Tiểu luận môn tài chính quốc tế CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á - Pdf 25

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH
CHÂU Á
TÓM TẮT
Dựa theo những kinh nghiệm, bài báo này đã chỉ ra rằng cán cân thương mại
của Trung Quốc là nhạy cảm với biến động của tỷ giá hối đoái thực hiệu quả
của đồng nhân dân tệ. Tuy nhiên, kích thước hiện hành của thặng dư thương
mại là như vậy mà chính sách tỷ giá hối đoái độc lập có thể sẽ không có khả
năng giải quyết sự mất cân bằng. Việc giảm thặng dư thương mại được giới hạn
chủ yếu là do nhập khẩu Trung Quốc không phản ứng như mong đợi với việc
nâng tỷ giá. Thật vậy, chúng có khuynh hướng giảm nhiều hơn là tăng. Bằng
việc dự toán phương trình nhập khẩu song phương đối với Trung Quốc và
những đối tác kinh doanh chính của nó, chúng tôi thấy rằng phản ứng của nhập
khẩu đối với việc nâng giá nhìn chung chỉ đúng với các nước Đông Nam Á còn
những nước khác thì không. Điều này có lẽ là kết quả trực tiếp của việc hội
nhập theo chiều dọc của các nước châu Á vì một phần lớn nhập khẩu của Trung
Quốc từ các nước Đông Nam Á thì được dùng để tái xuất khẩu. Chúng tôi cũng
nhận thấy rằng tổng xuất khẩu từ một số nước châu Á phản ứng một cách tiêu
cực với việc nâng giá đồng nhân dân tệ. Điều này nhấn mạnh sự phụ thuộc của
xuất khẩu của các nước châu Á vào Trung Quốc.
1. GIỚI THIỆU
Thị phần thương mại trên thế giới của Trung Quốc đã tăng cực kỳ nhanh trong
suốt những năm qua. Thực tế, Trung Quốc đã sẵn sàng trở thành một trong
những nhà xuất khẩu lớn nhất trên thế giới cùng với Đức và Mỹ.
Thương mại của Trung Quốc thì rất cân bằng cho đến mới gần đây. Theo
Thống kê của Cục Hải quan Trung Quốc, khối lượng thặng dư thương mại chỉ
là 32 tỉ đô la Mỹ ( hay 1.7% GDP) trong năm 2004( Biểu đồ 1). Tuy nhiên từ
năm 2005-2007 thặng dư thương mại đã tăng vọt: nó đã đạt được gần 180 tỉ đô
la Mỹ trong năm 2006 ( gần 7% GDP của Trung Quốc) và đã tăng xa trong năm
2007. Thực tế, thặng dư tài khoản hiện tại lên tới hơn 10% GDP trong năm
2007.
Một mặt, đã có dấu hiệu cho rằng các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc

đối nhỏ so với kích thước của sự mất cân bằng chủ yếu là giải thích bởi độ co
giãn giá cả đặc biệt chúng tôi tìm thấy từ nhập khẩu: cụ thể là, nhập khẩu Trung
Quốc bị ảnh hưởng tiêu cực từ sự nâng giá thực của đồng nhân dân tệ. Bằng
việc dự toán phương trình nhập khẩu song phương, chúng tôi thấy rằng nhập
khẩu từ các nước châu Á khác có khuynh hướng giảm nhưng các nước khác thì
không. Kết quả này rõ ràng cũng có thể bị ngược nếu được giải thích bởi tính
chất đặc biệt của thương mại nội địa ở châu Á, tức là một sự hội nhập theo
chiều dọc. Thật vậy, Trung Quốc nhập khẩu từ những nước còn lại của Đông
Nam Á thì chủ yếu hướng tới việc xuất khẩu lại. Thêm vào đó, chúng tôi chỉ ra
bằng chứng mà các nước châu Á dường như không thể bù cho việc giảm trong
xuất khẩu của họ sang Trung Quốc bằng việc tăng xuất khẩu đến những nước
khác vì tổng xuất khẩu của họ nhìn chung bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc đánh
giá cao đồng nhân dân tệ. Nói cách khác, xuất khẩu từ các nước Đông Nam Á
dường như là bổ sung hơn là thay thế cho hàng hóa Trung Quốc.
Phần còn lại của bài báo được sắp xếp như sau. Phần 2 đánh giá các loại tài liệu
đang có. Phần 3 mô tả phương pháp và dữ liệu được dùng. Phần 4 trình bày
những kết quả phản ứng như thế nào của xuất nhập khẩu Trung Quốc đến
những thay đổi trong tỷ giá hối đoái và nhu cầu. Trong chương 5, chúng tôi cố
gắng đào sâu hơn trong vấn đề tại sao nhập khẩu Trung Quốc không có sự gia
tăng từ việc nâng giá đồng nhân dân tệ bằng việc dự toán phương trình thương
mại song phương với những đối tác kinh doanh chủ yếu của nó và sau đó bằng
việc phân tích phương trình xuất khẩu của các nước Châu Á được chọn lọc.
Chương 6 là kết luận.
2. XEM LẠI TÀI LIỆU
Các tài liệu hiện có về tác động của một sự nâng giá thực của đồng nhân dân tệ
đối với thương mại Trung Quốc có thể chia trên hai nhóm theo những chính
sách có liên quan. Chuỗi thứ nhất và lớn nhất cho thấy bằng chứng mà một sự
nâng giá thực của đồng nhân dân tệ làm giảm cán cân thương mại, hoặc là
thông qua xuất khẩu hoặc là thông qua nhập khẩu hoặc cả hai. Chuỗi thứ hai
hoặc không tìm thấy những tác động đáng kể trên cán cân thương mại hoặc

họ cũng tìm thấy những kết nối tiêu cực giữa những đánh giá cao và xuất khẩu
của Trung Quốc.
Những bài báo sử dụng những dữ liệu gần đây hơn hỗ trợ những kết quả sớm
hơn về tính co giãn tiêu cực tỷ giá hối đoái của xuất khẩu nhưng lại không thừa
nhận kết quả là sự đánh giá cao của đồng nhân dân tệ sẽ làm tăng nhập khẩu
Trung Quốc. Lau, Mo và Li (2004) ước tính xuất khẩu và nhập khẩu của Trung
Quốc từ G-3 sử dụng dữ liệu hàng quý. Về lâu dài, một sự đánh giá cao của tỷ
giá hối đoái thực hiệu quả thì mang lại đáng kể trong việc giảm xuất khẩu.
Thay vào đó, không phải nhập khẩu gốc mà cũng không phải nhập khẩu chế
biến dường như đều bị ảnh hưởng bởi REER. Trong mọi trường hợp, những kết
quả thì khó để giải thích vì nó không rõ ràng làm thế nào họ giảm giá xuất nhập
khẩu và số quan sát thì nhỏ. Thorbecke (2006) sử dụng mô hình hấp dẫn để
nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái thay đổi trên những mô hình tam giác
thương mại ở châu Á. Cuối cùng, ông ta không tổng hợp xuất khẩu vào trung
gian giữa vốn và hàng hóa cuối cùng. Những kết quả của ông ta chỉ ra rằng một
sự nâng giá đồng nhân dân tệ 10% làm giảm xuất khẩu cuối cùng của Trung
Quốc gần bằng 13%. Tuy nhiên, sự đánh giá cao sẽ không ảnh hưởng đáng kể
đến nhập khẩu của Trung Quốc từ Mỹ. Cuối cùng, Shu và Yip (2006) ước tính
tác động của biến động tỷ giá hối đoái đến toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc và
cho thấy rằng một sự đánh giá cao có thể làm giảm xuất khẩu do ảnh hưởng của
sự thay đổi số lượng tiêu dùng, dẫn đến một sự sụt giảm vừa phải trong tổng
cầu.
Trong khi những bài báo trước đó đã đưa đến một kết luận rằng một sự đánh
giá cao của đồng nhân dân tệ sẽ dẫn đến một sự suy giảm trong thặng dư
thương mại của Trung Quốc thông qua tác động tiêu cực chủ yếu của nó trong
xuất khẩu Trung Quốc, một vài bài báo khác đưa ra một cái nhìn hơi khác về
cách thức mà chính sách tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến thặng dư thương
mại của Trung Quốc. Ví dụ, Jin (2003) ước tính mối quan hệ giữa lãi suất thực,
tỷ giá hối đoái thực và cán cân thanh toán của Trung Quốc và kết luận rằng một
sự nâng giá thực có xu hướng thực sự làm tăng thặng dư cán cân thanh toán.

nhập được sử dụng để tập trung vào cấu trúc phát triển trong dài hạn. Chúng tôi
cũng mở rộng phân tích từ việc tổng hợp các phương trình xuất nhập khẩu tới
những hợp tác song phương để điều tra xem liệu có sự khác biệt lớn giữa các
đối tác thương mại của Trung Quốc. Điều này thì đặc biệt quan trọng cho các
nước còn lại của châu Á như chúng ta sẽ thấy sau.
class="bi x6 y69 w2 h3"
class="bi x1 y6a w3 h4"
3.PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ DỮ LIỆU
Để đánh giá độ nhạy cảm của xuất nhập khẩu Trung Quốc đến thay đổi
tỷ giá hối đoái thực đồng nhân dân tệ, chúng tôi ước tính chuẩn phương trình
xuất khẩu và nhập khẩu . Chúng tôi sử dụng kỹ thuật đồng tiền liên kết vì
chúng ta đang quan tâm đến các mối quan hệ dài hạn. Ngoài ra, chúng tôi sử
dụng giảm dạng phương trình xuất khẩu và nhập khẩu để tránh khuynh hường
cân bằng đồng thời từ ước tính cung và cầu riêng biệt. Tuy nhiên, để tránh
những vấn đề nảy sinh cho việc bỏ qua các biến số, chúng tôi bao gồm các yếu
tố quyết định cung và cầu trong thu gọn dạng phương trình.
Hai phương trình ước tính như sau:
X
t
là viết tắt của khối lượng xuất khẩu từ Trung Quốc, M
t
cho khối lượng nhập
khẩu vào Trung Quốc, REER
t
cho tỷ giá hối đoái thực hiệu quả của Nhân dân
tệ, Y
t

*
cho nhu cầu nước ngoài và Y

là trọng lượng của các loại tiền tệ thứ i và rer
i
,
t
là tỷ giá thực song
phương đối với đối tác kinh doanh của Trung Quốc. Chúng tôi cũng sử dụng
REER –được xây dựng bởi các BIS (Ngân hàng thanh toán toàn cầu) là thử
nghiệm mạnh mẽ nhưng kết quả không thay đổi.
Chúng tôi hy vọng độ co dãn của xuất khẩu theo tỷ giá hối đoái thì tiêu cực như
các sản phẩm của Trung Quốc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong trường
hợp Trung Quốc, những dấu hiệu hy vọng của độ co dãn của nhập khẩu theo tỷ
giá hôi đoái chưa rõ ràng. Một đánh giá thực tế nên khuyến khích nhập khẩu
nếu sức mua tăng mạnh hơn so với giảm cầu sau sự sụt giảm liên quan đến xuất
khẩu. Phản ứng phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu nhập khẩu. Nếu hàng nhập khẩu
chủ yếu là sản phẩm thay thế cho sản xuất trong nước, độ co dãn theo giá nên
tích cực như sự đánh giá tăng nhập khẩu. Tuy nhiên, về cơ bản nếu nhập khẩu
các linh kiện và hàng hóa đầu tư trực tiếp tới ngành công nghiệp xuất khẩu-
ngành rất rất phổ biến ở Trung Quốc, họ có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một
sự đánh giá cao giống như trong xuất khẩu.
Nhu cầu nước ngoài cho xuất khẩu Trung Quốc được đo bằng nhập khẩu thế
giới (không tính nhập khẩu Trung Quốc) và thất thoát do chỉ số giá nhập khẩu
toàn cầu. Rõ ràng rằng một số biện pháp dựa trên sản xuất có thể cũng đã được
sử dụng nhưng các dữ liệu không tồn tại trong hàng tháng. Hơn nữa, đó là loại
dữ liệu có thể có những khó khăn nghiêm trọng hơn trong việc nắm bắt sự tăng
trưởng nhanh của thương mại thế giới trong vài năm qua, rõ ràng nhanh hơn
tăng trưởng GDP, do sự mở cửa của các nền kinh tế mới nổi.
Nhu cầu nội địa cho hàng nhập khẩu thông thường chúng ta có khối
lượng sản xuất công nghiệp. Chắc chắn GDP sẽ là một biện pháp đo lường sản
lượng kinh tế bao quát hơn nhưng cơ quan thống kê của Trung Quốc vẫn chưa
công bố GDP thống kê hàng quý từ 1994-2005 kể từ khi cải cách thống kê lớn

cổ phiếu FDI.
Cuối cùng, một xu hướng tất yếu được bao gồm trong cả hai phương
trình xuất khẩu, nhập khẩu khi có ý nghĩa thống kê. Trái lại, các biến xu hướng
sẽ giúp nắm việc cải thiện năng suất và những cải cách đang tiến hành trong
nền kinh tế Trung Quốc mà chúng ta không thể dễ dàng đo lường được.
Tất cả các biến khác, trừ giảm thuế GTGT và thuế nhập khẩu, được tính
như là một phần của giá trị hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, đang ở dạng logarit.
Khi Trung Quốc không thể làm mẫu theo mùa chuẩn, chúng tôi thích sử dụng
dãy chưa điều chỉnh nhưng để giới thiệu biến ngẫu nhiên cho năm mới và
Tháng 11 cuả Trung Quốc.
Chúng tôi sử dụng dữ liệu hàng tháng cho giai đoạn 1994-2005. Bắt đầu
từ những phân tích trước khi đến năm 1994 sẽ có ít ý nghĩa vì năm đó là một
bước đột phá trong cải cách thị trường Trung Quốc. Một số các cải cách này
đặc biệt có liên quan đến các câu hỏi chúng tôi đặt ra với chính chúng ta. Cụ
thể, hai hệ thống tỷ giá đã được thống nhất, kế hoạch nhập khẩu bắt buộc đã
được loại bỏ và yêu cầu cấp phép và hạn ngạch đã giảm. Ngoài ra giá cải cách
bị đẩy về phía trước, đồng Nhân dân tệ bắt đầu được chuyển đổi trên tài khoản
vãng lai và sự phát triển khu vực tư nhân được hưởng lợi từ luật doanh nghiệp
mới.
Việc thay đổi liên tục hướng tới một nền kinh tế thị trường cho phép
Trung Quốc gia nhập WTO vào tháng 12 năm 2001. Do sự chuẩn bị lâu dài cho
việc gia nhập và chuyển tiếp phù hợp giai đoạn sau đó, rất khó để ước tính khi
nào, và bao nhiêu, thành viên WTO của Trung Quốc bắt đầu gây ảnh hưởng
đến thương mại của Trung Quốc. Thông tin thực tế đến năm 2000 là thời điểm
khi việc gia nhập của Quốc trở nên sáng sủa. Chúng tôi cũng hỗ trợ việc lựa
chọn năm 2000 để phá vỡ mẫu của chúng tôi bằng các kỹ thuật thống kê, cụ thể
là chúng tôi tìm thấy một phá vỡ cơ cấu trong đầu năm 2000 thông qua một bài
kiểm tra Chow. Trong kết luận, chúng tôi kiểm tra xem liệu tngoại thương của
Trung Quốc đã trở nên nhạy cảm về giá hơn so với WTO bằng cách chia mẫu
của chúng tôi thành hai giai đoạn: từ năm 1994 đến cuối năm 1999 và từ đầu

đồng liên kết (-1.5 cho tổng hoạt động xuất khẩu theo Lau, Mo và Li năm 2004
và -1.3 theo Shi và Yip năm 2006). Những kết quả đó cũng gần tương tự như
độ co giãn theo giá của xuất khẩu được ước lượng cho các quốc gia công
nghiệp lớn( -1.5 và -1.6 cho Mỹ và UK, theo Hooper et at., 1998). Ảnh hưởng
tích cực trong dài hạn đối với xuất khẩu của Trung Quốc do sự tăng lên trong
nhu cầu thế giới là rất nhỏ và không có ý nghĩa thông kê trong mẫu đầy đủ của
chúng tôi, nhưng nó lại có ý nghĩa lớn trong giai đọan sau khi trở thành thành
viên của WTO cho cả xuất khẩu hàng gia công lẫn hàng thông thường. Kết quả
này phù hợp với ý kiến cho rằng Trung Quốc đã đối mặt với những rào cản lớn
trong việc hưởng lợi từ sự tăng trưởng của các quốc gia khác trong giai đọan
trước khi gia nhập WTO. Hơn nữa, khi sử dụng mẫu gần đây nhất, hệ số co
giãn theo thu nhập của xuất khẩu của Trung Quốc rất gần 1, như ta mong đợi.
Bảng 2: Hệ số co giãn theo giá và thu nhập trong dài hạn
Xuất khẩu
thông thường
Xuất khẩu
qua đã chế
biến
Nhập khẩu
thông thường
Nhập khẩu để
chế biến
Độ co giãn
của tỷ giá
1994-2005 -1.8 -1.3 -1.4 (0.15)
2000-2005 -1.6 -1.2 -1.4 -0.9
Độ co giãn
của thu nhập
1994-2005 (0.1) (0.1) (-0.2) 0.5
2000-2005 0.8 1.0 (0.0) (0.0)

trong giai đọan sau làm cho hệ số của tỷ giá hối đoái âm ở mức 15%. Bên cạnh
có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá , việc nhập khẩu để chế biến bị ảnh hưởng
gián tiếp thông qua các nhu cầu ví dụ như xuất khẩu đã qua chế biến. Nếu tính
cả việc ảnh hưởng gián tiếp , phản ứng tiêu cực của xuất khẩu để chế biến nếu
đánh giá đúng mực thì mạnh hơn phản ứng của việc nhập khẩu thông thường
Tóm lại nhận thức đúng đắn đối với tỉ giá nhân dân tệ nhầm giảm bớt nhập
khẩu hơn là kích thích nó. Mặc dù ngược với cái nhìn đầu tiên, việc co dãn âm
đã được báo cáo trong các số liệu gần đây, chẳng hạn như Marquer và
Schindler (2006). Phát hiện về cơ bản hàm ý rằng nhập khẩu-kể cả nhập khẩu
thông thường-nhạy cảm hơn so với sự giảm xuất khẩu được gây ra bởi sự tăng
giá của đồng nhân dân tệ để tăng giá sức mua.
5.Nhìn vào những nguyên nhân đằng sau tính tiêu cực sự co giãn tỷ
giá hối đoái.
Sự thật là sự tác động của việc nâng giá trị thực đồng Nhân dân tệ cho
các mặt hàng nhập khẩu là một hiện tượng thu hút sự quan tâm nó yêu cầu phải
phân tích cẩn thận. Tất cả đều đi vào việc xem xét những tác động tiêu cực đối
với việc giảm thặng dư thương mại của Trung Quốc trong trường hợp tỷ giá hối
đoái thực đánh giá cao . Gỉa thuyết tiên nghiệm của chúng tôi là điều này có
liên quan đến một đặc trưng đặc biệt của thương mại Trung Quốc như là minh
họa bởi những khác biệt quá lớn trong cán cân thương mại đối với các quốc gia.
( Đồ thị 2 và 3)
Đồ thị 2: Cán cân thương mại Trung Quốc với
các nước tiêu biểu năm 2005
,
bn
US$
Trung Quốc nhập khẩu một số lượng lớn những hàng hóa trung gian từ phần
còn lại của Châu Á để gia công và tái xuất khẩu. Kết quả là, mức độ hội nhập
theo chiều dọc cao giữa các nước công nghiệp xuất khẩu Châu Á tạo cho những
mặt hàng xuất khẩu của họ nhiều sự bổ sung hơn là thay thế những sản phẩm

trong nước và cầu nước ngoài( Y
*
tj
và Y
t
) và kiểm soát các biến. Thật không
may, chúng tôi không thể tách xuất khẩu và nhập khẩu cho những sản phẩm
thông thường và gia công không vì những dữ liệu thực. Như nghiên cứu trước,
CPI được sử dụng như một sự giảm giá cho hàng nhập khẩu và xuất khẩu
Trung Quốc được chuyển đổi thành khối lượng bằng cách sử dụng chỉ số giá
xuất khẩu đối với mỗi một quốc gia thương mại. Tỷ giá hối đoái thương mại
song phương thực giữa Nhân Dân tệ và đơn vị tiền tệ của mỗi một đối tác xuất
khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc thì được đo lường trong nhiều kỳ CPI. Nhu
cầu cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc thì được đại diện bởi GDP thực của
một trong những đối tác xuất khẩu của Trung Quốc, trong khi đó nhu cầu nội
địa của Trung Quốc thì một lần nữa được đánh giá lại bằng sản xuất công
nghiệp. chúng tôi cũng giới thiệu vốn đầu tư trực tiếp song phương ở cả
phương trình xuất khẩu và nhập khẩu. trước tiên, chúng tôi giới thiệu khả năng
sử dụng của những phương trình xuất khẩu. cuối cùng, một hướng được giới
thiệu với những con số thống kê đầy ý nghĩa.
Chúng tôi ước tính những phương trình thương mại song phương cho
giai đoạn từ 2000-2005 bởi vì ở một vài quốc gia, dữ liệu đã không tồn tại cho
cả thời kỳ. Bài thực hành này cho phép chúng ta so sánh những kết quả giữa
các quốc gia và với các nước khác cho các phương trình xuất khẩu và nhập
khẩu chung. Tiếp theo giống như trình tự trước đó, chúng tôi tiến hành thử
nghiệm căn đơn vị cho tất cả những biến song phương. Hầu hết tất cả trong số
đó là I(1) và ít nhất một vec tơ hội nhập được tìm thấy cho mỗi hàm xuất khẩu
và nhập khẩu song phương.
Những kết quả cho những hàm xuất khẩu song phương thì rất giống
những ước tính tổng hợp của chúng tôi và cũng như các quốc gia . Việc nâng

loạt có lẽ đã được chuyển đến Trung Quốc và không cần phải chuyển hàng hóa
đến Đức nữa. Tuy nhiên, kết quả này nên được xem xét một cách cẩn trọng vì
nhu cầu của nó cần được phân tích sâu hơn.
Kết quả của những hàm toán học nhập khẩu song phương ít sự đồng nhất
hơn. Trước tiên, chúng tôi đã ước tính những sự co giãn giá trong dài hạn cho
thấy rằng việc nâng giá trị thực của đồng Nhân Dân Tệ làm giảm hàng hóa
nhập khẩu từ tất cả các nước Châu Á đến Trung Quốc. Hệ số thì có ý nghĩa với
Hàn Quốc và Thái Lan. Với những nước có thu nhập cao chẳng hạn như Mỹ,
Đức và Nhật Bản, hệ số bị phủ nhận nhưng nó là những số thống kê không ý
nghĩa. Chỉ đối với Nga và Australia hệ số thì tích cực mặc dù không mang
nhiều ý nghĩa.
Đối với những hệ số co giãn theo thu nhập, chúng thì luôn luôn tích cực
mặc dù hơi thấp và luôn luôn thống kê không ý nghĩa. Phần lớn hàng hóa xuất
khẩu của các nước đến Trung Quốc tăng theo thị phần đầu tư trực tiếp nước
ngoài song phương. Những hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc từ Nhật Bản,
Đài Loan, Đức, Nga, Malaysia và Thái Lan tăng theo đầu tư trực tiếp nước
ngoài từ những quốc gia này. Một lần nữa, Hàn Quốc thì có một vài điều gì đó
ngoại trừ với việc giảm và hệ số ý nghĩa từ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bảng 3
tóm tắt việc biến đổi giá dài hạn những co giãn thu nhập cho các hàm xuất khẩu
và nhập khẩu hàng hóa song phương của Trung Quốc.
Để có thể hiểu tốt hơn về những kết quả thay đổi khác nhau cho độ co
giãn tỷ giá hối đoái hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc, chúng tôi hãy nhìn
vào vị thế hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc từ mỗi một đối tác thương mại
chính của nó Australia và Nga xuất khẩu chủ yếu là năng lượng và nguyên liệu
thô đến Trung Quốc, những thứ có thể giải thích bởi những phản ứng yếu ớt
của những hàng hóa nhập khẩu Trung Quốc từ các quốc gia này trong những
thay đổi tỷ giá hối đoái thực song phương. Một vài điều gì đó bất ngờ là một sự
tăng lên trong các hoạt động mang tính kinh tế không có sự tác động đầy ý
nghĩa rõ ràng trên các hàng hóa nhập khẩu của Nga. Thực sự, sự liên kết này thì
bị phủ định mặc dù rất xa thống kê đầy ý nghĩa. Điều này có thể được giải thích

Nếu chúng tôi cho rằng một bộ phận của hàng hóa xuất khẩu đến Hồng Kông
cũng giữ đến Trung Quốc lục địa thị phần trở nên rộng hơn. Chẳng hạn như,
hàng hóa xuất khẩu từ Đài Loan đến Trung Quốc lục địa và Hồng kông gần
40% của tất cả sản phẩm xuất khẩu của Đài Loan
Biểu đồ 4: Thị phần xuất khẩu tới Đại Lục
Trung Quốc và Hong Kong từ các nước
Asian chủ yếu năm

2005,
%
Vì vậy, những kết quả của chúng ta đang chỉ ra một sự giảm hàng hóa
nhập khẩu trong việc nâng giá trị Nhân Dân Tệ từ phần còn lại của Châu Á đến
Trung Quốc có một sự liên quan đến nhiều quốc gia Châu Á. Điều này thì thậm
chí là nhiều hơn vì vậy nếu họ không thể bồi thường cho hiệu ứng này bằng
việc tăng hàng hóa xuất khẩu đến những dự định khác. Điều này thì phụ thuộc
rất nhiều vào cấp độ bổ sung theo hàng hóa xuất khẩu và cũng phụ thuộc vào
những phản ứng của những chuỗi cung cấp đến việc định giá lại Nhân Dân Tệ.
trong lúc đang kiểm tra cho giả định này có thể yêu cầu một sự phân tích nhân
tố chi tiết, chúng tôi nổ lực để cho 1 câu trả lời sơ bộ bằng việc ước tính các
hàm xuất khẩu cho những đối tác thương mại chính của Trung Quốc ở Châu Á.
Theo như hàm xuất khẩu thì giống như chúng ta đã có ở Trung Quốc
sớm hơn để mà chúng tôi giải thích hàng hóa xuất khẩu bởi ảnh hưởng tỷ giá
hối đoái thực của các quốc gia và nhu cầu thế giới. Thêm vào đó, chúng tôi bao
quát vào hàm ảnh hưởng tỷ giá hối đoái thực Trung Quốc như là sự nới rộng
biên độ có thể. Dữ liệu về những tỷ giá hối đoái thực thì một lần nữa được dựa
trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng CPI và nhu cầu của thế giới thì được đo lường
bằng tổng hàng hóa nhập khẩu của thế giới. Xu hướng này được bao quát khi
nó tìm thấy được những con số thống kê đầy ý nghĩa.
Chúng tôi ước tính những hàm xuất khẩu cho những đối tác thương mại
Châu Á chính của Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2005. Dữ liệu mà chúng ta

nghiệm rằng cán cân thương mại của Trung Quốc là nhạy cảm với những biến
động bất thường trong tỷ giá hối đoái thực. Trong thực tế, việc ước tính độ co
giãn dài hạn của xuất khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc đối với thay đổi tỷ
giá hối đoái thực của đồng nhân dân tệ trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến
cuối năm 2005, chúng tôi đã tìm ra được bằng chứng sát thực chứng minh rằng
một sự nâng giá thực tế sẽ làm giảm xuất khẩu một cách đáng kể trong thời
gian dài. Đây là cả hai trường hợp cho xuất khẩu chế biến (tức là chuyển đổi và
tái xuất hàng hoá) và xuất khẩu gốc. Tuy nhiên, việc nâng tỷ giá hối đoái thực
cũng làm giảm nhập khẩu đối với Trung Quốc. Điều này hạn chế tác động ròng
của chính sách tỷ giá hối đoái trên thặng dư thương mại.
Căn cứ vào độ co giãn mà chúng tôi ước tính trong khoảng thời gian kể từ khi
việc gia nhập WTO đã được biết đến, một sự nâng giá thực 5% trong tỷ giá hối
đoái của đồng nhân dân tệ sẽ dẫn đến sụt giảm khoảng 7% khối lượng xuất
khẩu trong năm 2005. Khi chúng tôi đưa vào tính toán liên kết trực tiếp từ tỷ
giá lên nhập khẩu cũng như liên kết gián tiếp từ sự giảm trong chế biến xuất
khẩu lên nhập khẩu để xem xét, tổng khối lượng nhập khẩu giảm khoảng 4%.
Dựa trên các ước tính này, thặng dư thương mại đã có thể thu nhỏ gần bằng
một phần tư từ khoảng 100 USD tỷ đến dưới USD 80 tỷ. Tuy nhiên, những số
liệu này phải được nghiên cứu một cách cực kỳ cẩn thận vì tính toán rất khó
khăn nên không đưa vào tính toán.Ví dụ, những ảnh hưởng xuyên suốt từ tỷ giá
lên giá xuất khẩu và nhập khẩu và từ đó lên thặng dư thương mại. Có khả năng
là những con số của chúng tôi ước lượng quá cao việc suy giảm trong thặng dư
thương mại cũng như trong trường hợp nâng giá, giá xuất khẩu bằng ngoại tệ có
thể sẽ gia tăng vì vậy tác động thực của cán cân thương mại thực tế có thể nhỏ
hơn một cách đáng kể. Mặt khác, sự dao động bất thường trong tỷ giá của đồng
nhân dân tệ có thể không ảnh hưởng thí dụ tới giá dầu thế giới vì vậy hiệu ứng
thông qua lên giá nhập khẩu của Trung Quốc có thể sẽ nhỏ hơn nhiều. Thật
không may, các hiệu ứng xuyên suốt ở Trung Quốc khó để ước tính do thiếu
các dữ liệu chuỗi thời gian về giá xuất nhập khẩu. Mặc dù không hoàn toàn mới
nhưng việc chỉ ra rằng giảm nhập khẩu của Trung Quốc như là kết quả của việc

các quốc gia thành viên Asian. Thực tế, thương mại trong khối Asian đã giảm
mạnh trong vài tháng qua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status