Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Đan Phượng – Hà Tây - Pdf 25

Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với quốc gia, thất nghiệp thiếu việc làm là một sự lãng phí tài
nguyên sinh lực. Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp và thiếu việc làm làm
phát sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp và nóng bỏng, gây ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống và sự phát triển con người. Do đó, việc giải quyết việc làm và
tạo mở việc làm trong giai đoạn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
hiện nay là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản
lý nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi thành phần trong xã hội nhằm đưa đất
nước đi lên theo kịp sự phát triển chung của khu vực và của thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập
tại Phòng Nội vụ Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng, cùng với sự hướng
dẫn của GS Mai Quốc Chánh, em đã lựa chọn đề tài: “Công tác tạo việc làm
cho người lao động trên địa bàn huyện Đan Phượng – Hà Tây” để nghiên
cứu cho bài báo cáo thực tập cuối khoá của mình. Đồng thời cũng mong muốn
được đóng góp những kiến thức mà bản thân đã được học tập trong trường
ĐH Kinh tế Quốc dân làm cho công tác tạo mở việc làm của huyện được thực
hiện ngày càng tốt hơn.
Chuyên đề thực tập này được chia làm ba phần:
Phần I: Những lý luận chung về vấn đề việc làm
Phần II: Thực trạng về việc làm và công tác tạo mở việc làm của
huyện Đan Phượng trong những năm vừa qua.
Phần III: Kiến nghị và đề xuất.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú cán bộ ở phòng
Nội vụ - Lao động và Xã hội huyện Đan Phượng đã nhiệt tình giúp đỡ và
hướng dẫn em trong suốt thới gian thực tập và nghiên cứu. Trong quá trình
viết bài, không tránh khỏi những sai sót vì vậy rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực
trường Đại học Kinh tế quốc dân để bài viết này được hoàn thiện hơn.
1

2
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
2, Nguồn nhân lực và nguồn lao động:
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo
quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được
biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng.
* Về số lượng: là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm
việc có thể huy động được của họ (Từ đủ 15-55 đối với nữ, từ đủ 15-60 đối
với nam). Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước là khác nhau
tuy thuộc và điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng
giai đoạn. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật Lao động, dân số trong độ
tuổi lao động là những người đủ từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15
đến 55 tuổi đối với nữ.
* Về chất lượng: Là trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,
sức khoẻ và phẩm chất của người lao động.
Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận dân số trong
độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm) và những
người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Như vậy,
theo khái niệm nguồn lao động thì có một số người được tính vào nguồn nhân
lực nhưng không phải là nguồn lao động. Đó là những người lao động không
có việc làm nhưng không tích cực tìm việc làm; những người đang đi học;
những người làm nội trợ trong gia đình và những người thuộc tình trạng khác
(người nghỉ hưu trước tuổi quy định)…
Ở Việt Nam, khái niệm mở rộng dùng trong thống kê lao động việc làm
thì lực lượng lao động bao gồm cả những người ở ngoài độ tuổi lao động thực
tế đang làm việc trong các ngành kinh tế.
3, Vai trò của nguồn lao động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội:
Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Nhờ đó mà các tư liệu sản xuất được hoàn thiện

4
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
II, Việc làm và thất nghiệp:
1, Việc làm:
a, Khái niệm việc làm:
Theo bộ luật lao động Việt Nam: Việc làm là mọi hoạt động lao động
tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy việc làm là:
+ Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi cho bản thân hoặc thu nhập cho
gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho
công việc đó.
Theo như quan niệm này thì không chỉ những người dang làm việc
trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng
được coi là có việc làm nếu họ giám tiếp tạo ra thu nhập miễn là không
bị pháp luật ngăn cấm.
b, Các hình thức việc làm:
Hiện nay tồn tại nhiều hình thức việc làm như: Việc làm được nhận tiền
công, tiền lương; tự tạo việc làm…
2, Tình trạng việc làm và thất nghiệp:
2.1, Việc làm đầy đủ:
Việc làm đầy đủ là việc làm cho phép người lao động có điều kiện sử
dụng hết thời gian lao động theo quy định. Theo bộ luật Lao động Việt Nam
thì người đủ việc làm là những người có số giờ là việc trong tuần lễ tính đến
thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ hoặc những người có số giờ nhỏ
hơn hoặc bằng 40 nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có số
giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với
những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành. Số
giờ làm việc có thể thay đổi theo từng năm hoặc từng thời kỳ.
2.2, Việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả:

6
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
6
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
b, Phân loại thất nghiệp:
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để
hiểu rõ về nó, Thất nghiệp có thể đựoc chia thành các loại sau:
* Theo lý do thất nghiệp:
- Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công
nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì một số lý do cá nhân
như di chuyển, sinh con…Thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp
tạm thời.
- Thất nghiệp không tự nguyện: Là thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy
thoái (cung lớn hơn cầu lao động).
- Thất nghiệp trá hình (hay còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động)
là hiện tượng khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng họ sẵn
sàng làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của ngành đó
thấp và nó gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.
* Phân loại thất nghiệp theo nguồn gốc:
Tìm hiểu nguồn gốc thất nghiệp có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực
trạng thất nghiệp để từ đó tìm ra hướng giải quyết. Theo cách này thất nghiệp
có bốn loại:
- Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển
không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa
các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thậm chí khi có đủ việc làm vẫn luôn
có sự chyển động, như: một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, di
chuyển chỗ ở từ nơi này sang nơi khác, phụ nữ có thể quay lại lưc lượng lao
động sau khi sinh con…Người thất nghiệp thuộc loại này thường xếp vào

lao động không cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi
xuống, toàn bộ thị trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp do yếu
tố ngoài thị trường lại do yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó
giúp nhà phân tích có thể dự kiến tình hình chung của thị trường lao động.
c, Nhóm chỉ tiêu về thất nghiệp:
* Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động đủ 15-60
tuổi (đối với nam) và 15-55 tuổi (đối với nữ):
+ Có khả năng lao động
8
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
8
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
+ Trong tuần điều tra không có việc làm
+ Đang có nhu cầu tìm việc làm.
+ Có đăng ký việc làm theo quy định
* Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp trên số
người trong độ tuổi lao động thuộc lực lượng lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất
nghiệp của một quốc gia. Cũng vì thế, còn có nhiều khái niệm khác nhau về
nội dung và phương pháp tính toán. Dưới đây là một số phương pháp tính
toán phổ biến:
Tỷ lệ Số người thất nghiệp
thất nghiệp = ---------------------------------------- X 100
Số người trong độ tuổi lao động
Thuộc lực lượng lao động
* Số người thất nghiệp dài hạn và tỷ lệ thất nghiệp dài hạn
Người thất nghiệp dài hạn gồm những người có thời gian thất nghiệp
liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc từ tuần lễ
tham khảo trở về trước.

vị trí cân bằng, ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, lạm phát do giá cả và tiền lương là
ổn định, không có xu hướng biểu thị lạm phát tăng lên hay giảm đi.
10
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
10
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
3, Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề việc làm:
3.1, Số lượng chất lượng nguồn lao động và cơ cấu đào tạo:
Đây là yếu tố thuộc về cung lao động, chất lượng lao động và cơ cấu
đào tạo đóng vai trò quyết định đối với tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc
làm của một quốc gia cao hay thấp. Số lượng lao động càng lớn thì áp lực giải
quyết việc làm càng lớn. Ngược lại, nếu một quốc gia giảm dần được tốc độ
tăng dân số quy mô lực lượng lao động sẽ biến đổi với tốc độ chậm dần, số
lao động dư thừa trong nền kinh tế sẽ ít đi, khi đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm
xuống.
Chất lượng lao động và cơ cấu đào tạo quyết định khả năng đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế mà cụ thể là các đơn vị kinh tế sử dụng lao động, do
vậy cần phải xây dựng một cơ cấu lao động hợp lý với chất lượng cao.
3.2, Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng năng suất lao
động
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc cho người
lao động. Nhân tố này phụ thuộc vào việc tăng cường huy động và sử dụng
các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài (như FDI, ODA…) và sự
phát triển của các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế. Việc tăng
chi tiêu của Chính phủ cũng góp phần làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và thiếu
việc làm trong xã hội.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu
lao động của ngành sẽ làm hoặc làm giảm nhu cầu việc làm. Do vậy cần phải
nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời với việc đưa ra

ép về việc làm trong nước. Đây là biện pháp mà các quốc gia đang phát triển
trong đó có Việt Nam đã và dang thực hiện.
12
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
12
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
3.5, Cơ chế, chính sách và các biện pháp phát triển kinh tế xã hội:
Là các chủ trương, biện pháp ở tầm vĩ mô nhằm phát triển kinh tế xã
hội. Yếu tố này đóng vai trò hết sức quan trọng đối với vấn đề lao động việc
làm. Do vậy, khi ban hành các cơ chế chính sách mới, Nhà nước cần nghiên
cứu, phân tích đánh giá ảnh hưởng của chúng đến vấn đề lao động việc làm,
từ đó có những điều chỉnh kịp thời nhằm duy trì và đảm bảo mối quan hệ hài
hoà giữa phát triển kinh tế xã hội và mục tiêu giải quyết việc làm của đất
nước.
3.6, Hỗ trợ cộng đồng và dịch vụ việc làm:
Hỗ trợ cộng đồng bao gồm sự tham gia giải quyết việc làm của cá đoàn
thể quần chúng, sự tương trợ lẫn nhau về thông tin, vốn, kỹ thuật để tạo mở
và giải quyết việc làm trong xã hội.
Dich vụ việc làm là hoạt động hỗ trợ trực tiếp đối với người lao động.
Nó thường được thực hiện qua các trung tâm việc làm. Nhờ các hoạt động
này, người sử dụng lao động cũng được cung cấp dịch vụ cần thiết theo hợp
đồng.
Đây là các nhân tố tác động tích cực và đóng vai trò quan trọng trong
công tác giải quyết việc làm của quốc gia.
3.7, Trợ giúp Quốc tế và giải quyết việc làm:
Các quốc gia nhất là các nước đang phát triển thường nhận được các
khoản trợ cấp quốc tế để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề lao
động việc làm. Một số nước phát triển còn cung cấp các khoản hỗ trợ song
phương đối với lao động nước ngoài từng sinh sống và làm việc tại các quốc

đoạn hiện nay có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế, góp phần
đẩy nhanh tốc độ tăbg trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân.
14
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
14
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
2, Về mặt xã hội:
Giải quyết việc làm là một vấn đề mang tính xã hội. Mỗi con người khi
trưởng thành đều có nhu cầu và mong muốn làm việc, đó là nhu cầu chính
đáng và cũng là quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, giải quyết việc
làm đầy đủ cho người alo động có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi cá nhân và cả
xã hội. Khi Chính phủ có chính sách tạo việc làm thoả đáng, điều đó sẽ đem
lại công bằng cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động. từ đó mà
mọi người lao động đều có thu nhập, không phải lo ăn bám, hạn chế được sự
phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt.
Ngược lại, nếu không giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiện
tượng thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên. Điều này luôn gắn liền với sự
gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma tuý…làm rối loạn trật tự
an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động. Thất nghiệp ở mức cao
còn gây ra sự bất ổn định về kinh tế và chính trị, làm mất niềm tin của nhân
dân đối với Nhà nước.
Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả các vấn đề liên
quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Trên
giác độ này, công tác giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn
lao động nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng
nguồn lực lâu dài cho đất nước.
Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theo
ngành và theo lãnh thổ. Nếu không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp lý
cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị để

Trong đó các tổ chức kinh tế xã hội, các đoàn thể quần chúng đóng vai trò
tích cực trong việc hướng dẫn giúp đỡ người lao động trang bị kiến thức nghề
nghiệp, tìm việc làm và tạo việc làm cho họ. Sự tham gia của các tổ chức,
đoàn thể này sẽ góp phần quan trọng cùng với Nhà nước giải quyết có hiệu
quả những vấn đề lao động, việc làm đang được đặt ra.
16
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
16
Chuyên đề tốt nghiệp: "Công tác tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Đan Phượng - Hà Tây"
Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Nền kinh tế
nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa, do đó, Nhà nước và các đoàn thể xã hội cần phát huy
mạnh mẽ vai trò của mình trong lĩnh vực giải quyết việc làm, một trong
những vấn đề kinh tế xã hội cấp bách hiện nay.
V, Sự cần thiết khách quan của tạo việc làm và giải quyết việc làm trên
địa bàn huyện Đan Phượng:
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác, quản
lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của đất nước bao gồm các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, trình độ khoa học, kỹ thuật công
nghệ và tiềm lực về con người hay nguồn nhân lực.
Việc tạo việc làm nhằm khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên
sẵn có trên địa bàn huyện, đồng thời, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp và
các tệ nạn xã hội hiên đang có xu hướng gia tăng do hiện tượng thất nghiệp
gây ra.
Trong khoảng 8-10 năm trở lại đây, huyện Đan Phượng đang chuyển mình
mạnh mẽ cùng hoà nhịp với quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất
nước. Cơ sở hạ tầng và điều kiện kinh tế của huyện đang ngày càng được hiện
đổi mới theo hướng hiện đại hoá, trong khi đó trình độ nguồn nhân lực của huyện
lại chưa theo kịp được với yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội.

trong huyện Đan Phượng đã quán triệt, vận dụng sáng tạo các chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo những bước tiến quan trọng, những khâu
đột phá mang tính quyết định, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu lao động; thu ngân sách khá và tăng dần hàng năm; giảm
mạnh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng được tăng cường, nhất là hệ
thống đường giao thông nông thôn và các công trình phúc lợi công cộng, an ninh
quốc phòng được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày một
nâng cao. Cụ thể như sau:
- Tổng sản phẩm GDP năm 2007 ước thực hiện 645 tỷ đồng bằng 116.85%
so với năm 2006.
- Tổng giá trị sản xuất ước thực hiện 1312 tỷ đồng bằng 112,33% năm 2006.
Cơ cấu ngành: nông nghiệp thuỷ sản chiếm 21,4%; công nghiệp xây dựng chiếm
39,6% và dịch vụ chiếm 39%
18
Cảnh Thị Ngọc Bích Lớp: Quản trị nhân lực
18

Trích đoạn Một số giải pháp nhằm làm cho công tác giải quyết và tạo việc làm có hiệu quả hơn trong thời gian tới : Một số kiến nghị:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status