CHÍ
N
N
H SÁ
C
C
H TỶ
G
V
À
GVH
D
Võ Duy Mi
n
G
IÁ H
Ố
À
MẬU D
D
: TS Nguy
ễ
N
H
n
h / Âu Hải
K
Ố
I ĐOÁI
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ
MẬU DỊCH CHÂU Á
Tóm tắt:
Bài nghiên cứu chỉ ra kinh nghiệm rằng Cán cân thương mại của Trung Quốc
rất nhạy cảm với sự thay đổi tỷ giá hối đoái thực của đồng Nhân dân tệ. Tuy nhiên,
căn cứ theo mức độ thặng dư thương mại hiện tại thì chính sách Tỷ giá hối đoái, một
mình nó, sẽ không thể nào giải quyết được sự mất cân bằng này. Sự giảm sút trong
thặng dự
thương mại được giới hạn vì nhập khẩu Trung Quốc không tương ứng với sự
tăng giá Tỷ giá hối đoái. Thực tế, nó có xu hướng giảm xuống thay vì tăng lên.
Bằng việc ước lượng hàm nhập khẩu song phương của Trung Quốc và đối tác
thương mại chính của Trung Quốc, tác giả nhận thấy rằng những phản ứng của nhập
khẩu đối với s
ự tăng giá của Tỷ giá hối đoái được ghi nhận chủ yếu ở các quốc gia
Đông Nam Á còn những quốc gia khác thì không. Đây có thể là do hệ quả trực tiếp
của việc “hội nhập theo chiều dọc” ở các nước Châu Á như là mộtphần lớn của nhập
khẩuTrung Quốc từ các quốc gia Đông Nam Á là để phục vụ cho việc tái xuất khẩu.
Tác giả cũng nhậ
n thấy rằng xuất khẩu từ các nước Châu Á phản ứng nghịch biến với
sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ, những điểm này chỉ ra sự phụ thuộc của xuất khẩu
các nước này vào Trung Quốc.
1. GIỚI THIỆU
Thị phần của Trung Quốc trong thương mại thế giới đã tăng rất nhanh trong
những năm qua. Trên thực tế, Trung Quốc đ
ã là một trong những nhà xuất khẩu lớn
nhất thế giới, cùng với Đức và Mỹ.
Cán cân thương mại của Trung Quốc hầu như cân bằng cho đến thời gian gần
đây. Theo số liệu thống kê của Hải quan Trung Quốc, thặng dư thương mại nước này
chủ yếu dự
a trên tính co giãn đặc trưng của giá cả tác giả nghiên cứu cho nhập khẩu,
điển hình: nhập khẩu Trung Quốc ảnh hưởng ngược chiều bởi sự tăng giá thực của
đồng Nhân dân tệ.
Bằng việc ước lượng hàm nhập khẩu song phương, tác giả phát hiện ra rằng
nhập khẩu từ các nước Châu Á có xu hướng giảm nhưng các nước khác thì không. Kết
quả nghiên cứu rõ ràng này có thể giúp giải thích được bả
n chất cụ thể của mậu dịch
nội vùng ờ Châu Á, hay nói cách khác là “hội nhập theo chiều dọc”. Thực tế, nhập
khẩu của Trung Quốc từ các khu vực còn lại cuả Đông Nam Á chủ yếu hướng về tái
xuất khẩu. Thêm vào đó, tác giả có những bằng chứng chỉ ra rằng các nước Châu Á
không có khả năng bù vào phần thiếu hụt xuất khẩu sang Trung Quốc bằng việc tăng
cường xuất khẩu sang các nước khác khi mà tổng xuất khẩu của họ bị ảnh hưởng
ngược chiều của sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ. Nói cách khác, xuất khẩu từ các
nước Đông Nam Á có vẻ như là để bổ sung hơn là để thay thế cho xuất khẩu Trung
Quốc.
3
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Vì sao phải thực hiện nghiên cứu:
Độ lớn của thặng dư thương mại Trung Quốc làm cho bài nghiên cứu có giá trị
quan trọng không chỉ đối với Trung Quốc mà đối với phần còn lại của thế giới. Mặc
dù là điểm nhấn chung trong các bài nghiên cứu, những lý thuyết hiện tại vẫn chưa
thuyết phục.Việc thiếu các dữ liệu thích hợp và chuỗi thời gian dài đã không khuyến
khích vi
ệc nghiên cứu mối liên hệ giữa Tỷ giá hối đoái và mậu dịch Trung Quốc.
Đa phần các bài viết tập trung nhiều vào việc ước tính Tỷ giá hối đoái cân bằng
dài hạn hoặc tìm hiểu việc áp dụng cơ chế Tỷ giá hối đoái nào là phù hợp với nền kinh
c của đồng Nhân dân
tệ làm giảm cán cân thương mại, hoặc thông qua xuất khẩu hoặc nhập khẩu hoặc cả
hai.
Nhóm thứ hai, cho thấy không có ý nghĩa tác động lên cán cân thương mại
hoặc thậm chí là một tác động tích cực.
4
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm thứ nhất, Cerra và Dayal-Gulati (1999) ước tính sự co giãn của giá cả
của xuất khẩu TQ và nhập khẩu trong giai đoạn 1983-1997 với mô hình hiệu chỉnh sai
số và tìm ra nó có tác động ngược chiều và có ý nghĩa với xuất khẩu (-0.3) và cũng có
ý nghĩa đối với nhập khẩu (0.7). Thực tế, họ chỉ ra rằng cả hai sự co dãn này tăng
theo thời gian.
Dees (2001) phát triển dựa trên các phân tích trước đây bằng sự tách biệt xuất
kh
ẩu và nhập khẩu TQ ra làm 2 phần, theo cách này (Vd: Nhập khẩu linh kiện phục
vụ lắp ráp) và theo cách thông thường. Ông ấy phát hiện ra, trong dài hạn, sự tăng giá
của Tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu. Ông ấy cũng cho biết xuất khẩu thông
thường nhạy cảm với giá cả hơn gia công để xuất khẩu và nhập khẩu để gia công tăng
nhẹ trong trường hợp đồng Nhân dân tệ tăng giá.
Benassy-Quere và Lahreche-Revil (2003) tính toán sự
ảnh hưởng của mỗi 10%
giảm giá thực của đồng Nhân dân tệ và cho biết một sự gia tăng của Xuất khẩu Trung
Quốc vào các nước OECD và một sự giảm nhập khẩu TQ từ các nước đang phát triển
ở Châu Á nếu Tỷ giá hối đoái của các nước này không đổi.
Kamada và Takagawa (2005) mô phỏng mô hình để tính toán tác động của việc
cải cách Tỷ giá hối đoái Trung Quốc. Họ chỉ ra rằng c
ứ mỗi 10% nâng giá Tỷ giá hối
Shu và Yip (2006) ước tính tác động của sự thay đổi TGHĐ lên nền kinh tế TQ
- như là một tổng thể và tìm ra rằng một sự tăng giá có thể làm giảm xuất khẩu do tác
động của tác động dịch chuyển chi tiêu kết quả là làm giảm tổng cầu.
Nhóm thứ 2,
Jin (2003) ước tính các mối quan hệ giữa lãi suất thực, tỷ giá hối đoái thực và
cán cân thanh toán của Trung Quốc và kết luận rằng việc nâng giá trị th
ực đồng nội tệ
có xu hướng làm tăng thặng dư cán cân thanh toán.
Cerra và Saxena (2003) sử dụng dữ liệu theo ngành để nghiên cứu hành vi của
các nhà xuất khẩu TQ và tìm ra rằng giá xuất khẩu cao hơn sẽ làm tăng thặng dư của
xuất khẩu, cụ thể trong những năm gần đây. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa không tác
động mạnh đến xuất khẩu. Trong một vài trường hợp, kết quả củ
a họ - như những
nghiên cứu khác với dữ liệu theo khu vực - cần được xem xét một cách cẩn thận vì chỉ
có khoảng một nửa lượng xuất khẩu của Trung Quốc được đề cập trong dữ liệu theo
khu vực và không có một sự điều chỉnh về lượng được phản ánh trongtrong chuỗi đơn
vị giá cả.
Marquez và Schindler (2006) họ sử dụng thị phần của mậ
u dịch thế giới thay vì
khối lượng xuất nhập khẩu để tránh việc sử dụng các yếu tố đại diện cho giá cả xuất
nhập khẩu Trung Quốc. Theo kết quả thu được, sự nâng giá thực của đồng Nhân dân
tệ làm giảm thị phần xuất khẩu cũng như nhập khẩu, ít nhất là trong trường hợp
thương mại hàng hóa thông thường. Mặc dù kết quả rất thú v
ị nhưng những tác động
được ước lượng trên thị phần xuất nhập khẩu nên không có kết luận nào có thể rút ra
đối với tài khoản thương mại. Ngoài ra, các kỹ thuật đồng liên kết không được sử
dụng nên chỉ có thể ước lượng được độ co dãn trong ngắn hạn.
Có hai hàm ước lượng như sau:
Trong đó:
X
t
: khối lượng xuất khẩu từ Trung Quốc, M
t
: khối lượng nhập khẩu vào Trung
Quốc, REER
t
: tỷ giá thực hiệu lực của đồng NDT, Y*
t
: nhu cầu nước ngoài, Y
t
: nhu
cầu nội địa. Các thông số ước tính là α
1
: độ co dãn của xuất khẩu theo tỷ giá, α
2
: độ co
dãn của xuất khẩu theo thu nhập, β
1
: độ co dãn của nhập khẩu theo tỷ giá, β
2
: độ co
dãn của nhập khẩu theo thu nhập.
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực gia công trong nền kinh tế Trung
Quốc, tác giả ước lượng một phương trình riêng cho xuất khẩu gia công và xuất khẩu
thông thường. Tương tự, tác giả phân biệt nhập khẩu để gia côngvà nhập khẩu thông
thường. Đồ thị A1.1 và A1.2 (Phụ lục 1) chỉ ra xu hướng trong xuất khẩu hàng gia
là tỷ giá thực song phương tương ứng với mỗi đối tác thương mại của
Trung Quốc. Tác giả cũng sử dụng REER được xây dựng bởi BIS như một sự kiểm
định độ tin cậy nhưng kết quả không thay đổi.
Tác giả mong đợi rằng độ co giãn của xuất khẩu theo tỷ giá sẽ âm do các sản
phẩm của TQ cạnh tranh trên thị trường thế giới. Dấu hiệ
u của sự kỳ vọng của độ co
giãn của nhập khẩu theo tỷ giá chưa rõ ràng với trường hợp của Trung Quốc. Một sự
tăng giátỷ giá hối đoái thựcsẽ thúc đẩy nhập khẩu nếu sức mua tăng mạnh hơn do sự
giảm nhu cầu tiếp theo sự sụt giảm liên đớitrong xuất khẩu. Sự phản ứng phụ thuộc
nhiều vào c
ấu trúc của nhập khẩu. Nếu các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là các sản
phẩm thay thế cho các sản phẩm nội địa, thì độ co giãn theo giá sẽ dương i.e Một sự
tăng giáTỷ giá hối đoái làmtăng nhập khẩu. Tuy nhiên, nếu nhập khẩu chủ yếu là các
linh kiện và các thiết bị đầu tư hướng đến nền công nghiệp xuất khẩu, loại hàng hóa
có số lượ
ngrất lớn trong trường hợp Trung Quốc, chúng có thể sẽ có tác động tiêu cực
bởi sự tăng giá tỷ giá hối đoái như trong trường hợp xuất khẩu.
Nhu cầu nước ngoài đối với xuất khẩu Trung Quốc được đo lường dựa trên
lượng nhập khẩu của thế giới (không bao gồm nhập khẩu vào Trung Quốc) và được
điều chỉnh giảm bởi chỉ số
giá nhập khẩu toàn cầu. Hiển nhiên, một số thước đo dựa
vào sản lượng có thể đã được sử dụng nhưng không có dữ liệu hàng tháng. Thêm vào
đó, loại dữ liệu này khó nắm bắt sự phát triển nhanh chóng của thương mại thế giới
trong những năm gần đây (rõ ràng nhanh hơn so với tăng trưởng GDP) do việc mở
cửa của các nền kinh tế mới nổi.
Đố
i với nhu cầu nội địa của Trung Quốc về hàng nhập khẩu thông thường, tác
giả sử dụng sản lượng hàng công nghiệp. Tất nhiên GDP là thước đo đầy đủ hơn về
sản lượng nền kinh tế nhưng cơ quan thống kê của Trung Quốc vẫn chưa công bố số
liệu GDP hàng quý cho giai đoạn 1994 – 2005 cho đến khi có sự cải cách mạnh mẽ về
chuyển qua nhiều nước trước khi đến thị trường, có thể là phức tạp như tiên nghiệm
priori.(Dữ liệu hàng tháng của Trung Quốc về FDI chỉ tồn tại từ năm 1997).
Chuyển sang phương trình nhập khẩu, thuế suất nhập khẩu cần được đưa vào vì
chúng đã được giảm đáng kể, đặc biệt là kể từ khi gia nhập WTO. Biến ki
ểm soát thứ
hai là vốn FDI. Về nguyên tắc, tác giả kỳ vọng sẽ tìm thấy một hệ số dương đối với
vốn FDI vì các công ty nước ngoài có xu hướng nhập khẩu máy móc, linh kiện và các
bộ phận để sử dụng trong sản xuất nhiều hơn so với các công ty Trung Quốc. Tuy
nhiên, khi các công ty nước ngoài bắt đầu chuyển toàn bộ chuỗi sản xuất sang Trung
Quốc, nhu cầu nhập khẩu có thể giảm theo sự
gia tăng vốn FDI.
Cuối cùng, biến xu hướng được đưa vào cả phương trình xuất khẩu và nhập
khẩu khi nó có ý nghĩa thống kê. Biến xu hướng sẽ giúp nắm bắt sự tận dụng khả năng
sản xuất và những cải cách đang diễn ra trong nền kinh tế Trung Quốc - cái mà chúng
ta không dễ đo lường bằng cách khác được.
Tất cả các biến trừ biến cải cách thuế GTGT và thuế nhậ
p khẩu, được đo lường
như một phần giá trị trong xuất khẩu và nhập khẩu, dưới dạng hàm logarit. Người TQ
không theo tiêu chuẩn mô hình thời vụ, tác giảưu tiên sử dụng chuỗi không điều chỉnh
nhưng thiết lập biến giả trong dịp Tết và tháng 12.
Tác giả sử dụng dữ liệu hàng tháng cho giai đoạn 1994 - 2005. Bắt đầu phân
tích từ trước năm 1994 sẽ có ít ý nghĩa hơn vì nă
m đó là một bước đột phá trong cải
cách thị trường của Trung Quốc. Một vài cải cách đó có liên quan đặc biệt đến vấn đề
chúng ta đang nghiên cứu. Cụ thể là hai hệ thống tỷ giá được thống nhất lại, quy
hoạch bắt buộc cho hàng nhập khẩu bị loại trừ, yêu cầu về các loại giấy phép và hạn
ngạch được cắt giảm. Hơn thế nữa,
đồng NDT bắt đầu có tính thanh khoản trong tài
khoản vãng lai và khu vực tư nhân được hưởng lợi từ Luật doanh nghiệp mới.
Những cải cách hướng đến nền kinh tế thị trường cho phép Trung Quốc gia
Như đã đề cập trước đó, tác gi
ả chạy hồi quy trên các phương trình xuất khẩu
và nhập khẩu với toàn bộ mẫu (1994-2005), và với một mẫu ngắn hơn (2000-2005) -
tập trung vào trải nghiệm WTO. Trong cả hai trường hợp, tác giả đều cân nhắc tầm
quan trọng của việc phân biệt thương mại hàng thông thường và thương mại hàng gia
công, và chạy phương trình riêng cho mỗi loại trong trường hợp xuất khẩu lẫn nhập
khẩu. Số lượng
độ trễ ngắn hạn được đưa vào phương trình tối đa là ba và chỉ đưa vào
những độ trễ có ý nghĩa thống kê.
Kết quả đầy đủ cho các phương trình xuất khẩu được trình bày trên Bảng A1.2
(Phụ lục 1) (Tất cả các kết quả đều đã qua kiểm định tương quan theo chuỗi đối với
phần dư).Đúng như kỳ vọng, độ co giãn theo tỷ giá hoái đoái dài hạ
n của xuất khẩu
Trung Quốc - cả hàng thông thường lẫn hàng gia công – đều âm và có ý nghĩa trong
trong toàn bộ mẫu cũng như từ khi gia nhập WTO. Khi được điều chỉnh một cách
thích hợp (xem Bảng 2), độ co dãn theo tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn là khoảng -
1,3 đối với xuất khẩu hàng gia công trong cả hai giai đoạn. Xuất khẩu hàng thông
thường thì giảm từ -2,3 trong toàn bộ thời gian mẫu và -1,6 trong thời gian 2000-2005.
Kết quả c
ủa tác giả rất gần với những kết quả trước đây được tìm thấy bởi các tác giả
khác sử dụng phân tích đồng liên kết (-1,5 cho tổng hàng xuất khẩu theo Lau, Mo và
Li (2004) và -1,3 theo Shu và Yip (2006)). Các kết quả này cũng tương đồng vớiước
lượng độ co giãn theo giá xuất khẩu đối với các nước công nghiệp lớn (-1,5 và -1,6
cho Mỹ và Anh, theo Hooper và các cộng sự, 1998).
12
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Tác động tích cực dài hạn của nhu cầu thế giới đến xuất khẩu của Trung Quốc
tỷ giá vẫn không thay đổi.
Các hệ số của phương trình nhập khẩu được trình bày trong Bả
ng A1.3. Các
yếu tố nhu cầu đóng vai trò tương đối vừa phải trong việc giải thích nhập khẩu trong
quá khứ (Trong trường hợp nhập khẩu thông thường, độ co giãn theo thu nhập dương
và có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 1994-2005 nếu tác giả loại biến xu hướng ra
13
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
khỏi hồi quy). Trong giai đoạn 2000 – 2005, lượng hàng nhập khẩu để gia công phản
ứng tích cực với cầu bên ngoài, được đo bằng lượng hàng xuất khẩu đã gia công. Sản
lượng công nghiệp nội địa làm tăng nhập khẩu hàng thông thường như kỳ vọng.
Như những gì kỳ vọng, vốn FDI dường như có tác động tích cực trong dài hạn
cả nhập khẩu hàng thông thường và nhập khẩu hàng để
gia công. Cuối cùng, việc
giảm thuế nhập khẩu dường như cũng thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa để gia công trong
dài hạn (Thuế nhập khẩu không được đưa vào như là biến ngắn hạn vì tác giả chỉ có
dữ liệu thuế hàng năm và vì vậy rất ít thay đổi trong mẫu).
Độ co giãn của nhập khẩu theo tỷ giá luôn luôn âm và có ý nghĩa thống kê.
Ngoại lệ duy nhất là trường hợp nhập khẩu để gia công trong giai
đoạn 2000 – 2005
hệ số tỷ giá âm chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 15%). Ngoài những ảnh hưởng trực tiếp
từ tỷ giá hối đoái, nhập khẩu hàng để gia công cũng bị ảnh hưởng gián tiếp thông qua
các nhu cầu về linh kiện, ví dụ hàng xuất khẩu đã gia công. Khi xem xét đến các tác
động gián tiếp, phản ứng tiêu cực của nhập khẩu hàng để gia công đối với sự gia tăng
giá thự
c của Tỷ giá hối đoái mạnh hơn so với phản ứng của nhập khẩu hàng thông
thường.
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
một phần nhỏ sản phẩm nhập khẩu cạnh tranh với sản phẩm sản xuất trong nước của
Trung Quốc. Điều này là do tỷ trọng hàng tiêu dùng chất lượng không cao trong nhập
khẩu của Trung Quốc tương đối nhỏ. Ngoài ra, một phần đáng kể trong nhập khẩu bao
gồm năng lượng và nguyên liệu thô và một số sản phẩm chỉ đi cùng với đầu tư trự
c
tiếp nước ngoài.
Biểu đồ 2 - Cán cân thương mại song phương của Trung Quốc với một số quốc gia
trong năm 2005 (đơn vị: USD)
Biểu đồ 3 – Cán cân thương mại song phương của Trung Quốc với một số quốc gia
trong năm 2005 (đơn vị: %GDP của mỗi nước)
Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, tác giả chạy hồi quy song phương cho 10 đối
tác thương mại lớn nh
ất của Trung Quốc để đánh giá các tác động khác nhau của việc
15
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
nâng giá trị thực của đồng Nhân dân tệcó thể xảy ra giữa các quốc gia. Tiên nghiệm
của tác giả là nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á sẽ phản ứng tiêu cực đối với sự
tăng giá đồng Nhân dân tệ, chủ yếu là các sản phẩm trung gian để lắp ráp và tái xuất.
Ngược lại, nhập khẩu từ các quốc gia khác dự kiến sẽ phản ứng một cách mơ hồ hơ
n
với sự tăng giá đồng Nhân dân tệ, tùy thuộc cơ cấu xuất khẩu của họ. Các phương
trình song phương được ước lượng có dạng như sau:
trên góc độ tổng thể). Tỷ giá thực song phương giữa đồng Nhân dân tệ và đồng tiền
của các đối tác thương mại của Trung Quốc được đo lường bằng chỉ số CPI. Nhu cầu
đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc thể hiện qua GDP thực của từng đối tác xuất
kh
ẩu trong khi nhu cầu nội địa của Trung Quốc được thể hiện bởi sản lượng công
nghiệp. Tác giả cũng giới thiệu vốn FDI song phương trong cả hai phương trình xuất
khẩu và nhập khẩu. Như phần trên, tác giả đưa mức độ tận dụng năng lực sản suất vào
các phương trình xuất khẩu của Trung Quốc. Cuối cùng, biến xu hướng được xem xét
khi có ý nghĩa thống kê (Số
lượng độ trễ ngắn hạn được đưa vào ước lượng cuối cùng,
một lần nữa dựa vào ý nghĩa thống kê của nó. Tác giả sử dụng dữ liệu thời vụ được
điều chỉnh bằng cách sử dụng chương trình CencusX12 với mục đích tránh sự biến
động theo chu kỳ của dữ liệu đối tác thương mại Trung Quốc. Nếu có ý nghĩa thống
kê, tác gi
ả giới thiệu biến giả cho dịp Tết và Tháng 12). Nguồn dữ liệu được trình bày
lại trong Bảng A1.1.
Tác giả ước lượng các phương trình thương mại song phương cho giai đoạn
2000-2005 vì dữ liệu của một số quốc gia không tồn tại cho cả giai đoạn 1994-2005.
16
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Việc làm này cho phép chúng ta so sánh kết quả giữa các quốc gia và với phương
trình xuất nhập khẩu kết hợp. Tương tự như trên, tác giả tiến hành kiểm định nghiệm
đơn vị cho tất cả các biến song phương. Hầu hết đều dừng ở sai phân bậc một và có ít
nhất một vector đồng liên kết cho mỗi phương trình xuất nhập khẩu song phương (Tối
ưu hóa khả năng sản xuấ
t ở sai phân bậc 0(dữ liệu gốc). Kết quả của nghiệm đơn vị và
kiểm định đồng liên kết có sẵn dựa trên yêu cầu của tác giả).
có thể phản ánh một sự chuyển giao toàn bộ quy trình sản xuất sang Trung Quốc.
Trong khi trước đây, có thể một số bán thành phẩm đầu tiên được xuất từ Trung Quốc
sang
Đức, sau đóđược cải biến lại và vận chuyển đến đích đến cuối cùng, hiện nay
toàn bộ quy trình sản xuất dường như đã được chuyển sang Trung Quốc và không cần
thiết phải vận chuyện hàng hóa trở lại Đức. Tuy nhiên, kết quả này nên được diễn giải
một cách thận trọng vì nó đòi hỏi phải phân tích sâu hơn.
Kết quả của các phương trình nhập khẩu song phươ
ng được trình bày trong
Bảng A1.5 (Ngoài 10 đối tác nhập khẩu quan trọng nhất, tác giả loại Singapore do
nguyên nhân trong tính toán. Tất cả các kết quả đã qua kiểm định LM đối với tương
quan theo chuỗi của phần dư). Đầu tiên, độ co giãn dài hạn theo giá cho thấy một sự
17
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
gia tăng giá trị thực đồng Nhân dân tệ làm giảm nhập khẩu từ tất cả các nước châu Á
sang Trung Quốc. Hệ số có ý nghĩa thống kê đối với Hàn Quốc và Thái Lan.Đối với
các nước có thu nhập cao như Mỹ, Đức và Nhật Bản, hệ số âm nhưng không có ý
nghĩa thống kê. Chỉ có Nga và Úc có hệ số dương nhưng cũng không có ý nghĩa thống
kê.
Độ co giãn theo thu nhập hầu hết là dương mặc dù khá th
ấp và không phải tất
cả đều có ý nghĩa thống kê. Xuất khẩu của hầu hết các nước sang Trung Quốc tăng
theo vốn FDI song phương. Nhập khẩu của Trung Quốc từ Nhật Bản, Đài Loan, Đức,
Nga, Malaysia và Thái Lan cũng tăng lên cùng với FDI từ các nước này. Hàn Quốc là
ngoại lệ với hệ số âm và có ý nghĩa thống kê đối với FDI. Bảng 3 tóm tắt độ co giãn
theo giá và thu nhập trong dài hạn đã được chuy
ển đổi của phương trình xuất nhập
đó là những quốc gia có thu nhập cao. Xuất khẩu từ Đức, Nhậ
t Bản và Mỹ không
nhạy cảm với những thay đổi của tỷ giá thực song phương. Trong khi nhập khẩu của
Đức và Nhật Bản được thúc đẩy bởi FDI, nhập khẩu của Mỹ có vẻ được hưởng lợi
nhiều hơn từ sự phát triển kinh tế tổng thể của Trung Quốc. Điều này cũng là đương
nhiên khi xem xét kỹ cơ cấu nhập khẩu từ các nướ
c này. Khoảng một nửa hàng xuất
khẩu của Đức và Nhật vào Trung Quốc là máy móc và thiết bị điện tử - những sản
phẩm thường được định hướng tái xuất khẩu. Hàng nhập khẩu từ Mỹ thì đa dạng hơn
từ đậu nành đến máy bay và các con chip công nghệ cao. Phần lớn những sản phẩm
này không có tính thay thế và không bị cạnh tranh bởi những sản phẩm của Trung
Qu
ốc, điều này giải thích vì sao độ co dãn theo tỷ giá rất thấp và thậm chí âm.
Nhóm thứ ba gồm các nước châu Á mới nổi, xuất khẩu của các nước này sang
Trung Quốc đang bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự tăng giá đồng Nhân dân tệ. Họ chủ yếu
xuất khẩu các sản phẩm, phụ tùng và linh kiện cho ngành công nghiệp xuất khẩu của
Trung Quốc, do đó xuất khẩu của các nước này sang Trung Quố
c có quan hệ nghịch
biến với sự tăng giá đồng Nhân dân tệ.
Như chúng ta có thể thấy trong đồ thị 4, tỷ trọng xuất khẩu của một số nước
châu Á sang Trung Quốc đại lục rất lớn. Nếu giả định một phần của xuất khẩu sang
Hồng Kông cuối cùng sẽ đến Trung Quốc đại lục, tỷ trọng sẻ trở nên lớn hơn. Ví dụ,
xuất khẩu từ Đài Loan đến Trung Quốc đại lục và Hồng Kông bao gồm gần 40% tổng
lượng xuất khẩu của Đài Loan.
Biểu đồ 4 – Tỷ trọng xuất khẩu của một số nước châu Á đến Trung Quốc đại lục và
Hồng Kông trong năm 2005 (đơn vị: %)
19
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
ới Hàn Quốc, Đài
Loan và Thái Lan. Riêng xuất khẩu của Malaysia thì được hưởng lợi từ sự nâng giá
thực đồng Nhân dân tệ. Kết quả khác biệt này là do ngoài thiết bị điện tử, Malaysia
còn xuất khẩu với số lượng lớn dầu và các nguyên liệu khác. Như vậy, các kết quả từ
các phương trình xuất khẩu của các nước châu Á rất gần với kết quả của phương trình
20
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MẬU DỊCH CHÂU Á
Nhóm 5 Cao Học Đêm 2 GVHD: TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
nhập khẩu song phương của Trung Quốc, vì thế xuất khẩu từ nhiều nước châu Á khác
dường như không được chuyển hướng hoàn toàn sang các nước khác khi nhu cầu của
nhập khẩu Trung Quốc giảm. Như kỳ vọng, độ co giãn theo thu nhập luôn luôn dương
mặc dù không có ý nghĩa thống kê trong trường hợp của Philippines và Thái Lan. Kết
quả của tác giả rất phù hợp với kết quả của Ahearne (2006) và Cutler (2004), người đã
phát hi
ện ra các yếu tố chung (như nhu cầu của thế giới) thúc đẩy xuất khẩu từ Trung
Quốc và các nền kinh tế châu Á khác.
Bảng 5 – Phương trình xuất khẩu cho đối tác thương mại lớn trong khu vực của Trung
Quốc
Các giá trị trong dấu ngoặc đơn không có ý nghĩa thống kê
*Phương trình xuất khẩu từ Nhật Bản đã không vượt qua được các kiểm định thông số
sai lệch
5. KẾT LUẬN
Trong vài năm qua, đã có một cuộc tranh luận chuyên sâu ở cả Trung Quốc lẫn
các diễn đàn quốc tế về mong muốn nâng giá đồng Nhân dân tệ. Nhiều tranh luận cho
rằng chính sách tỷ giá hối đoái sẽ không thể đáp ứng được mục đích giảm thặng dư
thương mại lớn của Trung Quốc. Dựa trên thực nghiệm, bài nghiên cứu này chỉ ra
rằng cán cân thương mại Trung Quốc nhạ
động thực tế đến cán cân thương mại có thể nhỏ hơn đáng kể. Mặt khác, sự biến động
của tỷ giá đồng Nhân dân tệ có thể không ảnh hưởng đến một số
mặt hàng, ví dụ như
giá dầu thế giới, do đó tác động truyền dẫn vào giá nhập khẩu của Trung Quốc có thể
nhỏ hơn nhiều. Thật không may, các tác động truyền dẫn ở Trung Quốc rất khó ước
lượng do thiếu dữ liệu chuỗi thời gian về giá xuất khẩu, giá nhập khẩu.
Mặc dù không hoàn toàn mới, nhưng phát hiện của tác giả rằng nhập khẩu của
Trung Quố
c giảm khi tăng tỷ giá hối đoái là rất thú vị và lập luận của nó cần được
được nghiên cứu sâu hơn. Tác giả tìm hiểu thêm về vấn đề này bằng cách ước lượng
các phương trình thương mại song phương của Trung Quốc với các đối tác thương
mại lớn. Có vẻ như một việc tăng giá trị thực của đồng Nhân dân tệ so với đồng tiền
của các đố
i tác thương mại thường làm giảm xuất khẩu, cụ thể là từ các nước châu Á
khác. Kết quả nhập khẩu của Trung Quốc từ châu Á có thể được giải thích bởi sự hội
nhập theo chiều dọc ở mức độ cao của các nước châu Á. Mạng lưới sản xuất như vậy
ở châu Á làm cho các sản phẩm từ các quốc gia châu Á khác mang tính bổ sung hơn là
thay thế. Giả thuyết này được hỗ
trợ bởi kết quả của tác giả, theo đó, tổng kim ngạch
xuất khẩu từ các nước châu Á - không chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc - bị ảnh hưởng
tiêu cực bởi sự tăng giá thực của đồng Nhân dân tệ.
Những phát hiện này làm tăng mối quan tâm về khả năng thích ứng của châu Á
đối với sự gia tăng đột ngột của đồng Nhân dân tệ, đặc biệt nế
u các nước châu Á cũng
tăng giá so với các đồng tiền khác. Mặc dù nghiên cứu này chỉ tập trung vào khối
lượng xuất nhập khẩu – do đó kết luận có thể không đầy đủ - nó chỉ cung cấp một số
điểm quan trọng cho những nghiên cứu xa hơn về những tác động tiềm ẩn từ việc
nâng giá trị thực đồng tiền Trung Quốc và những kết hợp khác nhau của các chính
sách tỷ giá
ở châu Á. Mặc dù đã có một số bài nghiên cứu về vấn đề này, những
Converted to Renminbi and
deÁ ated by China’s CPI.
In logs.
ordinary
exports
The volume of
China’s ordinary
exports
Monthly CEIC Original data in US dollars.
Converted to Renminbi and
deÁ ated by China’s CPI.
In logs.
imports for
processing
The volume of
China’s imports for
processing
Monthly CEIC Original data in US dollars.
Converted to Renminbi and
deÁ ated by China’s import
price index. In logs.
ordinary
imports
The volume of
China’s ordinary
imports
Monthly CEIC Original data in US dollars.
Converted to Renminbi and
deÁ ated by China’s import
price index. In logs.
capacity
utilization
Estimate for output
gap
Monthly CEIC, own
calculations
Business cycles estimated by
using Hodrick-Prescott À lter
on industrial production data
(CEIC)
import
tariffs
Weighted average
import tariffs as
a share of total
imports
Annual IMF
Occasional
Paper, WTO
The authors calculated the
weighted average for 2001-
2005 with help of WTO tariff
data. Data for 1999-2000
was interpolated as it was not
available.
CEPII_n°116.indb 75
CEPII_n°116.indb 75
12/06/2009 09:21:00
12/06/2009 09:21:00
Alicia Garcia-Herrero & Tuuli Koivu / Économie internationale 116 (2008), p. 53-9476
Data from China’s trade
partners’ side. Original data
in US dollars. Converted
to Renminbi and deÁ ated
by China’s CPI. Seasonally
adjusted. In logs.
imports
The volume of
China’s bilateral
imports
Monthly Direction of trade,
except data
for Taiwan
from CEIC
Data from China’s trade
partners’ side. Original data
in US dollars. DeÁ ated by
trade partners’ export prices.
Seasonally adjusted. In logs.
Trade partners’
export prices
Monthly IFS, except data
for Taiwan
from CEIC
Unit price index, not available
for Malaysia and Taiwan for
which we used CGPI data.
For Russia we used IFS export
price index for oil-exporting
countries.
12/06/2009 09:21:00