1
-
Nguyễn Duy Tài*, Lê Thị Kim Tuyến**
Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường và các yếu tố
liên quan ở phụ nữ 18-60 tuổi tại huyện Bình Chánh – TP Hồ Chí Minh năm
2008.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 1.244 phụ nữ trong thời
gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2008. Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu
nhiên phân tầng
Kết quả: Mẫu nghiên cứu có 19 trường hợp phết tế bào cổ tử cung bất
thường, chiếm tỷ lệ 1,53%, bao gồm 9 trường hợp ASC-US, 1 trường hợp AGUS,
4 trường hợp LSIL, 1 trường hợp HSIL và 4 trường hợp ung thư tế bào gai. Các
yếu tố liên quan với phết tế bào cổ tử cung bất thường bao gồm: phụ nữ mãn
kinh và cổ tử cung có tổn thương.
Kết luận: Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường ở phụ nữ 18-60 tuổi tại
huyện Bình Chánh – TP Hồ Chí Minh năm 2008 là 1,53%. Các yếu tố liên quan:
phụ nữ mãn kinh và cổ tử cung có tổn thương.
Từ khóa: Phết mỏng tế bào cổ tử cung, phết tế bào cổ tử cung bất
thường, ung thư cổ tử cung, mn kinh, cổ tử cung có tổn thương
2
ABSTRACT
RATES OF ABNORMAL PAP’SMEAR AND RELATING FACTORS IN
WOMEN AGED 18-60 YEARS AT BINH CHANH DISTRICT IN 2008
Nguyen Duy Tai, Le Thi Kim Tuyen
dụng để phát hiện sớm những biến đổi bất thường ở cổ tử cung trước khi những
tế bào này chuyển thành tế bào ung thư(8). Từ một biến đổi tân sinh trong biểu
mô cổ tử cung có thể cần trên 10 năm mới chuyển thành ung thư cổ tử
cung(9,12,19). Những trường hợp diễn tiến nhanh hơn thường do không thực
hiện tầm soát hoặc những trường hợp bất thường phát hiện được khi tầm soát
mà không được theo dõi hợp lý. Vì vậy, việc thực hiện tầm soát ung thư cổ tử
cung định kỳ làm giảm khả năng diễn tiến thành ung thư xâm lấn đến 95%(15).
Ung thư cổ tử cung được giả định là một tiến trình tiếp diễn từ tân sinh trong
biểu mô qua ung thư tại chỗ đến xâm lấn. Vì vậy, việc tầm soát ung thư cổ tử
cung hiệu quả có ý nghĩa trong việc làm giảm tỷ suất mới mắc và tử vong do
ung thư cổ tử cung xâm lấn bằng cách loại bỏ các tổn thương tiền xâm lấn(20).
Ngày nay, ung thư cổ tử cung có thể được phát hiện bằng nhiều cách, trong
đó Pap smear thường là phương pháp đầu tay được lựa chọn trong bước đầu tầm
soát nhằm phát hiện sớm các biến đổi bất thường của tế bào cổ tử cung. Đây là
phương pháp gợi ý chẩn đoán đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền, phù hợp với kinh
tế các nước đang phát triển và khả thi để thực hiện tầm soát trong cộng đồng.
4
Trong chương trình tầm soát ung thư giai đoạn 2000-2010 tại Việt Nam, tầm
soát ung thư cổ tử cung đặc biệt được chú trọng.
Bình Chánh là một huyện vùng ven thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến cuối
năm 2007, tổng số dân là 294.468 người, trong đó có 56.060 phụ nữ độ tuổi 18-
60 (Nguồn: Ủy Ban Dân Số Gia Đình Huyện Bình Chánh).
Từ năm 2006, Bệnh Viện Bình Chánh chúng tôi tiến hành làm Pap smear đại
trà để tầm soát ung thư cổ tử cung cho phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh
Viện. Năm 2007, tỷ lệ Pap bất thường chung cho mọi lứa tuổi là 5,1% (số liệu
thu thập tại Khoa Sản Bệnh Viện Bình Chánh). Con số này thực chất không
phản ánh được tỷ lệ bệnh lưu hành trong cộng đồng cũng như không nói lên
được các yếu tố liên quan với bệnh lý này tại địa phương chúng tôi. Vậy phụ nữ
huyện Bình chánh từ 18-60 tuổi có tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường trong
Đang có thai hoặc bệnh nặng, bệnh tâm thần.
Đã cắt tử cung hoàn toàn.
Phết tế bào cổ tử cung không đạt
Cỡ mẫu
Mục đích chủ yếu là xác định tỷ lệ tế bào cổ tử cung bất thường trong cộng
đồng, vì vậy mẫu nghiên cứu được ước lượng theo công thức:
Trong đó:
= 0,05 (độ tin cậy 95%).
Z: Trị số từ phân phối chuẩn.
Z (1-/2): giá trị ngưỡng của độ tin cậy, Z (1-/2) =1,96, p: Tỷ lệ bệnh ước
tính trong quần thể:
Độ chính xác tuyệt đối d = 1% = 0,01.
6
Vậy n=827 phụ nữ. Vì đây là nghiên cứu cộng đồng, để cỡ mẫu có tính hiệu
ứng thiết kế chúng tôi nhân mẫu lên 1,5 lần. Do đó, cỡ mẫu cần có là N=1.244
Cách chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Kỹ thuật
Để xét nghiệm đạt giá trị tối đa, phết cần được bảo quản tốt và có sự hiện
diện của tế bào từ vùng chuyển tiếp, nơi phát sinh của hầu hết ung thư cổ tử
cung. Nếu được, mẫu nên lấy ở nửa đầu chu kỳ, khi đó tác dụng của Estrogen
làm hình ảnh tế bào rõ ràng hơn. Với điều kiện hiện tại, que Ayre được chọn lựa
để lấy bệnh phẩm cổ ngoài và cổ trong.
Người phụ nữ không được giao hợp, thụt rửa âm đạo, đặt thuốc hay dùng bôi
trơn trong vòng 24 giờ trước đó, không đang hành kinh hay rong kinh rong
huyết.
Việc lấy mẫu nên tiến hành trước khi khám âm đạo hay làm xét nghiệm khác.
quả các phép kiểm định với giá trị p<0,05 được xem là có ý nghĩa về mặt thống
kê.
Trị số PR (Prevalence Ratio) và khoảng tin cậy 95% được dùng đo lường các
mối liên quan.
Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng phân phối và biểu đồ
minh họa.
8
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại 16 Trạm Y tế xã- thị trấn trong
huyện Bình Chánh, thời gian từ tháng 8/2008 đến hết tháng 12/2008. Chúng tôi
chọn vào mẫu 1.244 đối tượng nghiên cứu, tuổi từ 18 đến 60. Tất cả phụ nữ
được chọn đều đến tham gia nghiên cứu qua 2 đợt khám tại Trạm. Như vậy, có
1.244 phụ nữ đã được phỏng vấn, khám phụ khoa và làm phết tế bào cổ tử cung.
Kết quả nghiên cứu được trình bày như sau:
Biểu đồ1: Biểu đồ phân nhóm kết quả phết tế bào cổ tử cung
Nhận xét: Mẫu nghiên cứu có 19 trường hợp phết tế bào cổ tử cung bất
thường, chiếm tỷ lệ 1,53%, bao gồm 9 trường hợp ASC-US, 1 trường hợp
AGUS, 4 trường hợp LSIL, 1 trường hợp HSIL và 4 trường hợp ung thư tế bào
gai. 9
Mãn kinh
Số lần sanh
2 lần
>2 lần
Tt ctc hiện tại
Trơn láng
Có tổn thương
3 (2,34)
3 (0,81)
5 (1,25)
8 (2,32)
10 (1,8)
8 (1,6)
1 (0,5)
16(1,41)
3 (2,83)
6 (3,35)
12(1,24)
1 (1,02)
11(1,06)
8 (3,92)
8 (1,01)
11(2,45)
0,12-2,20
0,26-3,67 0,36-2,37
0,03-2,35 0,59-6,79 0,14-0,97
0,03-2,49 1,51-9,10 1,01-5,80 1,55-11,8 0,18
0,38
0,98 0,87
p
Tuổi
QHTD lần
đầu
<18
1 18-30
0,47
0,18-1,23
0,12
>30
0,38
0,04-3,16
0,37
Kinh
nguyệt
Còn kinh
1 Mãn kinh
3,65
1,33-10,01
0,012
Số lần sanh
2 con
1
thống kê với phết tế bào cổ tử cung bất thường trong nghiên cứu của chúng tôi
là tình trạng mãn kinh và cổ tử cung có tổn thương.
Huyện ngoại thành Bình Chánh là cửa ngõ phía Tây Nam thành phố Hồ Chí
Minh đi về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đây là huyện có diện tích lớn
nhất nhì thành phố, bao gồm 15 xã và 1 thị trấn.
Tại đây, hàng tháng Khoa Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản Huyện đều có kế
hoạch đi khám phụ khoa định kỳ miễn phí cho chị em phụ nữ, nhưng chưa thể
làm phết tế bào cổ tử cung định kỳ cho chị em vì không có nguồn kinh phí hỗ
trợ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang phụ nữ 18-60 tuổi đã có gia đình
hầu xác định tỷ lệ tế bào cổ tử cung bất thường và các yếu tố liên quan ở các đối
tượng này. Qua đó, chúng tôi sẽ cùng ngành Y tế và Chính quyền địa phương
lên kế hoạch cho việc vận động chị em phụ nữ đã có quan hệ tình dục đi khám
phụ khoa và làm phết tế bào cổ tử cung định kỳ bằng ý thức của chính mình,
ngay cả khi không được miễn phí. Có như vậy mới góp phần nâng cao sức khỏe
sinh sản cho phụ nữ nông thôn vốn đã có nhiều chênh lệch với phụ nữ thành thị.
Nghiên cứu của chúng tôi nhận được hỗ trợ nhiệt tình của Bệnh Viện Bình
Chánh, Khoa Sản Bệnh Viện Bình Chánh, Khoa Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản
Huyện Bình Chánh, Ủy Ban Dân Số Huyện, cán bộ y tế các xã cùng đội ngũ
cộng tác viên nhiệt tình, năng nổ. Ghi nhận có 100% phụ nữ tham gia vào
nghiên cứu. Chúng tôi không thể hoàn thành nghiên cứu nếu không được sự
giúp đỡ quí báu này.
12
Hiện nay, việc phết tế bào cổ tử cung bằng que Ayre rồi nhuộm theo phương
pháp Papanicolaou và phân loại theo hệ thống Bethesda vẫn là một xét nghiệm
đáng tin cậy để tầm soát ung thư cổ tử cung tại nước ta. Tầm soát ung thư cổ tử
cung không phải là vấn đề mới nhưng hiện nay vẫn là vấn đề thời sự.
10.112
625
625
1.126
1.244
1,21
2,24
1,44
6,04
1,53
Tất cả các nghiên cứu trên đều sử dụng que Ayre làm phết tế bào cổ tử cung,
lấy bệnh phẩm cổ ngoài và cổ trong, nhuộm theo phương pháp Papanicolaou.
Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường trong nghiên cứu chúng tôi (1,53%)
tương tự tác giả Phạm Thị Ngọc Xuân (1,44%). Có lẽ vì cùng là vùng nông thôn
lại gần gũi nhau về địa bàn, điều kiện sống, phong tục tập quán. nên 2 tỷ lệ này
cũng gần giống nhau.
Tỷ lệ của chúng tôi (1,53%) cao hơn của tác giả Nguyễn Chấn Hùng (1,22%),
có thể vì nghiên cứu này bao gồm cả thành phố Hồ Chí Minh còn nghiên cứu
13
của chúng tôi chỉ khu trú vùng nông thôn Bình Chánh, một phần nữa có thể là
do cỡ mẫu trong nghiên cứu chúng tôi chỉ bằng 1/10 cỡ mẫu của tác giả Nguyễn
Chấn Hùng, nên cùng nghiên cứu ở địa bàn là thành phố Hồ Chí Minh nhưng
kết quả cũng có khác nhau ít nhiều.
Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung của chúng tôi thấp hơn nhiều so với nghiên cứu
của tác giả Phan Hồng Vân và tác giả Huỳnh Văn Nhàn, có thể vì cùng là vùng
nông thôn nhưng 2 địa bàn này cách xa địa bàn chúng tôi, các yếu tố dịch tễ
cũng khác nhau nên kết quả đặc trưng cho từng nơi có sự khác biệt. Hơn nữa,
nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Nhàn tiến hành ở địa phương có nhiều dân
tộc ít người sinh sống, nơi đây với điều kiện sống thiếu thốn thường xuyên -
vùng Tây Saudi Arabia và thấp hơn các tác giả còn lại, đặc biệt là so với tác giả
El-Hakeem HA (có tỷ lệ bất thường là 7,9%). Các tác giả trên tiến hành nghiên
cứu tại các vùng khác nhau của Saudi Arabia, một đất nước cùng châu Á có
nhiều điểm tương đồng với chúng ta. So với nghiên cứu của chúng tôi cũng như
một số tác giả khác tại Việt Nam, tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường của 2
tác giả Fadwa J. Altaf và El-Hakeem HA là khá cao. Điều này cho thấy các
14
quốc gia thuộc lãnh địa Châu Á - các nước đang phát triển - tỷ lệ tiền ung thư và
ung thư cổ tử cung khá cao.
Tuổi, trình độ học vấn, hôn nhân
Trong nghiên cứu này phụ nữ có tuổi thấp nhất là 18 và cao nhất là 60.
Chúng tôi chọn giới hạn tuổi 18 vì luật pháp Việt Nam cho phép phụ nữ được
quyền kết hôn ở tuổi này. Tuổi trung bình của các đối tượng tham gia nghiên
cứu là 38,77. Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận tuổi trung bình của phụ
nữ có phết tế bào cổ tử cung bất thường là 41,3, người ít tuổi nhất là 24, người
cao tuổi nhất là 60.
Theo đánh giá của chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung của Trung
tâm Ung bướu cho phụ nữ TPHCM, ghi nhận tỷ lệ CIN và ung thư cổ tử cung
hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ học vấn của người phụ nữ. Trình độ học vấn
càng cao, tỷ lệ CIN và ung thư cổ tử cung càng thấp.
Nhóm phụ nữ mù chữ - cấp 1 trong mẫu nghiên cứu chiếm 45,7%. Đặc biệt,
vẫn còn có 54 phụ nữ mù chữ tập trung ở nhóm tuổi 46-60.
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 16 trường hợp phụ nữ đang chung
sống với chồng và 3 trường hợp phụ nữ ly dị, ly thân, góa có phết tế bào cổ tử
cung bất thường. Điều này cho thấy rằng không chỉ phụ nữ đang duy trì quan hệ
tình dục mới bị tiền ung thư - ung thư cổ tử cung mà cả những phụ nữ đã từng
có quan hệ tình dục đều có thể mắc bệnh.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, mối liên quan giữa tuổi, trình độ
Trong 19 phết tế bào cổ tử cung bất thường có 14 trường hợp cổ tử cung có
tổn thương. Sau khi phân tích hồi quy đa biến, chúng tôi ghi nhận những phụ nữ
tổn thương cổ tử cung có tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường cao
gấp 4,95 lần so với người cổ tử cung trơn láng (trong phân tích đơn biến là 4,27).
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,002; PR=4,95; khoảng tin cậy 95% là
1,79-13,70.
16
Có hai yếu tố liên quan đến phết tế bào cổ tử cung bất thường
là mãn kinh và cổ tử cung có tổn thương. Các mối liên quan này có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05.
Cùng thiết kế nghiên cứu, tác giả Mohammad Shoaib Khan(13) ở Pakistan
ghi nhận tình trạng kinh tế xã hội thấp, kết hôn sớm, sanh nhiều lần, nhiều bạn
tình là những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với phết tế bào cổ tử cung
bất thường.
Theo một nghiên cứu ở châu Mỹ Latinh, tỷ lệ ung thư và tử vong do ung thư
cổ tử cung liên quan với nghèo nàn, thu nhập kém, sống ở nông thôn và học vấn
thấp(14).
Năm 1992, tại Anh có 1.647 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung trong đó 95%
trên 35 tuổi. Trong 5 năm gần đây, những tổn thương tiền ung thư gần như được
phát hiện 100% nhờ vào việc thúc đẩy chương trình tầm soát. Tại nước này, phụ
nữ có tình trạng kinh tế xã hội thấp có tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn(5).
Phần lớn ung thư cổ tử cung được phát hiện muộn do việc tầm soát chưa trở
thành phổ biến, mạng lưới tầm soát chưa được mở rộng đến những phụ nữ có
nhiều nguy cơ: nghèo, kết hôn sớm, sanh nhiều
17
cung, sinh thiết, theo dõi và điều trị triệt để.
- Thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng để xác định các yếu tố liên quan đến
phết tế bào cổ tử cung bất thường.
1. Altaf JF (2001). Pattern of Cervical Smear Cytology in the Western Region
of Saudi Arabia. Ann Saudi Med; 21: 94-96.
2. Altaf JF(2006). Cervical cancer screening with pattern of Pap smear. Review
of multicenter studies, Saudi Med J; 10: 1498-1502.
3. Aristizabel N et al (1984). The impact of vaginal cytology on cervical cancer
risks in Cali, Colombia. International Journal of Cancer, 34, 5-9.
4. Camus CLG-; Phumaphi J(2006). Preface. Comprehensive Cercical Cancer
Control, WHO, 3-4.
5. Cervical screening Programme, England: 2006 – 2007
6. Dennis C (2007). Cervical Cancer. Cancer Management: A Multidisciplinary
Approach, 10th Edition. Chapter 20.
7. El-Hakeem HA, Al-Ghamdi AS, AL-Maghrabi JA (2005). Cytopathological
Pattern of cervical pap smear accordingto the Bethesda System in Southwestern
Saudi Arabia, Saudi Med J; 26: 588-592.
8. Ferlay J et al (2001). Cancer incidence mortality and prevalence
Worldwide. Version 1.0.IARC Cancer Base no.5.IARC Press, Lyon.
9. Frame PS, Frame JS (1998). Determinants of cancer screening frequency: the
example of screening for cervical cancer. Journal of the American Board of
Family practice,11: 87-95.
10. Huỳnh Văn Nhàn (2002). Tầm soát ung thư cổ tử cung trong cộng đồng dân cư
huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước. Luận văn thốt nghiệp Chuyên khoa II, Bộ môn
Sản Phụ khoa Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Jamal AA, Al-Maghrabi JA (2003). Profile of Pap smear Cytology in the
Western region of Saudi Arabia. Saudi Med J; 24: 1225-1229
12. Kenter GG et al (1996). The cytological screening history of 496 patients with