Tiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và cán cân mậu dịch châu ÁTiểu luận: Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và cán cân mậu dịch châu Á - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC


TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC
VÀ CÁN CÂN MẬU DỊCH CHÂU Á

GVHD
: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Khoá
: 22 – Lớp: Ngân hàng Đêm 2
Thực hiện
: Nhóm 9
Danh sách nhóm
1. Trần Thị Duyên
2. Phạm Văn Linh
3. Văn Tấn Ngọc
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TÓM TẮT:
Trước tình trạng thặng dư thương mại của Trung Quốc ngày càng gia tăng và gây
lo ngại cho nhiều nước trên thế giới thì chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc
rất được quan tâm. Bằng thực nghiệm, bài nghiên cứu đã chứng minh cán cân mậu
dịch của Trung Quốc rất nhạy cảm trước sự biến động của tỷ giá hối đoái thực đa
phương của Đồng Nhân dân tệ. Tuy nhiên, vì thặng dư thương mại Trung Quốc
quá lớn nên chỉ với chính sách tỷ giá hối đoái có thể sẽ không có khả năng để giải
quyết sự mất cân bằng. Việc giảm thặng dư thương mại bị hạn chế chủ yếu là do
nhập khẩu Trung Quốc đã không phản ứng như mong đợi đối với việc định giá cao
Đồng Nhân dân tệ. Bên cạnh đó, bằng cách ước lượng phương trình nhập khẩu
song phương giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn của nước này,
nghiên cứu cho thấy phản ứng của nhập khẩu đối với việc định giá cao Đồng Nhân
dân tệ chủ yếu đúng đối với các nước Đông Nam Á nhưng không đúng cho các
nước khác. Việc này có thể là do sự hội nhập theo chiều dọc ở Châu Á vì một phần
lớn hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Đông Nam Á là hướng đến tái xuất khẩu.

Trung Quốc đang đối mặt với một áp lực mạnh mẽ từ các nước công nghiệp để
tăng giá Đồng Nhân dân tệ. Trong thực tế, tỷ giá thực (REER) trải qua một sự
nâng giá liên tục từ năm 1994 cho đến cuối năm 1997, nhưng từ năm 1997 thì có
xu hướng giảm cho đến khi chuyển sang một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn
đã được công bố vào tháng 7 năm 2005. Từ đó, Đồng Nhân dân tệ dần tăng giá
trị theo tác động của thực tế.
Thặng dư thương mại quá lớn của Trung Quốc không chỉ là vấn đề quan trọng
đối với Trung Quốc mà còn đối với các nước khác. Mặc dù đều quan tâm đến
vấn đề này, nhưng các tài liệu hiện có là không thuyết phục. Thiếu các dữ liệu
thích hợp và chuỗi thời gian dài đã khuyến khích nghiên cứu về mối liên hệ giữa
tỷ giá Đồng Nhân dân tệ và mậu dịch của Trung Quốc. Kể từ mùa hè năm 2003,
khi thảo luận về đánh giá thấp Đồng Nhân dân tệ đã được đặt lên hàng đầu,
nghiên cứu về chính sách tỷ giá của Trung Quốc lan rộng nhưng phần lớn chỉ tập
trung vào ước lượng tỷ giá cân bằng dài hạn cho Trung Quốc hoặc tìm ra loại chế
độ tỷ giá hối đoái nào phù hợp nhất với nền kinh tế Trung Quốc. Trong khi, vấn
đề cấp bách nhất là liệu Trung Quốc có nên định giá cao đồng tiền của mình như
một công cụ để giảm thặng dư thương mại khổng lồ của nó không. Bài viết này
sẽ trả lời cho câu hỏi trên thông qua việc phân tích những tác động của việc định
giá cao của Đồng Nhân dân tệ đến cán cân mậu dịch của Trung Quốc và các đối
tác thương mại của Trung Quốc.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào các vấn đề sau:
- Nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của chính sách tỷ giá hối đoái lên xuất
khẩu và nhập khẩu của Trung Quốc.
- Đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái thực, xuất khẩu, nhập khẩu của Trung
Quốc lên thương mại của Châu Á.
1.3. Nội dung chính của nghiên cứu
Bài viết của nghiên cứu phân tích thực nghiệm sử dụng phân tích hồi quy và dữ
liệu là giai đoạn 1994-2005 để giải quyết câu hỏi “Trung Quốc có nên định giá
cao đồng tiền của mình như một công cụ để giảm thặng dư thương mại khổng lồ

- Kamada và Takagawa (2005) giả định tác động của việc giảm 10% giá trị đồng
Nhân dân tệ và kết luận rằng xuất khẩu của Trung Quốc sang các nước OECD và
nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á mới nổi sẽ giảm nếu tỷ giả được
duy trì không đổi.
- Lau, Mo và Li (2004) ước lượng xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các nước
G-3 bằng việc sử dụng dữ liệu hàng quý. Trong dài hạn, việc định giá cao tỷ giá
tác động đáng kể trong việc giảm xuất khẩu. Thay vào đó, cả nhập khẩu hàng
thông thường và nhập khẩu để chế biến hầu như không bị ảnh hưởng bởi tỷ giá
thực (REER). Trong nhiều trường hợp, những kết quả này không dễ được giải
thích vì họ không chỉ ra làm cách nào để làm giảm xuất nhập khẩu và mẫu quan
sát không đủ lớn.
- Gần đây nhất, Marquez và Schindler (2006) đã để ước lượng phương trình xuất
nhập khẩu của Trung Quốc. Họ dùng thị phần của Trung Quốc trong tổng mậu
dịch của thế giới thay cho khối lượng xuất nhập khẩu để tránh việc lạm dụng sự
3/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
thay thế cho giá xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Theo kết quả của họ, việc định
giá cao đồng Nhân dân tệ không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần xuất khẩu
mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần nhập khẩu của Trung Quốc, ít ra là đối
với mậu dịch thông thường. Tác động được ước tính trên thị phần xuất nhập khẩu
vì vậy không có kết luận nào được rút ra liên quan đến tài khoản thương mại.
Hơn nữa, họ không sử dụng phương pháp hồi quy vì vậy độ co giãn ngắn hạn
không thể ước lượng được.
Tóm lại những kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được việc định giá cao
đồng Nhân dân tệ sẽ làm giảm xuất khẩu. Kết quả này đã tạo nên 1 sự thay đổi
mạnh mẽ trong phương pháp nghiên cứu, chu kỳ thời gian và dữ liệu. Tuy nhiên,
kết luận về độ co giãn tỷ giá nhập khẩu của Trung Quốc không rõ ràng. Nhìn
tổng thể, các nghiên cứu trước đây không đưa ra được kết luận cụ thể về sự tác

2
. Y
t
+ .β
1.
controls
t
+
ε
t
Trong đó:
 X là lượng hàng xuất khẩu từ Trung Quốc;
 M là lượng hàng nhập khẩu vào Trung Quốc;
 REER là tỷ giá hối đoái thực đa phương của đồng Nhân Dân Tệ;
 Yt* là lượng cầu nước ngoài;
 Yt là lượng cầu trong nước của Trung Quốc.
 Các thông số được ước lượng gồm: α1 – Độ co giãn theo tỷ giá của xuất
khẩu; α2 – Độ co giãn theo thu nhập của xuất khẩu; β1 – Độ co giãn theo tỷ
giá của nhập khẩu; β2 – Độ co giãn theo thu nhập của nhập khẩu.
 Do ngành chế biến (nhập khẩu nguyên liệu, các sản phẩm thô từ các nước
khác, chế biến và tái xuất khẩu) có vai trò quan trọng đối với kinh tế Trung
Quốc nên bài nghiên cứu đã ước lượng phương trình xuất khẩu, nhập khẩu cho
ngành hàng chế biến và các ngành hàng thông thường khác một cách riêng rẽ.
 Khó khăn trong quá trình thu thập số liệu về giá cả xuất và nhập khẩu của
Trung Quốc là không có chỉ số giá nào thể hiện được tính tổng thể nên bài
nghiên cứu chọn CPI để thay thế cho giá xuất khẩu và giá nhập khẩu được tính
4/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

a. Phương trình xuất khẩu:
Đúng như dự đoán ban đầu, độ co giãn trong dài hạn của tỷ giá hối đoái của xuất
khẩu Trung Quốc (cả hàng thông thường và hàng chế biến) đều âm và có ý nghĩa
thống kê cho cả hai giai đoạn.
Kết quả hồi quy cho phương trình xuất khẩu như sau:
5/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tiêu chí
Biến phụ thuộc
Giai đoạn 1994-2005
Giai đoạn 2000-2005
D_ xuất khẩu
hàng thông
thường
D_ xuất
khẩu hàng
chế biến
D_ xuất khẩu
hàng thông
thường
D_ xuất
khẩu hàng
chế biến
Hệ số trong dài hạn
C
6.358
***
(2.092)

***
(0.108)
-1.604
***
(0.246)
-0.996
***
(0.209)
Xuất khẩu hàng thông
thường
t-1
-0.519
***
(0.066)

-1.005
***
(0.095)

Xuất khẩu hàng chế
biến
t-1-0.485
***
(0.055)

-0.719
***

-0.269
***
(0.029)
-0.252
***
(0.029)
Biến giả Tháng 12
-0.161
***
(0.032)
-0.104
***
(0.023)

Hệ số trong ngắn hạn
D-cầu nhập khẩu thế
giới
t
-0.381
***
(0.209)
-0.406
***
(0.149)
-0.055

(0.216)
-0.209

(0.203)

(0.730)
-0.214
(0.539)
-1.494
**
(0.617)
-1.160
**
(0.537)
D-reer
t-1

0.928
(0.750)
1.022
*
(0.537)
1.518
**
(0.647)
0.951
*
(0.565)
D-reer
t-2
-0.023 -0.522
6/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

D-reer
t-3
1.485
**
(0.734)
1.059
**
(0.526)

D-hiệu suất-0.607
**
(0.256)
-0.591
*
(0.315)
-1.213
***
(0.294)
D- hiệu suất
t-1

-0.709
**
(0.341)
-0.626
*
(0.321)


D_xuất khẩu hàng chế
biến
t-1-0.099
*
(0.055)

-0.056

(0.085)
Giai đọan mẫu
5/1994-
12/2005
5/1994-
12/2005
01/2000-
12/2005
01/2000-
12/2005
Số quan sát 140 140 72 72
R
2
hiệu chỉnh 0.70 0.78 0.83 0.85
Các giá trị () là không thỏa mãn.
*
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 10%,
**

Kết quả hồi quy cho phương trình nhập khẩu như sau: Tiêu chí
Biến phụ thuộc
Giai đoạn 1994-2005 Giai đoạn 2000-2005
D_ nhập khẩu
hàng thông
thường
D_ nhập
khẩu hàng
chế biến
D_ nhập khẩu
hàng thông
thường
D_ nhập
khẩu hàng
chế biến
Hệ số trong dài hạn
C
2.483
***
(0.302)
6.465
***
(0.866)
-0.962
*
(0.489)
-2.520

-0.365

8/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
(0.059)
(0.119)
(0.059)
(0.247)
Thuế nhập khẩu
t-1

-0.329
***
(0.076)

-0.339
***
(0.120)
fdi
t-1

0.102
***
(0.050)
0.685
***
(0.212)
Nhập khẩu hàng thông

***
(0.008)
0.239
***
(0.020)
-0.014
*
(0.008)
-0.220
***
(0.022)
Biến giả Tháng 12

0.74
***
(0.010)
0.117
***
(0.025)

Hệ số trong ngắn hạn
D_cầu nội địa
t

1.079
***
(0.280)
0.140
***
(0.043)

-0.445
***
(0.148)
-0.998
*
(0.609)
D_reer
t-1

0.030

(0.238)
1.338
**
(0.579)
0.520
***
(0.157)
2.286
***
(0.606)
D_reer
t-2

-0.002

(0.245)
-0.566

(0.571)

0.153

(0.241)
-2.725
***
(0.779)
9/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
- Trong giai đoạn trước, lượng cầu dường như đóng vai trò rất khiêm tốn trong
việc giải thích hàm nhập khẩu. Trong mẫu con ở giai đoạn sau, việc nhập khẩu để
chế biến đã thực sự có tác động tích cực lên nhu cầu đối với bên ngoài và được
đo lường bằng lượng xuất khẩu hàng chế biến. Sản phẩm của các ngành công
nghiệp trong nước đã gia làm gia tăng nhập khẩu hàng thông thường.
- Như mong đợi, vốn FDI đã có tác động tích cực trong dài hạn lên cả nhập khẩu
hàng thông thường và nhập khẩu hàng để chế biến. Giảm thuế nhập khẩu sẽ thúc
đẩy việc nhập khẩu để chế biến trong dài hạn. Giống như xuất khẩu, biến giả Tết
và tháng 12 có ý nghĩa trong hầu hết các trường hợp.
- Độ co giãn của tỷ giá hối đoái đối với nhập khẩu luôn âm và thường có ý nghĩa.
Ngoại trừ trường hợp hàng nhập khẩu để chế biến ở giai đoạn 2000-2005, hệ số
là âm nhưng chỉ có ý nghĩa ở mức 15%. Ngoài tác động trực tiếp, tỷ giá hối đoái
còn tác động gián tiếp lên hàm nhập khẩu để chế biến thông qua lượng cầu như
một yếu tố không thể tách rời, nói cách khác là xuất khẩu hàng chế biến. Ngay cả
khi tác động gián tiếp được đưa vào, phản ứng trái chiều của nhập khẩu để chế
biến trước một sự định giá cao thực vẫn thực sự cao hơn phản ứng của nhập khẩu
thông thường.
Kết luận: việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ có xu hướng làm giảm nhập khẩu
hơn là làm tăng. Kết luận này về cơ bản là nhập khẩu, thậm chí là nhập khẩu
hàng thông thường đang ngày càng nhạy cảm với sự sụt giảm của xuất khẩu do


-0.096

(0.077)
Giai đọan mẫu
5/1994-
12/2005
5/1994-
12/2005
01/2000-
12/2005
01/2000-
12/2005
Số quan sát 140 140 72 72
R
2
hiệu chỉnh 0.95 0.77 0.97 0.83
Các giá trị () là không thỏa mãn.
*
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 10%,
**
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 5%,
** **
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 1%.
10/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
động tiêu cực của việc định giá cao Đồng Nhân dân tệ đối với việc giảm thặng dư
thương mại Trung Quốc. Một giả thuyết tiền đề của nghiên cứu là điều này có

- Để làm rõ vấn đề này, bài nghiên cứu dùng phương trình hồi quy để đánh giá sự
tác động khác nhau của đồng Nhân dân tệ lệ lên các nước dựa trên mẫu 10 đối tác
thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Giả thuyết đặt ra là nhập khẩu từ các nước
Đông Nam Á sẽ có phản ứng tiêu cực trước sự định giá cao của đồng Nhân dân
tệ, do nước này chủ yếu là trung gian cho Trung Quốc để lắp ráp và tái xuất.
Ngược lại, các quốc gia khác dự kiến sẽ phản ứng một cách linh hoạt (không rõ
ràng, khó dự đoán) tùy theo cơ cấu xuất khẩu của họ. Phương trình hồi quy dự
kiến sẽ có dạng:
X
tj
= α
0j
+ α
1j.
RER
tj
+ α
2j
. Y
tj
*
+ .α
1j.
controls
tj
+
ε
tj
M
tj

 Và các biến kiểm soát khác.
Tuy nhiên, nghiên cứu không thể tách biệt nhập khẩu và xuất khẩu theo loại sản
phẩm, nên phải phân tích như không có dữ liệu. Theo các nghiên cứu trước đây,
chỉ số CPI được sử dụng như một chỉ số thống kê để loại trừ lạm phát cho hàng
xuất khẩu của Trung Quốc và nhập khẩu của Trung Quốc được quy đổi bằng
cách sử dụng các chỉ số giá xuất khẩu của từng đối tác thương mại0F
1
. Tỷ giá thực
1
Khi xây dựng phương trình hồi quy, nghiên cứu không sử dụng các dữ liệu thương mại
của Trung Quốc mà là số liệu của các đối tác thương mại nhằm loại trừ các khoản giao
12/31
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
song phương giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại được đo lường thông
qua CPI. Nhu cầu đối hàng xuất khẩu của Trung Quốc phụ thuộc vào GDP thực
tế của từng đối tác mà họ xuất khẩu, trong khi đó nhu cầu trong nước của Trung
Quốc lại bị chi phối bởi sản xuất công nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu sẽ giới
thiệu nguồn vốn FDI song phương trong các phương trình và việc sử dụng các
nguồn lực trong các phương trình xuất khẩu của Trung Quốc. Cuối cùng, một xu
hướng đã được thể hiện khi các số liệu thống kê có ý nghĩa.
- Vì một số nước không có số liệu cho cả giai đoạn 2000-2005 nên nghiên cứu ước
lượng phương trình mậu dịch song phương cho cả giai đoạn 1994-2005. Bài phân
tích này cho phép chúng ta so sánh kết quả giữa các quốc gia và kể cả phương
trình tổng hợp của nhập khẩu và xuất khẩu. Theo các bước tương tự như trước,
nghiên cứu tiến hành kiểm tra nghiệm đơn vị cho tất cả các biến song phương.
Hầu như tất cả đều dừng tại sai phân bậc 1 và có ít nhất một vector đồng liên kết
cho mỗi phương trình nhập khẩu, xuất khẩu song phương.


GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
và Châu Âu khi giao dịch trên thị trường Trung Quốc. Như đã đề cập, những tác
động song phương tiêu cực có thể là những phản ánh về việc chuyển giao toàn bộ
quy trình sản xuất cho Trung Quốc. Trước đó, chỉ có một số sản phẩm bán thành
phẩm được xuất khẩu từ Trung Quốc sang Đức và chỉ sau vài chuyến hàng hóan
đổi đến đích, thì giờ đây toàn bộ quy trình sản xuất đã được chuyển đến Trung
Quốc và học không còn cần phải xuất hàng sang Đức nữa. Tuy nhiên, các kết quả
này cần được xem xét thận trọng bởi nó cần các nghiên cứu sâu hơn để đưa ra kết
luận chính xác.
- Các kết quả cho các phương trình song phương nhập khẩu đã có thể hiện sự đồng
nhất (Phụ lục 02). Đầu tiên các ước tính giá co giãn dài hạn của nghiên cứu đã
cho thấy sự tăng giá của Đồng Nhân dân tệ sẽ làm giảm nhập khẩu của Trung
Quốc từ tất cả các nước Châu Á. Các Hệ số đối với Hàn Quốc và Thái Lan đều
có ý nghĩa. Còn các nước có thu nhập cao như Mỹ, Đức, Nhật Bản thì hệ số thể
hiện tác động ngựơc chiều nhưng lại không có ý nghĩa thống kê. Chỉ có Nga và
úc là những nước có hệ số thể hiện tác động cùng chiều nhưng lại ko có ý nghĩa
thống kê.
- Còn đối với độ co giãn thu nhập, hầu hết đều thể hiện sự biến thiên cùng chiều,
mặc dù thấp và vẫn có vài trường hợp ko có ý nghĩa thống kê. Hầu hết sự gia
tăng của xuất khẩu từ các nước sang Trung Quốc đồng thời với sự gia tăng của
vốn FDI song phương. Nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Nhật Bản, Đài
Loan, Đức, Nga, Malaysia và Thái Lan gia tăng đồng thời với vốn đầu tư FDI từ
các nước này. Một lần nữa, Hàn Quốc là một ngoại lệ với tác động trái chiều và ý
nghĩa các hệ số về FDI.
Bảng 3: Độ co giãn tỷ giá và cầu trong dài hạn song phương

Phương trình xuất khẩu

Phương trình nhập khẩu

nhập khẩu của Trung Quốc chúng ta sẽ xem xét cấu trúc nhập khẩu của Trung
Quốc từ các đối tác thương mại lớn của Trung Quốc (Bảng 4). Australia và Nga
chủ yếu xuất khẩu năng lượng và nguyên liệu thô cho Trung Quốc, điều này có
thể giải thích vì sao nhập khẩu Trung Quốc từ các nước này lại phản ứng yếu ớt
trước sự biến động của tỷ giá song phương. Một điều đáng ngạc nhiên là sự gia
tăng trong họat động kinh tế của Trung Quốc lại ko có ý nghĩa tác động tích cực
đối với nhập khẩu từ Nga. Thực tế, tương tác này là trái chiều mặc dù rất khó để
có ý nghĩa trong thống kê. Điều này có thể được giải thích bởi sự không phát
triển về kết nối giao thông giữa Nga và Trung Quốc. Nếu công suất đường sắt
tiếp tục duy trì như trước đây, sẽ không thể vận chuyển thêm dầu tới Trung Quốc
dù cho nhu cầu ở mức độ nào. Một sự trái ngược với Ngam nhập khẩu từ Úc sẽ
thực sự tăng cùng với sự gia tăng của công nghiệp Trung Quốc.
Bảng 4. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc từ các đối tác
thương mại lớn
Chỉ tiêu
Sản
phẩm
nông
nghiệp
Sản
phẩm từ
khoáng
sản
Hóa
chất
Hàng
dệt
may
Kim
loại

Malaysia 6.4 2.6 4.1 0.7 1.8 8.6
63.0
0.1 1.3
Nga 5.0
48.4
13.9 0.0
16.2
0.5 0.4 1.2 0.0
Đài Loan 0.1 0.9 7.4 4.5 10 9.7
38.7
0.5 16.1
Thái Lan 6.1 5.9 4.4 2.6 2.9
27.5 26.5
0.3 1.3
Mỹ 8.6 2
11.3
4.3 6.7
17.1 17.5
8.9 7.8
Nguồn: CEIC.
- Một nhóm thứ hai mà chúng ta có thể phân loại dự trên các kết quả nghiên cứu là
các nước có thu nhập cao. Xuất khẩu của Đức, Nhật bản và Mỹ không nhạy cảm
15/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
khi phản ứng trước sự thay đổi của tỷ giá song phương. Nhập khẩu từ Đức và
Nhật được thúc đẩy bởi FDI thì nhập khẩu từ Mỹ dường như lại được thúc đẩy
nhiều hơn từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Điều này sẽ dễ hiểu hơn khi
xem xét kỹ cơ cấu nhập khẩu từ các nước này. Trong khi gần một nửa xuất khẩu

- Vì vậy, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một sự định giá cao Đồng Nhân dân tệ dẫn
đến giảm nhập khẩu từ các nước Châu Á còn lại đến Trung Quốc sẽ làm ảnh
hưởng đến nhiều nước Châu Á. Điều này càng mạnh mẽ hơn nếu họ không thể
cân bằng cách tăng cường xuất khẩu sang các nước khác. Điều này phụ thuộc rất
lớn vào sự bổ trợ lẫn nhau trong xuất khẩu của Châu Á, cũng như sự phản ứng
của chuỗi cung ứng châu Á trước một giá trị Đồng Nhân dân tệ. Trong khi thử
nghiệm cho giả thuyết này cần có một sự phân tích ngành chi tiết, nghiên cứu đã
cố gắng đưa ra một đáp án ước lượng là các phương trình xuất khẩu song phương
cho các đối tác Châu Á chủ yếu của Trung Quốc.
- Dạng phương trình này giống như các dạng phương trình xuất khẩu mà nghiên
cứu đã sử dụng trên đây để giải thích xuất khẩu bằng tác động của tỷ giá và nhu
cầu của thế giới. Ngoài ra, trong phương trình của nghiên cứu, sự tác động của tỷ
giá Trung Quốc còn là một biến giải thích. Các dữ liệu về tỷ giá lần này vẫn là
CPI và nhu cầu của thế giới được đo lường bằng tổng nhập khẩu trên thế giới. Sẽ
xuất hiện xu hướng khi nghiên cứu có ý nghĩa thống kê.
- Nghiên cứu ước tính phương trình xuất khẩu cho các đối tác thương mại Châu Á
chủ yếu của Trung Quốc trong giai đoạn 2000 – 2005. Các dữ liệu sẽ được điều
chỉnh theo mùa bằng cách sử dụng chương trình CensusX12. Nghiên cứu đã chỉ
ra các biến lại một lần nữa hội tụ tại cấp độ 1 và có ít nhất một vector đồng liên
kết giữa các nhóm biến.
- Kết quả chi tiết các phương trình xuất khẩu cho các nước Châu Á được thể hiện
trong (Phụ lục 03). khi chuyển đổi các hệ số dài hạn (Bảng 5), chúng ta có thể
thấy hầu hết xuất khẩu của các nước Châu Á chịu tác động trái chiều từ sự định
giá cao của tỷ giá hối đóai Trung Quốc. Đối với Hàn Quốc, Đài Loan và Thái
Lan, sự tác động trái chiều của sự định giá cao Đồng Nhân dân tệ đều có ý nghĩa
thống kê. Ngoại lệ duy nhất là Malaysia, khi mà xuất khẩu lại đồng biến với sự
định giá cao của Đồng Nhân tệ. Tuy nhiên, ngoại lệ này có thể là do ngoài thiết
bị điện từ thì Malaysia còn xuất khẩu một lượng đáng kể dầu và các nguyên liệu
khác. Vì thế, các kết quả của các quốc gia dựa vào phương trình xuất khẩu rất
giống với phương trình nghiên cứu tìm thấy cho phương trình nhập khẩu song

Các giá trị trong () là các giá trị không có ý nghĩa thống kê.
* Phương trình của xuất khẩu từ Nhật Bản không thỏa misspecification tests.
5. KẾT LUẬN:
5.1. Kết luận chung:
- Bài nghiên cứu đã chỉ ra một thực nghiệm rằng cán cân thương mại Trung Quốc
nhạy cảm trước tác động của sự thay đổi tỷ giá thực. Trên thực tế, bằng việc ước
tính độ co giãn dài hạn cho xuất khẩu và nhập khẩu Trung Quốc trong giai đoạn
1994 đến cuối năm 2005 trước sự tác động của sự thay đổi tỷ giá thực đã là bằng
chứng xác đáng chứng minh một sự định giá cao tỷ giá thực đã làm giảm đáng kể
kim ngạch xuất khẩu trong dài hạn. Điều này đúng với cả hàng hóa chế biến
(hàng hóa được chế biến từ các hàng hóa sơ chế nhập khẩu và sau đó tái xuất) và
hàng hóa xuất khẩu thông thường. Tuy nhiên, sự định giá cao tỷ giá hối đoái
cũng làm giảm nhập khẩu của Trung Quốc. Điều này đã hạn chế sự tác động ròng
của chính sách tỷ giá hối đoái lên thặng dư thương mại.
Dựa trên độ co giãn ước tính trong khoảng thời gian kể từ khi gia nhập WTO,
Khi Đồng Nhân dân tệ tăng giá 5% sẽ có tác động (với các yếu tố khác không
đổi) làm giảm khoảng 7% về lượng xuất khẩu trong năm 2005. Nếu ghi nhận sự
tác động trực tiếp của tỷ giá vào nhập khẩu cũng như sự tác động gián tiếp thông
qua việc tác động làm giảm lượng hàng qua chế biến xuất khẩu dẫn đến giảm
lượng hàng nhập khẩu để phục vụ cho chế biến xuất khẩu thì lượng nhập khẩu sẽ
giảm khoảng 4%. Dựa trên các ước tính này, thặng dư thương mại sẽ thu hẹp
khoảng ¼, từ khoảng 100 tỷ USD xuống còn dưới 80 tỷ USD.
- Bằng cách ước lượng các phương trình song phương về thương mại của Trung
Quốc và các đối tác thương mại lớn của nước này, cho thấy dường như sự định
giá cao của Đồng Nhân tệ so với đồng tiền của các đối tác thương mại nói chung
đã làm giảm xuất khẩu một cách rõ ràng từ các nước Châu Á còn lại. Kết quả sự
phản ứng của nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á có thể được giải
thích bởi sự hội nhập ở mức độ cao theo chiều dọc của các ngành xuất khẩu của
các nước châu á. Mạng lưới sản xuất tại các nước Châu Á đã làm cho các sản
18/31

cao Đồng nhân dân tệ và sự phối hợp của các chính sách tỷ giá ở Châu Á.
- Một vài nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng việc định giá cao có tác động lên
cán cân mậu dịch Trung Quốc nhưng các mô hình này lại không thể đưa ra các
bằng chứng thực nghiệm như đã trình bày trong bài nghiên cứu này. Do đó
hướng nghiên cứu trong tương lai là nên có sự cố gắng kết nối với các phát hiện
của bài nghiên cứu thực nghiệm trong bài nghiên cứu này và các nghiên cứu thực
nghiệm khác trong tương lai sẽ làm sang tỏ hơn nữa về tác động của chính sách
tỷ giá hối đoái và cán cân mậu dịch của Trung Quốc. Và mặc dù đã có các nghiên
cứu về vấn đề này thì việc sử dụng các dữ liệu mới là rất cần thiết.
- Đồng thời, những nghiên cứu sâu hơn, với việc mở rộng các biến quan sát, sử
dụng các số liệu mới, đáng tin cậy sẽ là hướng cần thiết trong tương lai để xác
định tác động của tỷ giá hối đóai cũng như việc kết hợp các chính sách khác lên
cán cân mậu dịch.

19/31 GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
PHỤ LỤC 01: PHƯƠNG TRÌNH XUẤT KHẨU SONG PHƯƠNG CỦA TRUNG QUỐC

ÝĐài LoanH
ệ số dài hạn

C

–19.128***

–8.191***

–8.784

–34.200***

–20.457**

–60.640***

–5.625

–23.138

–42.16***



2.947***

5.811***

1.664***

4.659**

5.224***

(0.906)

(0.339)

(2.332)

(0.881)

(1.055)

(1.328)

(0.429)

(1.907)

(1.179)

rer

(0.173)

(0.122)

(0.495)

(0.249)

(0.493)

FDI
i

t
–1

0.082
0.014
–2.233***

1.448***

0.076
–0.075

–0.086

–4.178***

1.658***

–1.194***

–1.130***

–0.419***

–0.707***

–0.924***

–1.295***

–0.940***

(0.105)

(0.110)

(0.176)

(0.158)

(0.117)

(0.135)

(0.185)

(0.163)



NewYeardummy

–0.019***
(0.009)
H
ệ số ngắn hạn

D_GDP
i

t
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO MỹHồng KôngĐứcHàn QuốcHà LanAnhSingaporeÝĐài Loan


D_GDP
i

t–2
–1.7723.978
–1.685
(2.960)(3.867)

(1.377)

D_GDP
D_rer
i

t-1
–0.562**–0.340

–1.143***

–1.319**

–0.922***

–2.093***
(0.275)(0.371)

(0.244)

(0.275)

(0.584)

(0.329)

(0.777)

D_rer
i

t–3
0.754***
0.619
0.757**

–1.781**
(0.255)


(0.330)D_FDI
i

t–1 –2.003*
–0.193–3.449**
3.471

(1.095)

(0.916)(1.370)



D_FDI
i
t–2
2.821***3.530**
–4.231* (0.848)(1.214)

(2.180)

D_FDI
i
t–3


SingaporeÝĐài Loan

D_hiệu suất
t

0.197
–1.047***–0.794**

–0.311

–0.967***

(0.284)

(0.221) D_
hiệu suất
t –2 0.497 (0.643) D_
hiệu suất

0.108
0.010
–0.088

–0.123

–0.070

0.152
–0.002

(0.105)

(0.110)

(0.131)

(0.106)

(0.129)

(0.111)

(0.129)

(0.112)

(0.124)

Giai đoạn

1/00-
12/051/00-
12/05

Số quan sát

72
72
72
72
72
72
72
72
72
R
2
hiệu chỉnh

0.53
0.59
0.55
0.64
0.38
0.60
0.47
0.57
ĐứcNgaÚcMalaysiaThái LanHệ số dài hạn

C

–3.501***

2.626**

5.902
–33.69***

–1.464



1.888***

0.643***

2.657**

0.018
–0.250

1.562***

0.119
0.272
(0.197)

(0.621)

(0.224)

(1.149)

(0.175)

(0.626)

(0.394)

(0.472)



(0.174)

(0.858)

(0.132)

(0.854)

(0.236)

FDI
i

t–1

0.884***

–1.022***

–0.073

3.469***

0.598***

0.314*

–0.106


–0.529***

–0.394***

–0.536***

–0.118

–1.169***

–0.585***

–0.574***

(0.104)

(0.131)

(0.128)

(0.113)

(0.136)

(0.125)

(0.158)

(0.139)


(0.019)
D_cầu Trung Quốc
t2.218***2.530***

D_ cầu Trung Quốc

t–2

23/31


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status