Tài chính Quốc tế
1
Tiểu luận
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC VÀ
THƯƠNG MẠI CHÂU Á
Tài chính Quốc tế
2Tóm tắt:
Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm ra mối quan hệ giữa tỷ giá thực đa phương
của đồng nhân dân tệ và cán cân thương mại của Trung Quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh
Trung Quốc trở thành thành viên WTO thì việc đánh giá cao đồng nhân dân tệ có ảnh
hưởng đến cán cân thương mại của Trung Quốc như thế nào? và ảnh hưởng đến cán
cân thương mại của khu vực Châu Á như thế nào? Qua việc ước lượng phương trình
xuất nhập khẩu song phương của Trung Quốc với các đối tác thương mại quan trọng
để có thể tìm ra những ảnh hưởng nêu trên.
1. Giới thiệu
Vấn đề tồn tại gây tranh cãi là chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong thời gian
qua đã duy trì ấn định tỷ giá thấp do đó đã giúp Trung Quốc đạt được tỷ lệ tăng trưởng
cao từ cầu hàng hoá của các nước còn lại.
Trung Quốc vì vậy đang đối mặt với áp lực lớn từ các nước công nghiệp trong
nước khác do tổng kim ngạch xuất khẩu của họ thì bị ảnh hưởng xấu bởi việc định giá
cao đồng nhân dân tệ.
2. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây:
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc đánh giá cao đồng nhân dân tệ trong giao
dịch thưong mại của Trung Quốc có thể chia thành 2 luồng quan điểm. Luồng quan
điểm thứ nhất – và lớn nhất - đó là việc đánh giá cao tỷ giá thực của Trung Quốc làm
giảm cán cân thương mại, thông qua xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc cả hai. Luồng
quan điểm thứ 2 là tìm thấy hoặc không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm của việc
ảnh hưởng đến cán cân thương mại khi đánh giá cao đồng nhân dân tệ.
- Trong luồng quan điểm đầu tiên, Cerra và Dayal- Dulati (1999) đã ước lượng
độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong giai đoạn 1983-1997 với
mô hình hiệu chỉnh lỗi và tìm ra ảnh hưởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đối với
xuất khẩu (-0,3); ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với nhập khẩu (0,7).
Thêm vào đó, họ chỉ ra rằng độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu tăng theo thời
gian.
+ Dees (2001) cải tiến phân tích trước đây bằng cách tách rời xuất nhập khẩu của
Trung Quốc thành 2 loại, đó là đã chế biến (nhập khẩu linh kiện để lắp ráp) và thông
thường. Ông đã tìm ra rằng, trong dài hạn, việc đánh giá tỷ giá cao làm giảm xuất khẩu.
Ông Dees còn tìm ra là xuất khẩu thông thường thì nhạy cảm về giá hơn so với xuất
Tài chính Quốc tế
4
khẩu đã qua chế biến; và nhập khẩu để chế biến tăng nhẹ trong trường hợp đồng nhân
dân tệ được đánh giá cao.
+ Benassy-Quere và LahrecheRevil (2003) mô phỏng ảnh hưởng của việc đánh
giá nhân dân tệ giảm 10% thì làm tăng xuất khẩu của Trung Quốc tới các nước OECD
(tổ chức hợp tác quốc tế) và giảm nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á
đang phát triển nếu tỷ giá của nước này duy trì không đổi.
+ Kamada và Takagawa (2005) làm vài mô hình giả định để dự tính kết quả của
việc cải cách tỷ giá của Trung Quốc.Họ chỉ ra là cứ định giá lại 10% đồng nhân dân tệ
Quốc là 13%. Tuy nhiên, việc đánh giá cao lại không có ảnh hưởng đáng kể tới nhập
khẩu của Trung Quốc từ US.
Cuối cùng, Shu và Yip (2006) ước lượng ảnh hưởng của sự dao động của tỷ giá
đến toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc và tìm ra rằng việc đánh giá cao có thể làm giảm
xuất khẩu do ảnh hưởng của chuyển đổi chi tiêu, dẫn đến sự thu hẹp vừa phải trong
tổng cầu.
Trong khi những bài nghiên cứu trước đây đưa ra kết luận đánh giá cao đồng
nhân dân tệ sẽ dẫn đến giảm thặng dư thương mại Trung Quốc chủ yếu thông qua ảnh
hưởng tiêu cực của nó đến xuất khẩu, vài nghiên cứu khác có đề cập vài cách nhìn
khác về chính sách tỷ giá có thể ảnh hưởng đến thặng dư thương mại của Trung Quốc
như thế nào. Ví dụ, Jin (2003) ước lượng mối quan hệ giữa lãi suất thực, tỷ giá thực và
cán cân thanh toán của Trung Quốc và kết luận là xu hướng đánh giá cao tỷ giá thực
thì thực sự làm tăng thặng dư cán cân thanh toán. Cerra và Saxena (2003) sử dụng dữ
liệu vùng để nghiên cứu hành vi của xuất khẩu Trung Quốc và tìm ra rằng giá xuất
khẩu cao hơn đã làm cung của xuất khẩu tăng theo đặc biệt trong những năm gần đây.
Ảnh hưởng của tỷ giá danh nghĩa với xuất khẩu thì không mạnh mẽ. Trong bất kỳ
trường hợp nào, những kết quả của họ - như vài nghiên cứu khác sử dụng dữ liệu vùng
– nên được thu thập cẩn thận khi chỉ có khoảng 1/2 kim ngạch xuất khẩu của Trung
Quốc được bao gồm trong dữ liệu vùng và không có số liệu điều chỉnh được báo cáo
trong chuỗi đơn giá.
Một trong những nổ lực gần đây để ước lượng phương trình xuất nhập khẩu
Trung Quốc là của Marquez và Schindler (2006). Họ sử dụng tổng giao dịch thương
mại của thế giới thay cho khối lượng xuất nhập khẩu để tránh sử dụng các đại diện
theo giá xuất nhập khẩu của Trung Quốc.Theo những kết quả của họ, việc đánh giá
cao đồng nhân dân tệ không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới phần xuất khẩu Trung Quốc
mà cả đến phần nhập khẩu, ít nhất là đối với giao dịch thương mại thông thường.
Trong khi đó, những ảnh hưởng được ước lượng tác động lên phần xuất nhập khẩu vì
Tài chính Quốc tế
6
X
=
0
+
REERt
1
+
*
2 t
Y
+
n
i
ti
controls
3
+
t
Tài chính Quốc tế
7
t
X
là khối lượng xuất khẩu của Trung Quốc;
t
M
là khối lượng hàng
nhập khẩu của Trung Quốc;
t
REER
là tỷ giá thực đa phương của nhân dân tệ;
*
t
Y
là
cầu của nước ngoài;
t
Y
là cầu nội địa của Trung Quốc.Những tham số dùng để ước
lượng:
1
độ co giãn tỷ giá của xuất khẩu,
2
là độ co giãn theo thu nhập của xuất
khẩu,
1
độ co giãn tỷ giá của nhập khẩu,
2
w
i
rer
1
1
)(Trong đó N là số lượng tiền tệ của chỉ số,
i
w
là ảnh hưởng của đơn vị tiền tệ
thứ
th
i
và
ti
reer
,
là tỷ giá thực song phương của mỗi giao dịch thương mại của Trung
Quốc với các đối tác. nghiên cứu cũng dùng cấu trúc của REER được xây dựng bởi
BIS như 1 công cụ kiểm tra mạnh nhưng kết quả thì không đổi.
Tác giả kỳ vọng độ co giãn theo tỷ giá của xuất khẩu mang tính tiêu cực bởi vì
hàng hoá Trung Quốc cạnh tranh trên thị trường thế giới. Tín hiệu mong đợi của độ co
giãn theo tỷ giá của hàng nhập khẩu cũng kém rõ ràng trong trường hợp của Trung
Quốc. Khi đánh giá cao tỷ giá nên khuyến khích nhập khẩu nếu sức mua trong nước
tăng thêm lớn hơn sự suy giảm của sức cầu theo hướng kết hợp giảm xuất khẩu. Việc
tác động ngược trở lại từ việc đánh giá cao tỷ giá sẽ phụ thuộc nhiều vào cấu trúc của
nhập khẩu. Nếu nhập khẩu hàng hoá thay thế chủ yếu cho thị trưòng nội địa, thì độ co
giản theo giá nên có chiều hướng tích cực. Việc đánh giá cao đồng tiền sẽ làm tăng
sự khác nhau giữa ngành sản xuất công nghiệp và xu hướng của nó, việc tính toán sau
đây sử dụng công cụ lọc của Hodrick Prescott.
Biến kiểm soát cuối cùng trong phương trình xuất khẩu là vốn FDI. Trong khi
mối quan hệ giữa giao dịch thương mại và xuất khẩu được thiết lập tốt trong các
nghiên cứu trước đây , nó có thể thích hợp để Trung Quốc đầu tư một lượng lớn FDI
vào vùng xuất khẩu. Mặc dù mong đợi một sự gia tăng nguồn vốn FDI nhằm khuyến
khích xuất khẩu, nhưng còn tuỳ thuộc vào cấu trúc phức tạp của dây chuyền sản xuất,
nơi mà những linh kiện và sản phẩm dở dang có thể đi qua nhiều nước mới đến được
thị trường cuối cùng, có thể phức tạp như lý thuyết tiền đề này.
Chuyển sang phương trình nhập khẩu, thuế quan nhập khẩu rõ ràng là cần thiết
kể đến từ khi Trung Quốc đã trải qua sự giảm sút 1 cách đáng kể, thực tế là kể từ khi
gia nhập WTO. Biến kiểm soát thứ 2 của nhập khẩu cũng lại là vốn FDI. Ta mong đợi
tìm ra những tham số mang tính tích cực từ vốn FDI từ vịêc các công ty nước ngoài
hầu như sử dụng máy móc nhập khẩu, linh kiện rời trong dây chuyền sản xuất của họ
hơn là của những công ty Trung Quốc.Tuy nhiên, những công ty nước ngoài bắt đầu
cơ cấu toàn bộ dây chuyền sản xuất tới Trung Quốc, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá có
thể thực sự bị giảm khi tăng vốn FDI.
Cuối cùng, một xu hướng xác định là cả 2 phương trình xuất và nhập khẩu khi
chúng có ý nghĩa thống kê. Sự thay đổi của xu hướng giúp cho việc nắm bắt việc cải
Tài chính Quốc tế
10
tiến sản phẩm và tiến hành cải cách nền kinh tế Trung Quốc mà chúng ta không dễ
dàng đo lường được.
Trong tất cả những biến thì ngoại trừ biến giảm thuế VAT và biến thuế quan
nhập khẩu, thì được đo lường như 1 phần của giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá,
bằng dạng logarit. Bởi vì nền kinh tế Trung Quốc không theo một hình thức
mẫu nào, nên chúng tôi sử dụng một loạt dữ liệu chưa điều chỉnh nhưng hướng
tới biến giả là Chinese New Year và December.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo tháng cho giai đoạn 1994-2005 để phân
cuối cùng sau khi tính toán tác giả đưa ra kết luận chỉ cần 1 là có ý nghĩa thống kê.
* Kết quả của phương trình xuất khẩu: Độ co giãn của tỷ giá trong dài hạn đối
với xuất khẩu Trung Quốc - cả thông thường và chế tạo – thì mang tính tiêu cực và có
ý nghĩa thống kê trong toàn bộ mẫu và kể cả từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Trước
những biến đổi thích hợp (xe m bảng 2), việc ước lượng ảnh hưởng trong dài hạn của tỷ
giá thực là -1.3 cho xuất khẩu đã qua chế biến cho cả 2 giai đoạn nghiên cứu. Đối với
xuất khẩu thông thường thì giảm từ -2.3 giai đoạn 1994 – 2005 đến -1.6 giai đoạn
2000-2005. Kết quả này gần với các nghiên cứu trước đây bởi các các tác giả khác
cũng dùng cùng phương pháp xác định mối quan hệ dài hạn trong chuỗi thời gian.
(khoảng -1.5 cho tổng kim ngạch xuất khẩu theo Lau, MO và Li năm 2004 và khoảng
-1.3 theo Shu và Yip 2006). Họ đã cách ước lượng tương tự độ co giãn theo giá hàng
xuất khẩu đối với các nước công nghiệp lớn. (-1,5 và -1,6 cho Mỹ và Anh, theo
Hooper 1998)
Bảng 2 - Độ co dãn của tỷ giá và tổng cầu trong dài hạn
Giai đoạn
Ordinary
exports
Processe d
exports
Ordinary
imports
Imports for
processing
Exchange
rate elasticity
1994-2005
2000-2005
-
12
Trung Quốc đang phải đối mặt với rào cản hướng tới lợi nhuận từ các nước phát triển
khác trước khi Trung Quốc gia nhập vào WTO. Ngoài ra, trong những ví dụ gần đây,
độ co giãn theo thu nhập của xuất khẩu của Trung Quốc giống như mong đợi
- Đối với những biến kiểm soát: Năng lực sản xuất có ảnh hưởng đáng kể tới
xuất khẩu trong cùng thời kỳ hoặc có độ trễ khoảng một tháng. Tín hiệu của năng lực
sản xuất mang tính tiêu cực, phù hợp với quan điểm phần lớn sản phẩm sản xuất được
giữ lại trong thị trường nội địa trong giai đoạn phát triển cao. Giảm thuế VAT thì
không có ý nghĩa thống kê và do đó tác giả loại nó ra khỏi ước lượng cuối cùng bởi vì
thêm chúng vào sẽ làm rút ngắn thời kỳ ước lượng do hạn chế về dữ liệu. Như đề cập
ở trên, dữ liệu về phần vốn FDI bắt đầu từ năm 1997 và được xem như một biến giải
thích cho thời gian ngắn gần đây. Thật ngạc nhiên, vốn FDI không ảnh hưởng tới lại
có giá trị thống kê xuất khẩu của Trung Quốc . Xu hướng tích cực và có ý nghĩa đối
với tất cả phương trình, trong khi hệ số Chinese New Year dường như giảm đi và hệ số
December làm giảm xuất khẩu một cách rõ rệt. Nếu loại bỏ biến xu hướng trong ước
lượng, thì hệ số của tổng cầu của thế giới và vốn FDI có thể trở nên tích cực và có ý
nghĩa. Tuy nhiên, kết quả độ co giãn của tỷ giá có thể vẫn không có nhiều thay đổi.
* Kết quả phương trình nhập khẩu:
- Nhân tố cầu dường như đóng vai trò vừa phải trong giải thích nhập khẩu trong
quá khứ. Trong ví dụ nhỏ sau, nhập khẩu cho chế biến thì tác động tích cực trở lại cho
cầu bên ngoài, được đo lường bằng việc xuất khẩu hàng hoá đã chế biến.
- Sản xuất công nghiệp nội địa là m tăng nhập khẩu thông thường như mong đợi.
- Vốn FDI xuất hiện có ảnh hưởng tích cực đến cả nhập khẩu thông thường và
nhập khẩu chế biến trong dài hạn.
- Việc giảm thuế nhập khẩu dường như khuyến khích nhập khẩu chế biến trong
thời gian dài. Giống như xuất khẩu, biến giả cho hệ số Chinese New Year cũng như hệ
số December có ý nghĩa thống kế trong hầu hết mọi trường hợp.
- Cuối cùng, độ co giãn của tỷ giá trong nhập khẩu thì luôn mang tính tiêu cực và
nhìn chung đều có ý nghĩa. Ngoại lệ duy nhất là trường hợp của nhập khẩu chế biến
trong thời gian gần đây, là hệ số tiêu cực của tỷ giá có ý nghĩa thống kê khi đạt ở mức
như chỉ có 1 phần nhỏ của hàng hoá nhập khẩu thực sự cạnh tranh với hàng hoá sản
xuất nội địa. Đây là vì thị phần của hàng hoá tiêu dùng có chất lượng không cao của
nhập khẩu vào Trung Quốc thì tương đối nhỏ. Thêm vào đó, phần nhập khẩu gồm
năng lượng và nguyên vật liệu thô và một vài sản phẩm nhập khẩu chỉ dành cho FDI.
Nhằm giải thích rõ hơn, chạy hồi quy song phương cho 10 đối tác lớn nhất của
Trung Quốc để đánh giá những ảnh hưởng tích cực khác nhau đối với việc định giá
Tài chính Quốc tế
14
cao đồng nhân dân tệ lên các nước khác. Giả thiết tiền đề là việc nhập khẩu hàng hoá
từ những nước Đông Nam Á phản ứng tiêu cực trở lại đến việc đánh giá cao đồng
nhân dân tệ, chủ yếu là những hàng hoá trung gian mà Trung Quốc nhập để lắp ráp và
tái xuất. Việc nhập khẩu hàng hoá từ những nước khác được mong đợi có tác động
ngược lại việc đánh giá cao đồng nhân dân tệ lại không rõ ràng, điều này còn phụ
thuộc vào cấu trúc của hàng hoá xuất khẩu của họ. Ước lượng phương trình song
phương có dạng:
t
X
=
0
+
REERt
1
+
*
2 t
Y
+
n
i
ti
controls
3
+
t
Trong đó, Trong đó
t
X
là khối lượng xuất khẩu của Trung Quốc;
t
M
là khối
lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc; RER là tỷ giá thực song phương của NDT;
*
t
Y
là cầu của nước ngoài;
t
Y
là cầu nội địa của Trung Quốc và các biến kiểm soát khác.
Không may mắn, là không thể tách rời xuất nhập khẩu cho chế biến và thông thường
HK
German
y
Korea
Netherl
and
UK
Singap or
e
Italy
Taiwan
Long-run coefficients
C -19.128
***
-8.191
***
-8.784 -34.200
***
-20.457
**
-160.640
***
-5.625 -23.138
-42.16
-1.649
***
(0 .249)
-0.334
(0 .493)
FDI
i
i 1
0.082
(0.196)
0.014
(0.183)
-2.233
***
(0.363)
1.448
** *
(0.325)
0.076
(0.103)
-0.075
(0.144)
-0.086
(0.142)
2.0)
5.9
Japan
(
–
0.4)
(
–
0.7)
Hong Kong
(0.2)
1.5
Korea
–
0.8
2.7
Japan USA (–3.1) 1.2
Germany
16
Nethelands –1.1 7.0 Singapore*
UK
–
0.6
8.2
Russia
(1.2)
(
–
0.5)
Singapore
–
1.6
1.8
Australia
(0.1)
1.3
17
Hệ số có ý nghĩa thống kê là Korea và Thailand. Đối với những nước có thu nhập cao
như US, Germany và Japan thì hệ số này mang tính tiêu cực nhưng không có ý nghĩa
thống kê.
Chỉ có Nga và Australia, thì hệ số mang tính tích cực mặc dù không có ý nghĩa thống
kê.
Bảng A1.5 – Phương trình xuất khẩu song phương của Trung Quốc
Japan
Korea
US
Taiwan
German
y
Russia
Australia
Malays
ia
Thailan
d
Long-run coefficients
rer
i
t 1
-0.582
**
(0.236)
FDI
i
i 1
0.884
***
(0.299)
-1.022
***
(0.380)
-0.073
(0.390)
3.469
***
(0.889)
0.598
***
(0.220)
0.314
*
18
Trung Quốc mặc dù có nhu cầu. Ngược lại, việc nhập khẩu hàng hóa của Australia lại
làm tăng giá trị tăng thêm cho ngành công nghiệp của Trung Quốc.
Table 4- Cấu trúc nhập khẩu hàng hoá từ các đối tác lớn vào Trung Quốc trong
năm 2005
S/p
nông
nghiệp
Nguyên
liệu thô
Hoá
chất
Dệt
may
Kim
loại
Máy
móc
Điện
tử
Phương
tiện VT
Công
cụ
quang
học
Autralia 4.5
4.5
8.7
Korea
0.6
4.7
10.2
3.8
9.7
9.5
33.6
2.8
14.8
M alaysia
6.4
2.6
0.0
Taiwan
0.1
0.9
7.4
4.5
10.0
9.7
38.7
0.5
16.1
Thailand
6.1
5.9
4.4
2.6
là những nước có thu nhập cao. Xuất khẩu từ Germany, Japan và US thì không nhạy
cảm tới sự thay đổi trong tỷ giá thực song phương. Trong khi đó trường hợp của
Germany và Japan, thì rõ ràng được định hướng bởi FDI; nhập khẩu của US dường
như có lợi hơn từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Đây là đ iều hiên nhiên khi
nhìn kỹ cơ cấu nhập khẩu từ những nước này. Trong khi khoảng phân nữa hàng hóa
xuất khẩu từ Germany và Japanese tới Trung Quốc là máy móc và sản phẩm tự động
thường được xuất khẩu cho phương đông và mở rộng quy mô những ngành công
nghiệp sở hữu nước ngoài – nhập khẩu từ Mỹ chi tiêu nhiều từ rau đậu cho tới hàng
không và chip điện tử kỹ thuật cao. Trong khi nhiều hàng hóa đó hướng tới vùng nội
địa, không có sản phẩm thay thế hoặc sự cạnh tranh của hàng hóa TQ, điều này giải
thích cho độ co dãn thấp và thậm chí mang tính tiêu cực của tỷ giá.
Nhóm thứ 3 gồm những nước Asian mới nổi mà xuất khẩu của những nước này
tới Trung Quốc bị ảnh hưởng xấu bởi việc đánh giá cao của đồng nhân dân tệ. Họ chủ
Tài chính Quốc tế
19
yếu xuất khẩu những sản phẩm bán thành phẩm, những phần và những bộ phận tới
vùng công nghiệp xuất khẩu Trung Quốc và hàng hóa xuất khẩu của họ tới Trung
Quốc do vậy có mối quan hệ tiêu cực tới việc định giá cao đồng nhân dân tệ.
Xem phần Graph 4, phần xuất khẩu tới Đại lục Trung Quốc rất lớn từ các nước
Asian. Nếu giả định rằng 1 phần xuất khẩu tới Hong Kong cũng được tính chung vào
Đại lục Trung Quốc thì phần xuất khâu sẽ trở nên lớn hơn. Điển hình như xuất khẩu từ
Taiwan tới đại lục Trung Quốc và Hong Kong bao gồm gần 40% tổng hàng hóa xuất
khẩu của Taiwan.
Do đó, kết quả của tác giả đã chỉ ra việc đánh giá cao đồng nhân dân tệ đang
làm giảm nhập khẩu từ các nước còn lại trong khu vực Asian vào Trung Quốc và đó là
mối quan tâm của nhiều nước Asian. Mối quan tâm này thậm chí còn nhiều hơn nếu
các nước này không thể bù đắp sự ảnh hưởng này bằng cách gia tăng xuất khẩu đến
những nơi khác. Điều này trông đợi nhiều vào mức độ bổ sung giữa xuất khẩu của
Asian cũng như tác động trở lại của chuỗi cung của các nước Asian đến việc đánh giá
mặc dù không có ý nghĩa thống kê trong trường hợp của Philipines và Thailand. Kết
quả của tác giả do đó có nhiều liên hệ với Ahearne (2006) và Cutler (2004) người đã
tìm ra những nhân tố chung đó, giống như nhân tố cầu của thế giới, định hướng xuất
khẩu của cả từ Trung Quốc và những nền kinh tế Asian khác.
Bảng A1.6 – Phương trình xuất khẩu của 1 số nước Asian được chọn
Hong
Kong
Kore a Malaysia Philipines
Singapore
Taiwan Thailand
China’s
reer
1t
-0.383
(0.304)
-0.443
***
(0.130)
0.817
**
(0.233)
-0.087
1.2
Malaysia
1.4
-
2.4
1.1
Philippines
-
0.3
1.2
0.3
Singap ore -0.1 -1.1 1.9
Taiwan
-
2.0
0.8
0.8
con số này phải được xem xét 1 cách cẩn thận vì đây chỉ là tính toán gần đúng. Ví dụ
những như ảnh hưởng truyền dẫn từ tỷ giá đến giá xuất nhập khẩu hàng hoá và dẫn
đến thặng dư thương mại. Nó giống như sự tính toán của tác giả khi đánh giá quá cao
sự giảm sút của thặng dư thương mại như trong trường hợp đánh giá cao đồng nhân
dân tệ, giá của xuất khẩu hàng hoá được tính bằng đơn vị tiền tệ nước ngoài có thể
tăng vì thế ảnh hưởng thực đến cán cân thương mại có thể xem như hơi nhỏ. Mặt khác,
biến động tỷ giá đồng nhân dân tệ có thể không ảnh hưởng đến giá dầu trên thị trường
thế giới vì thế ảnh hưởng truyền dẫn đến giá nhập khẩu có thể sẽ ít hơn. Ảnh hưởng
truyền dẫn ở Trung Quốc khó mà ước lượng được do thiếu dữ liệu chuỗi thời gian cho
giá xuất và nhập khẩu.
Mặc dù không hoàn toàn mới, nhưng phát hiện của nghiên cứu là nhập khẩu của
Trung Quốc bị giảm là kết quả của việc đánh giá cao tỷ giá và lý do của việc giảm
nhập khẩu này cần phải được nghiên cứu sâu hơn. Vấn đề này được tìm hiểu bằng
cách ước lượng phương trình thương mại song phương của Trung Quốc với các đối tác
Tài chính Quốc tế
22
lớn. Dường như việc định giá cáo tỷ giá thực song phương của đồng nhân dân tệ của
các đối tác nhìn chung là làm g iảm xuất khẩu hàng hoá từ các nước Asian khác. Kết
quả của việc nhập khẩu của Trung Quốc từ Asian có thể được giải thích bởi mức độ
đồng nhất cao trong khu vực xuất khẩu hàng hoá của các nước Asian. Như mạng lưới
sản xuất sản phẩm từ các nước Asian khác thì mang tính bổ sung nhiều hơn là thay thế.
Giả thiết này được hỗ trợ bởi kết quả của nghiên cứu khi mà tổng hàng hoá xuất khẩu
từ các nước Asian – không chỉ xuất khẩu tới Trung Quốc – thì bị ảnh hưởng tiêu cực
bởi việc đánh giá cao đồng nhân dân tệ.
Những phát hiện này đưa ra những mối quan tâm qua nhiều thời kỳ tác động
ngược lại của các nước Asian khi đồng nhân dân tệ đột ngột được định giá cao, đặc
biệt nếu các nước Asian cũng đánh giá cao những đơn vị tiền tệ khác. Mặc dù trong
bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào khối lượng hàng hoá xuất và nhập khẩu – vì thế
kết quả không thể toàn diện – nó thực sự phục vụ cho những ghi nhận quan trọng của