LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản
xuất kinh doanh nào, mỗi doanh nghiệp cần phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên
quyết, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Đất nước ta từ khi chuyển từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp được phép cạnh tranh
bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật cho phép. Tuy nhiên khi nền kinh tế
phát triển với tốc độ cao thì sự canh tranh giữa các ngành nghề ngày càng trở
nên gay gắt không chỉ trên thị trường trong nước mà còn trên thị trường quốc
tế. Trong điều kiện như vậy thì việc các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả
đồng vốn kinh doanh đóng vai trò quan trọng nhất khi thị trường vốn ngày
càng trở nên khan hiếm.
Thực trạng Vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nhìn chung
đều rất thiếu khi thị trường Vốn của Việt Nam chưa phát triển. Chính vì vậy
việc sử dụng vốn an toàn, hiệu qủa là vấn đề quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp trong tương lai.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề trên, sau 1 thời gian thực tập và
tìm hiểu thực tế tại Công ty Cơ khí Đông Anh em đã đi sâu nghiên cứu
Chuyên đề “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại
Công ty Cơ khí Đông Anh”. Trong phạm vi Chuyên đề cùng với sự nghiên
cứu, phân tích của mình, nội dung Chuyên đề tốt nghiệp của em bao gồm 3
phần:
Phần I: Tổng quan về Công ty cơ khí Đông Anh.
Phần II: Thực trạng về sử dụng Vốn kinh doanh tại Công ty Cơ khí
Đông Anh.
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Vốn
kinh doanh tại Công ty Cơ khí Đông Anh.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc Sỹ
1
Ngô Thị Việt Nga cùng sự quan tâm của ban lãnh đạo và các cán bộ, nhân viên
trong các phòng ban chức năng của Công ty Cơ khí Đông Anh đã tận tình giúp
Sản phẩm bi, đạn nghiền và tấm lót, vách ngăn, búa đập đá máy nghiền
xi măng năm 1999.
3
+ Huy chương vàng Hội chợ triển lãm Cơ khí - Điện tử - Luyện kim
Việt Nam năm 2002 cho sản phẩm phụ tùng nghiền xi măng (bi, đạn, tấm lót)
và sản phẩm giàn lưới không gian cho ngành xây dựng.
+ Cúp "Ngôi sao chất lượng" dành cho Doanh Nghiệp trẻ tiêu biểu tại
hội chợ triển lãm Cơ khí - Điện tử - Luyện kim năm 2002.
+ Cúp vàng Hà Nội trong hội chợ Doanh Nghiệp Việt Nam hướng tới
ngàn năm Thăng Long - Hà Nội cho sản phẩm giàn lưới không gian ngành
xây dựng vào ngày 03/01/2003.
+ Cúp vàng tại hội chợ triển lãm ngành Xây Dựng Việt Nam 2003 nhân
kỷ niệm 45 năm ngành Xây Dựng vào ngày 30/04/2003.
Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiêu chí: đó là:
Chất lượng - Kinh tế - Đúng hạn - An tâm.
Công ty cơ khí Đông Anh đã được tổ chức Quacert Việt Nam cấp chứng
nhận ISO 9001:2000 ngày 11/10/2003.
1.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
- Theo quyết định số 955/BK ngày 26/6/1963 của Bộ Kiến Trúc, Nhà
máy cơ khí Kiến Trúc Đông Anh được thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa:
“Xưởng sửa chữa công ty thi công cơ giới” và “Xưởng sửa chữa của đoàn cơ
giới thi công”
- Năm 1978 Nhà máy Kiến Trúc Đông Anh đổi tên thành Nhà máy cơ
khí xây dựng Đông Anh.
- Ngày 05/12/1989 theo quyết định số 1010/BXD-TCLĐ của Bộ Xây
dựng, Nhà máy cơ khí xây dựng Đông Anh đổi tên thành Nhà máy cơ khí và
đại tu ô tô máy kéo Đông Anh thuộc Liên hiệp các xí nghiệp thi công cơ
giới (LICOGI), Bộ Xây dựng.
- Ngày 20/01/1995 theo quyết định số 998/BXD-TCLĐ của Bộ Xây
dựng, Nhà máy cơ khí và đại tu ô tô máy kéo Đông Anh được đổi tên thành
- Phòng hành chính: Có chức năng sắp xếp, giải quyết các công việc về
thiết bị văn phòng phẩm, chăm sóc hệ thống cảnh quan, cây xanh toàn Công
ty, làm công việc khánh tiết cho các hội nghị, cuộc họp của Công ty, tổ chức
nấu ăn ca cho khối văn phòng.
- Phòng tổ chức: Có chức năng sắp xếp, quản lý lao động, tham mưu cải
tiến tổ chức.
- Phòng Tài vụ: Có chức năng tham mưu trong các công việc về tài
chính kế toán, hạch toán kinh tế, quản lý và huy động vốn.
5
- Phòng kinh tế kế hoạch: Có chức năng tham mưu trong công tác lập kế
hoạch, phương án kinh doanh, xây dựng định mức lao động.
- Phòng xuất nhập khẩu: Có chức năng thực hiện và xúc tiến công tác
quảng bá thương hiệu CKĐA ra thế giới, xuất nhập khẩu các sản phẩm, vật tư
của Công ty.
- Phòng kỹ thuật: Có chức năng tham mưu về kỹ thuật các công trình,
thiết kế bản vẽ, tính toán khối lượng,…
- Phòng điều độ sản xuất: Có chức năng điều tiết các hoạt động sản xuất
theo yêu cầu của tiến độ công việc.
- Phòng thiết bị: Có chức năng quản lý toàn bộ các thiết bị, máy công
cụ, hệ thống điện của Công ty.
- Phòng KCS: Có chức năng kiểm tra chất lượng đáp ứng các yêu cầu
kỹ thuật toàn bộ các sản phẩm của Công ty trước khi đưa ra thị trường.
- Phòng luyện kim: Có chức năng lập và kiểm soát công nghệ đúc.
- Phòng bảo vệ: Có chức năng đảm bảo an ninh và an toàn tài sản trong
Công ty.
- Trung tâm nghiên cứu và phát triển Cơ Khí Xây Dựng: Có chức năng
nghiên cứu, ứng dụng, kiểm định cơ khí xây dựng.
Việc tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cơ Khí Đông Anh hoàn toàn
phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo được tính thống nhất trong quản lý và
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Trong quá trình hoạt
Đúc I
QĐ .PX
CNC
T. Phòng TN
&KCS
T. P
K.Thuật
QĐ.
PX
SCĐT
T. P
Vật tư
T. P
Kinh tế
Kho Nhập
V.tư
Tiếp
thị
Giao
hàng
Tổ kế
toán
Kho
VT,SP
Cung
ứngVT
Bán
hàng
ĐC.PX
Đùn ép
Nội Chính
Tuyến 1.2
ĐC.PX
SC
Khuôn
7
3.2. Cơ cấu sản xuất kinh doanh của Công ty
Hiện nay tổ chức sản xuất và kinh doanh của Công ty bao gồm :
- Nhà máy Nhôm Đông Anh: Có chức năng sản xuất, bán hàng, lắp ráp
các cấu kiện nhôm thanh định hình.
- Công ty Liên doanh khu công nghiệp Thăng Long: Có chức năng
cùng đối tác SUMITOMO duy trì hiệu quả công tác kinh doanh cho thuê khu
công nghiệp Thăng Long.
- Phân xưởng Cơ khí: Có chức năng gia công các chi tiết cơ khí.
- Phân xưởng Cơ điện: Có chức năng duy trì hoạt động bình thường của
hệ thống điện, nước toàn Công ty; sửa chữa bảo dưỡng các máy công cụ.
- Phân xưởng CNC: Có chức năng gia công các chi tiết cơ khí chính xác
cao trên máy CNC.
- Phân xưởng Đúc 1: Có chức năng sản xuất các sản phẩm Đúc phụ
tùng theo đơn đặt hàng.
- Phân xưởng Đúc 2: Có chức năng đúc bi đạn nghiền và các chi tiết
nhỏ, hàng loạt.
- Phân xưởng Kết cấu: Có chức năng gia công, chế tạo, lắp dựng các
giàn không gian và các kết cấu cơ khí khác.
- Phân xưởng nhiệt luyện: Có chức năng nhiệt luyện, hoàn chỉnh các
sản phẩm Đúc, cơ khí theo yêu cầu kỹ thuật.
- Cửa hàng Xăng Dầu: Có chức năng kinh doanh bán lẻ xăng, dầu.
- Chi nhánh bán hàng Hà Nội: Có chức năng quảng bá thương hiệu, bán
sản phẩm tại khu vực Hà Nội.
- Chi nhánh bán hàng TP Hồ Chí Minh: Có chức năng quảng bá
Mặt hàng truyền thống lâu năm của Công ty là: bi đạn nghiền và các
loại phụ tùng máy nghiền xi măng
Có thể khái quát quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm bi, đạn
nghiền và phụ tùng như sau: (Sơ đồ 2)
9
Sơ đồ 2: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẢN PHẨM ĐÚC
TRUYỀN THỐNG
Không đạt
- Cơ sở vật chất:
Chuẩn bị hỗn
hợp cát
Chuẩn bị
khuôn mẫu
Chuẩn bị
nguyên vật liệu
Rót vào khuôn
KT2
Không đạt
Nấu luyện
KT3
KT1
Không đạt
Làm khuôn
Đạt
Đạt
Tách vật đúc, cát
ra khỏi khuôn
Phân loại
Tái sinh
Trong 3 năm trở lại đây, do Công ty mới thành lập "Nhà máy Nhôm"
hạch toán phụ thuộc, sản xuất mặt hàng mới "Nhôm định hình chất lượng
cao". Vì đầu tư lớn, và sản xuất mặt hàng mới nên kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của Nhà máy Nhôm nói riêng và của toàn Công ty nói chung là
không được khả quan. Điều này được thể hiện rõ nét qua Bảng 1.
Bảng 1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY
( ĐVT: 1 000 đ)
STT CHỈ TIÊU Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
1 Tổng doanh thu 131 230 535 141 795 964 203 600 461
2 Các khoản giảm trừ 2 009
3 Doanh thu thuần 131 230 535 141 795 964 203 598 452
4 Giá vốn hàng bán 113 772 992 123 844 721 196 892 062
5 Lợi nhuận gộp 17 457 543 17 951 243 6 706 390
6 DT hoạt động tài chính 726 068 153 124 31 268 107
7 Chi phí tài chính 3 664 007 4 831 835 21 324 656
Trong đó : Lãi vay phải trả 3 664 007 4 831 835 21 324 656
8 Chi phí bán hàng 1 471 129 1 881 096 4 281 988
9 Chi phí quản lý DN 9 240 977 9 161 818 10 452 823
10 LN thuần từ hoạt động KD 3 807 498 2 229 618 1 915 030
11 Thu nhập khác 247 138 362 407 1 096 764
12 Chi phí khác 51 392
13 Lợi nhuận khác 247 138 362 407 1 045 372
14 Tổng LN trước thuế 4 054 636 2 592 025 2 960 402
15 Thuế thu nhập DN phải nộp 1 135 298 725 767
16 Lợi nhuận sau thuế 2 919 338 1 866 258 2 960 402
Năm 2005 Doanh thu thuần của Công ty đạt 203.600.461.000đ tăng so
với cùng kỳ 2003 và 2004. Tuy nhiên cùng với sự tăng lên của doanh thu thì
giá vốn hàng bán và các khoản chi phí cũng tăng lên, từ đó trực tiếp làm cho
lợi nhuận gộp năm 2005 đã giảm đi so với năm 2004 là 11.244.853.000đ, và
so với năm 2003 là 10.751.153.000đ. Trên thực tế, do thị trường tài chính có
Lan, Canada, Hàn Quốc, Ý, Mỹ… với doanh thu hàng chục tỷ đồng trên năm
và được các bạn hàng đánh giá cao.
12
Công ty đã xây dựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên trẻ, nhiệt tình,
giàu tính năng động sáng tạo gắn bó với Công ty, tất cả đã tạo nên 1 động lực
từ bên trong làm nên sức mạnh tập thể to lớn giúp Công ty đứng vững và ngày
càng phát triển đáp ứng được yêu cầu đòi hởi ngày càng cao của nền kinh tế thị
trường.
- Những khó khăn trong sản xuất kinh doanh
Khó khăn đầu tiên phải kể đến là khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh.
Cũng như bao nhiêu Doanh Nghiệp Nhà Nước khác khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường Công ty không còn được bao cấp về vốn như trước đây mà chỉ
được Nhà Nước cấp 1 lần và được cấp bổ sung thêm khi được giao thêm
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Hiện nay nhu cầu vốn của Công ty rất lớn mà
nguồn tài trợ lại có hạn. Tình trạng thiếu vốn đã làm cho Công ty thiếu tính
chủ động, lúng túng và gặp không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thực tế một số năm gần đây vốn tự có của Công ty chiếm tỷ trọng
nhỏ, Công ty phải đi vay nợ nhiều. Việc vay nợ lớn đã làm cho chi phí sử
dụng của Công ty tăng lên từ đó trực tiếp đã làm giảm đi hiệu quả sử dụng
vốn.
Mặt khác lĩnh vực hoạt động của Công ty là các sản phẩm phục vụ cho
các ngành sản xuất xi măng, ngành xây dựng… tuy có thị phần cao nhưng có
rất nhiều đối thủ cạnh tranh cả trong và ngoài nước như Trung Quốc, Đài
Loan… Bên cạnh đó Công ty sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng do vậy quy
mô sản xuất còn chưa ổn định, năng suất lao động còn chưa cao.
Do Công ty vừa đầu tư dây chuyền sản xuất Nhôm định hình chất lượng
cao, vì đây là sản phẩm mới của Công ty nên thị trường tiêu thụ còn hạn chế,
mà trên thị trường lại có rất nhiều nhà cung cấp sản phẩm này. Đây chính là
khó khăn thách thức lớn đối với Công ty trong thời gian tới.
13
nghiệp.
- Các yếu tố khác: Khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ
bão đã dẫn đến hao mòn vô hình của tài sản cố định, làm cho giá trị trao đổi
và giá trị sử dụng của tài sản cố định giảm đi tương đối. Đây là nguyên
nhân quan trọng nhất dẫn đến thất thoát vốn cố định, vì vậy ảnh hưởng trực
tiếp đến vấn đề bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
trong doanh nghiệp. Do những rủi ro bất thường xảy ra trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như thay đổi môi trường chính
trị, do thiên tai, dịch hoạ… mà doanh nghiệp không lường trước được. Ngoài
ra những rủi ro như thị trường không ổn định, thị hiếu của người tiêu dùng
thay đổi… Tất cả những yếu tố trên đều ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng, bảo
toàn và phát triển vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2. Nhóm nhân tố chủ quan
- Việc xác định nhu cầu, cơ cấu vốn kinh doanh cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp chưa chính xác, cơ cấu phân bổ vốn giữa các
khâu chưa hợp lý làm cho khâu thì thừa vốn, khâu lại thiếu vốn dẫn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh không đồng bộ, bị gián đoạn đã trực tiếp làm hiệu
quả sử dụng vốn thấp. Do việc lựa chọn cơ cấu nguồn vốn không phù hợp với
tình hình thực tế tại doanh nghiệp, việc lựa chon các nguồn tài trợ không hợp
lý như chi phí sử dụng vốn cao, không đảm bảo an toàn về mặt tài chính…
Tất cả những yếu tố trên đều trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật:
Do đầu tư mua sắm tài sản cố định như máy móc thiết bị không đồng bộ,
không phù hợp với tình hình thực tế, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp như hiện đại hơn hay lạc hậu quá so với trình độ của doanh nghiệp …
đã dẫn đến làm thất thoát vốn cố định của doanh nghiệp. Mà trong quá trình
15
sử dụng, doanh nghiệp không chấp hành các quy phạm kỹ thuật, không bảo
dưỡng thường xuyên… làm cho thời gian sử dụng và công suất hoạt động của
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn
lưu động
Lãi ròng
16
Vốn lưu động b.quân trong kỳ tính toán
Vốn lưu động bình quân trong kỳ tính toán chính là giá trị bình quân của vốn
lưu động có ở đầu và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo
ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Vòng luân chuyển vốn lưu động
Vòng luân chuyển vốn
lưu động
Tổng doanh thu
Vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết Vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ.
- Suất hao phí Tài sản cố định
Suất hao phí
Tài sản cố định
Giá trị còn lại tài sản cố định
Lãi ròng
3. THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CƠ
KHÍ ĐÔNG ANH
3.1. Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của Công ty cơ khí Đông Anh
Trước hết ta xem xét cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty trong
năm vừa qua như sau:
17
Bảng 2: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TS VÀ NV CỦA CÔNG TY CKĐANĂM 2004 VÀ 2005.
Chỉ tiêu
2 004 2 005 Chênh lệch
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
503.314.581.000đ, so với năm 2004 là
472.117.658.000 đ, tăng 31.196.923.000 đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 6,61%.
Trong đó tài sản ngắn hạn là 175.666.440.000 đ chiếm tỷ trọng 34,90%, tài
sản dài hạn là 327.654.141.000 đ chiếm tỷ trọng 65,1%.
Xét cơ cấu từng loại ta thấy:
+ Tài sản ngắn hạn 2004 chiếm tỷ trọng là 31,49%, 2005 là 34,90%.
+ Tài sản dài hạn 2004 chiếm tỷ trọng là 68,51%, 2005 là 65,10%.
Như vậy trong năm 2005 Công ty đã đầu tư vào tài sản ngắn hạn và
giảm tỷ trọng đầu tư vào tài sản dài hạn điều này đã tạo điều kiện cho quy mô
sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng mở rộng. Tuy nhiên Công ty cơ
khí Đông Anh là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vì vậy việc giảm tỷ
trọng đầu tư vào tài sản dài hạn có được xem là điều bất hợp lý của doanh
nghiệp trong quá trình quản lý vốn cố định không? Xét năm 2004, do Công ty
đang tiến hành xây dựng nhà xưởng và nhà làm việc của Nhà máy Nhôm,
chính điều này đã làm cho chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng cao. Nhưng
về cuối năm 2005 do các hạng mục đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng
nên đã làm cho chi phí chi phí xây dựng dở dang giảm mạnh (Từ
118.173.252.000đ xuống 4.111.450.000đ). Điều đó đã làm giảm bớt lượng vốn
bị ứ đọng trong khâu này để đưa vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, nên đây không phải là sự bất hợp lý của Công ty trong quá trình quản
lý vốn cố định.
Để thấy rõ hơn ta đi xem xét tình hình tổ chức vốn kinh doanh của
Công ty trong năm vừa qua thông qua số liệu Bảng 2 và Bảng 3.
20
Bảng 3: CƠ CẤU NỢ NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY NĂM 2004 VÀ 2005
(ĐVT: 1 000 đ)
Chỉ tiêu 2004 2005 Chênh lệch
Số tiền
Tỷ trọng
%
So với năm 2004 nợ ngắn hạn đã tăng lên 25.988.422.000đ tương ứng
với tỷ lệ tăng 16,04%. Việc nợ ngắn hạn tăng lên là do chủ yếu là do người
mua trả tiền trước tăng 17.021.839.000đ ứng với tỷ lệ tăng 438,67% đồng thời
với việc tăng lên của các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn thanh toán như
Phải trả CNV, chi phí phải trả, các khoản phải trả phải nộp khác… Những
khoản nợ ngắn hạn nói trên tăng là hoàn toàn hợp lý khi mà quy mô sản xuất
kinh doanh của Công ty ngày càng mở rộng và đây là những khoản vốn mà
doanh nghiệp đi chiếm dụng được không phải trả lãi (Chưa đến hạn thanh
toán). Vì vậy Công ty cần tận dụng khai thác tối đa khoản này.
Về nợ dài hạn mà chủ yếu là do vay và nợ dài hạn tăng lên đã làm cho
nợ dài hạn năm 2005 là 128.612.843.000đ so với năm 2004 là
126.307.313.000đ tăng 2.305.530.000đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 1,83%.
Như vậy, trong năm vừa qua Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh chủ yếu bằng nợ phải trả (Chiếm 62,92%) mà trong đó chiếm phần lớn
là nợ ngắn hạn (59,38%).
- Đối với nguồn vốn chủ sở hữu: tính đến thời điểm 31/12/2005 tổng
nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty là 186.652.291.000đ chiếm tỷ trọng
37,08% tăng so với năm 2004 (183.749.320.000đ) là 2.902.671.000đ tương
ứng với tỷ lệ tăng 1,58%. Trong nguồn vốn chủ sở hữu, tổng vốn đầu tư của
chủ sở hữu là không thay đổi trong đó vốn ngân sách là 15.028.100.000đ
chiếm 57,81% và nguồn vốn tự bổ sung là 10.996.065.000đ chiếm 42,19%.
Trong kỳ tổng vốn chủ sở hữu tăng lên không nhiều nhưng cũng đã chứng tỏ
22
Công ty đã rất cố gắng trong việc huy động nguồn vốn từ bên trong vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm tăng khả năng tự chủ về mặt tài chính cho
Công ty.
Qua số liệu trên, trong năm 2005 vừa qua tổng nguồn vốn của Công ty
đã tăng lên nhưng chủ yếu là do sự tăng lên của các khoản nợ phải trả (Từ
61,08% ÷62,92%), việc tăng này là hợp lý khi quy mô kinh doanh của Công
ty ngày càng mở rộng, tuy nhiên kéo theo đó là rủi ro về mặt tài chính là rất
toán tức thì của Công ty kém, làm rủi ro về tài chính tăng lên. Tuy nhiên xét
theo khía cạnh khác thì mô hình tài trợ này cũng có ưu điểm là do đi vay ngắn
hạn nên lãi suất vay nhỏ hơn lãi suất vay dài hạn, và việc dùng chính sách tài
trợ này giúp Công ty tiết kiệm được 1 phần chi phí sử dụng vốn, tăng tính linh
hoạt trong cơ cấu nguồn vốn cho Công ty.
Số liệu Bảng 3 cho thấy:
+ Nợ ngắn hạn tại thời điểm 2004 chiếm tỷ trọng 56,20%, năm 2005 là
59,38%
+ Nợ dài hạn tại thời điểm 2004 chiếm tỷ trọng là 43,80%, năm 2005 là
40,62%
Trong tổng nợ phải trả, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn điều này đã ảnh
hưởng đến cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty trong năm vừa qua, thể
hiện chi tiết qua số liệu của Bảng 3.
Tính đến thời điểm 31/12/2005 Tổng nợ ngắn hạn đã tăng so với năm
2004 là 25.988.422.000đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 16,04%. Trong đó:
- Vay và nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất (68,38%) trong tổng số
nợ ngắn hạn. So với năm 2004 đã tăng lên 7.786.576.000đ tương ứng với tỷ lệ
tăng 6,45%. Sự tăng lên này cho ta thấy sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nợ
vay đã làm cho Công ty giảm đi tính chủ động trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Mặt khác đặc điểm của nguồn vốn vay là phải trả tiền lãi vay và vốn
24
gốc đúng kỳ hạn nên đã tạo áp lực lớn cho Công ty trong việc thanh toán các
khoản nợ. Bên cạnh đó việc vay nợ lớn nên hệ số nợ của Công ty tăng cao,
một mặt ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán mặt khác làm cho lãi tiền
vay phải trả tăng, trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm kéo theo làm giảm lợi
nhuận thu được của Công ty.
- Khoản phải trả cho người bán tại thời điểm cuối năm 2005 là
22.532.221.000đ chiếm tỷ trọng 11,98% đã giảm so với năm 2004 là
1.394.688.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm 5,83%. Chứng tỏ trong năm vừa qua
Công ty đã hạn chế bớt việc sử dụng tín dụng thương mại của nhà cung cấp.