thấy: Ethylen làm tóp, rụng cánh hoa, làm rụng lá, làm mất màu
xanh của lá, mất màu sắc sặc sỡ của cánh hoa, ức chế nụ hoa nở. Bằng cách bổ sung
Thiosunfat bạc 0,5-1ppm vào dung dịch cắm hoa hay nhúng cuống hoa cắt vào dung
dịch trên trước khi bảo quản lạnh có thể nâng cao tuổi thọ của hoa cắt đến 2 lần so với
đối chứng.
Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tiến, Viện Cơ Điện Nông Nghiệp và Công Nghệ Sau
Thu Hoạch đã nghiên cứu quy trình bảo quản hoa lay ơn và hoa hồng Pháp đã sử dụng

- Hoa không bị dập nát
-
Độ dài cành hoa từ 45 – 60 cm đối với hoa lan Mokara
- Độ dài cành hoa từ 30-45 cm đối với lan Dendrobium
- Hoa không bị dị tật, hoặc các xác côn trùng bám trên cành.
2.1.2. Thiết bị máy móc
1. Cân phân tích độ chính xác 10
-4

2. Máy đo pH
3. Máy đo nhiệt độ, độ ẩm tự động
4. Kho lạnh điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm tự động – Đức
5. Máy đo độ thấm khí.
6. Máy đo cường độ hô hấp
7. Kho lạnh – Đức
8. Máy đo độ Brix
9. Tủ cấy vi sinh vật
10. Kính hiển vi 2.2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Xác định chỉ số thu hoạch thích hợp cho 2 loại lan cắt cành là Dendrobium
và Mokara
a. Bố trí thí nghiệm
- Địa điểm thí nghiệm: Vườn Lan Tân Xuân. Phường Tân Thới Nhất, Q12 và Trại
Giống Đồng Tiến 2 Huyện Củ Chi có diện tích từ 0,2 – 0,5 ha, vườn lan có độ đồng đều
cao, lan trồng từ 2 năm tuổi trở lên.

thứ 1,2,3 của cành hoa.
- Phương pháp cảm quan : Phương pháp đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 về
các chỉ tiêu như: màu sắc, trạng thái của hoa lan cắt cành ở 5 giai đoạn trên.
- Theo dõi thời gian bảo quản: Hoa được thu hoạch ở 5 giai đ
oạn khác nhau như trên sẽ
được đưa vào xử lý, bảo quản ở điều kiện nhiệt độ, độ ẩm trong phòng thí nghiệm.
- Kết quả được thu thập và xử lý thông kê bằng phần mềm Excel 2003.
c. Các chỉ tiêu theo dõi
- Thời gian bảo quản: tính từ lúc hoa đưa vào bảo quản đến lúc nụ hoa đầu tiên rụng
- Chỉ tiêu cảm quan như: Màu sắc, trạng thái của cuống, cánh hoa
- Chiều cao nụ hoa, đường kính của nụ hoa ở các nụ hoa thứ 1,2,3 của cành hoa.
2.2.2. Xử lý vi khuẩn sau thu hoạch cho các loại hoa cắt cành kể trên
a. Bố trí thí nghiệm
- Địa điểm thí nghiệm: Hoa sau khi được thu hoạch sẽ đưa vào thùng xốp vận chuyển
ngay về phòng thí nghiệm của Phân Viện Cơ điện Nông nghiệp & Công nghệ STH.
- Đối tượng thí nghiệm 2 lo
ại lan cắt cành: denrobium và mokara vàng chanh
- Quy mô thí nghiệm là: 25 cành hoa/1 nghiệm thức/ 1lần nhắc lại. Mỗi nghiệm thức thí
nghiệm được tiến hành 5 lần nhắc lại.
- Trong dung dịch vi khuẩn sử dụng một số loại hóa chất gồm: Cuprimicin 500 81WP
4,25g/lít, Oxytetracylin, 1g/ lít Na
2
S
2
0
5,
0.5g/ lít axit biocide. Hóa chất này được hòa
tan vào dung dịch xử lý rồi bổ sung acid citric vào nhằm hạ pH .
- pH của dung dịch cắm hoa là: 3.0 ; 3.5 ; 4.0 và pH trung tính 6.8-7.0.
- Thời gian xử lý vi khuẩn: 5 phút, 10 phút và trong suốt quá trình bảo quản.

n chuyển
ngay về phòng thí nghiệm của Phân Viện Cơ điện Nông nghiệp & Công nghệ STH.
- Đối tượng thí nghiệm 2 loại lan cắt cành: denrobium và mokara vàng chanh
- Quy mô thí nghiệm là: 25 cành hoa/1 nghiệm thức/ 1lần nhắc lại. Mỗi nghiệm thức thí
nghiệm được tiến hành 5 lần nhắc lại.
- Hoa sau khi thu hoạch về phòng thí nghiệm sẽ được cắt chéo (45
0
) một phần gốc dài
3-5cm, rồi sau đó cắm phần gốc của cành hoa vào tuýt nhựa có chứa nước cất. Để xác
định được các loại nấm bệnh có thể phát triển trên các loại hoa trong quá trình bảo quản
hoa ở 4 nấc nhiệt độ là : 5
0
C, 10
0
C, 20
0
C, 30-32
0
C độ ẩm không khí được duy trì liên
tục ở 90-95% trong kho lạnh.
- Trong quá trình bảo quản thì cứa 2 ngày lấy mẫu ra quan sát và đưa đi phân tích nấm
bệnh để xác định ở khoảng nhiệt độ bảo quản nào nấm bệnh có thể phát triển được.
- Mẫu sẽ được lấy ở nụ hoa, cuống hoa, gốc cành hoa có xuất hiện nấm bệnh rồi đưa đi
phân lập và định danh.
- Nếu mẫu hoa nào có dấ
u hiệu nhiễm nấm bệnh sẽ đưa tới Trung tâm Phân tích và giám
định hàng hóa xuất nhập khẩu (FCC) để phân tích và có phân tích kiểm nghiệm tại
phòng thí nghiệm của phân viện
b. Phương pháp thí nghiệm
- Dùng phương pháp FCC HD-7.5BC/50b để phân lập, định danh các chủng nấm bệnh

C
- Đo cường độ hô hấp bằng phương pháp nhốt khí: hoa sau khi xử lý sẽ được đưa vào
thiết bị sau đó đậy kín. Trong quá trình hô hấp, cứ sau 12 giờ tiến hành đo nồng độ
không khí trong bình. Nhiệt độ duy trì ở 10
0
C, 12
0
C, 14
0
C, 16
0
C và nhiệt độ phòng 30-
32
0
C.
- Đo nồng độ ethylen sinh ra bằng cách cho hoa vào trong thiết bị ở các nấc nhiệt độ
khác nhau là 10
0
C, 12
0
C, 14
0
C, 16
0
C và ở nhiệt độ phòng 30-32
0
C. Cứ sau 12 giờ tiến
hành đo mẫu 1 lần từ đó xác định được nồng độ sản sinh ethylen của từng loại hoa.
b. Phương pháp thí nghiệm
- Máy đo cường độ hô hấp: Gas Data PC0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status