Tài liệu ôn thi môn Lý luận văn hóa - Pdf 25

Câu 1 : “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát
triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng
tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối
sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng, xã hội” ( Đảng
Cộng sản Việt Nam - văn kiện ĐH IX – Trang 104). Vận dung lý luận văn hóa
và đường lối văn hóa của Đảng, đồng chí hãy làm rõ vai trò của văn hóa đối
với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ?
Bài làm
Hiện nay, nước ta đang tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa triệt
để trên mọi lĩnh vực nhằm mục tiêu đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và vững
chắc cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội, tiến tới xây dựng thành công CNXH. Để
thực hiện thành công sự nghiệp ấy, yếu tố con người luôn đóng vai trò quyết định.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng, như chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói “Muốn có CNXH, phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Như
vậy, rõ ràng trong quá trình xây dựng đất nước, việc xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa phải được thực hiện đồng thời với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Bàn về việc xây dựng phát triển nhân cách con người, nhất định phải nói tới văn
hóa. Văn hóa là do con người gieo trồng nên nhưng đồng thời hệ thống giá trị văn
hóa lại góp phần vào giáo dục và tự giáo dục con người. Trong văn kiện Đại hội
Đảng khóa IX, nói đến vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, văn kiện đã chỉ rõ: “Mọi hoạt động văn hóa
nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí
tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái,
khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia
đình, cộng đồng, xã hội”
I. Bản chất, khái niệm của văn hóa
Khái niệm: Thuật ngữ văn hóa xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và
cho đến nay văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. Song,
có thể định nghĩa văn hóa như sau : văn hóa là hoạt động tinh thần nhằm phát huy
những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người để sáng tạo ra các giá trị vật
chất và tinh thần dựa trên các chuẩn mực : chân, thiện, mỹ nhằm duy trì sự tồn tài

tại trong các sản phẩm vật thể hay phi vật thể, cái làm nên nội dung của nó chính các giá trị.
Năm là văn hóa bao giờ mang tính nhân sinh, văn hoá luôn hiện diện với tư cách là
thuộc tính chỉ có riêng và vốn có của riêng con người, chỉ có con người mới sáng tạo văn hóa và
hoàn thiện mình thông qua môi trường văn hóa,
Sáu là văn hóa mang tính phái sinh
Bảy là trong xã hội có giai cấp, văn hóa bao giờ cũng mang tính giai cấp. Là phương
thức sản xuất của tinh thần, văn hóa không thể không phản ánh và không chịu sự qui định của
phương thức sản xuất vật chất. Điều kiện sinh hoạt vật chất của các giai cấp khác nhau, làm nảy
sinh những tư tưởng, tình cảm khác nhau
Để hiểu rõ bản chất của văn hóa, cần phải thấy rằng văn hóa là do con
người sản sinh ra. Cũng như mọi sinh thể trong vũ trụ, con người là một bộ phận
của tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của tự nhiên, nhưng khác với các sinh vật
khác, con người chỉ trở thành con người khi tạo ra thiên nhiên thứ 2 của mình bằng
lao động và tri thức : đó chính là văn hóa. Chính trong quá trình phát huy những
năng lực bản chất để cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và thông qua đó cải biến
chính bản thân, con người đã sáng tạo ra văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”
Như vậy con người là chủ thể của văn hóa, tuy nhiên qua hoạt động văn
hóa, con người đồng thời cũng trở thành sản phẩm của văn hóa. Nếu tự nhiên là
cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó, toàn bộ
đời sống tinh thần của con người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển.
Như vậy, văn hóa chính là phương thức để con người tồn tại và phát triển, là cách
thức để con người tách mình ra khỏi động vật. Con người không thể tồn tại nếu
tách rời tự nhiên, cũng như vậy, con người không thể trở thành con người nếu tách
rời môi trường văn hóa.

hiện tại và tương lai; nhận thức nhiều không gian từ dân tộc đến quốc tế. Văn hóa
là thông điệp giữa các thế hệ, là chiếc cầu hữu nghị giữa các dân tộc.
Ngày nay, trong điều kiện tiến bộ của khoa học và công nghệ, xu hướng ngày
càng tăng của quốc tế hóa đời sống xã hội đòi hỏi nhiều ở chức năng nhận thức
của văn hóa. Vì vậy, khẳng định rằng, việc phát huy chức năng nhận thức của văn
hóa làm một động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển trút ngắn
khoảng cách giữa các nước chậm phát triển và phát triển. Nói đến chức năng này,
không thể quên giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Cố nhiên chức năng
nhận thức có mặt trong bất kỳ một hoạt động văn hóa nào - những hoạt động văn
hóa tác động trực tiếp tới trí tuệ, có tác dụng mở mang và nâng cao dân trí. Từ
những kinh nghiệm đúc kết trong lịch sử dân tộc và thế giới, Đại Hội VIII Đảng ta
đã chỉ rõ: “ giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Bằng
nhiều hình thức đa dạng bảo đảm cho mọi người được học, nhất là người nghèo và
con em các gia đình chính sách” (văn kiện ĐH Đảng bộ lần thứ VIII, NXB CTQG
Hà Nội 1996 - trang 29). Nâng cao nhận thức của con người là phát huy những
tiềm năng của con người. Bước đầu hoàn thiện con người hoàn thiện xã hội.
- Chức năng thứ hai của văn hóa là chức năng giáo dục. Đây là chức năng
quan trọng nhất vì nhờ đó mà dòng chảy lịch sử không bị đứt đoạn. Nói đến giáo
dục là nói đến việc định hướng xã hội, định hướng lý tưởng đạo đức và điều chỉnh
hành vi của con người hướng vào điều hay lẽ phải, theo đúng những chuẩn mực xã
hội. Chức năng giáo dục của văn hóa thể hiện qua những giá trị tích cực của nó
(được cố định dưới dạng ngôn ngữ, biểu tượng, hình tượng, phong tục, tập quán,
nghi lễ ) tác động to lớn và mạnh mẽ vào việc hình thành nhân cách của con
người, sự phát triển toàn diện của con người thông qua việc chuyển tải những tri
thức, kinh nghiệm, kỹ năng, công thức ứng xử của cộng đồng đến với cá nhân.
Không có hình thức nào có thể thay thế và hiệu quả hơn các hoạt động văn hóa,
các tác phẩm văn học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, nhận
thức đúng đắn và tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con
người. Sức mạnh và hiệu quả giáo dục của văn hóa là ở chỗ nó huy động được
toàn bộ các năng lực tinh thần của con người, và tác động tới chỗ sâu kín nhất của

triển ồ ạt con người TBCN, nhiều nhà văn hóa đã dự báo thảm cảnh sẽ xảy ra đối
với nhân loại như: sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ, sự ô nhiễm bầu khí quyển và sự
hài hòa của con người và tự nhiên bị mất đi… và ngày nay đã trở thành sự thật hiển
nhiên của cuộc sống
1
- Chức năng giải trí : Đến với văn hóa nghệ thuật là để thỏa mãn những sở
thích cá nhân, để tìm niềm vui tinh thần, giải tỏa những căng thẳng sau thời gian
lao động. Do vậy, văn hóa còn có chức năng giải trí, tạo điều kiện cho sự phát
triển của con người. Chức năng này không tách rời chức năng giáo dục. Nếu hiểu
giải trí một cách tích cực thù nhu cầu giải trí không những có ý nghĩa bù đắp lại
sức lao động đã mất đi mà còn phát triển những năng khiếtu văn hóa, nghệ thuật
tiềm tàng và bẩm sinh ở mỗi con người. Ở một mức độ nào đó, sự giải trí bằng văn
hóa tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện con người. Với ý nghĩa đó, chức năng
giải trí của văn hóa không tách rời với chức năng giáo dục và hoàn thiện con
người.
3. Những nhiệm vụ để thực hiện tư tưởng trên của Đảng
Từ các chức năng của văn hóa, ta thấy rằng văn hóa có vai trò quan trọng đối
với việc xây dựng con người mới : phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo
đức, năng lực thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái,
khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia
đình, cộng đồng, xã hội
Vai trò ấy càng có ý nghĩa quan trọng, nhất trong tình hình hiện nay, khi nước
ta đang thực hiện chính sách mở cửa và phát triển nền kinh tế thị trường thì tác
động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và mặt trái của kinh tế thị trường đang
có những ảnh hưởng sâu sắc đến các giá trị, chuẩn mực xã hội và con người Việt
Nam. Đó là những hiện tượng suy thoái đạo đức, đặc biệt là nạn tham nhũng, hối
lộ, buôn lậu, gian lận thương mại, mua bằng, bán điểm, mua bán chức quyền trước
sự tấn công của thói ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, sức mạnh đồng
tiền và chủ nghĩa thực dụng. Đó là trạng thái dao động, hoài nghi, giảm sút niềm
tin, phai nhạt lý tưởng ở một bộ phận đảng viên, cán bộ, kể cả một số cán bộ trung,

10- Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa :
c. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 đòi hỏi phải nghiêm túc
thực hiện 10 nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra. Lần này Ban Chấp hành Trung ương
thấy cần nhấn mạnh ba nhiệm vụ trọng tâm, coi đó là khâu đột phá để tiến lên làm
tốt các nhiệm vụ khác. Ðó là:
1- Nhiệm vụ hàng đầu vẫn là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và
đời sống văn hóa lành mạnh. Ðây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, vừa cấp bách,
vừa cơ bản, lâu dài. Ðể làm tốt nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất
là cán bộ chủ chốt, phải nghiêm chỉnh thực hiện cuộc vận động lớn về xây dựng
đạo đức, lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng công tác xây
dựng, chỉnh đốn Ðảng và cải cách hành chính, phát triển văn hóa trong Ðảng,
trong Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Kiên quyết đưa những phần tử
thoái hóa, biến chất ra khỏi tổ chức đảng và cơ quan Nhà nước.
2- Chăm lo xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính đã được Nghị
quyết Trung ương 5 xác định; hình thành những chuẩn mực, những tiêu chí cụ thể
phù hợp với từng ngành, giới; không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, trình
độ nghiệp vụ và đạo đức, lối sống cho mỗi công dân; coi trọng bồi dưỡng trong
thanh thiếu niên lòng yêu nước, ý thức sáng tạo, tinh thần dân chủ, biết sống và
làm việc với mọi người và thế giới hiện đại.
3- Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển môi trường văn hóa
cộng đồng lành mạnh, phong phú đi đôi chăm sóc, phát huy các tài năng văn hóa,
nghệ thuật, tạo được nhiều công trình có giá trị.
Tóm lại : Xuất phát từ vai trò to lớn của văn hoá trong việc bồi đắp thế giới
tinh thần của con người hướng tới Chân- Thiện- Mỹ, Đảng ta đã khẳng định “Mọi
hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về
chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng
đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ
hài hòa trong gia đình, cộng đồng, xã hội”. Nhận thức đúng vai trò của văn hóa,
chúng ta càng thấy rằng văn hoá phải nằm trong sự quan tâm thường xuyên của các

Nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người
nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội. Để đi đến một định nghĩa về văn hóa, cần thiết phải
hiểu mối quan hệ tương tác giữa con người và văn hóa. Trước hết, chính con người đã sáng tạo ra
văn hóa. Chính trong quá trình phát huy những năng lực bản chất để cải biến tự nhiên, cải biến xã
hội và thông qua đó cải biến chính bản thân, con người đã sáng tạo ra văn hóa. Văn hóa là phương
thức để con người tồn tại và phát triển, là cách thức để con người tách mình ra khỏi giới động vật.
Vì vậy khái niệm văn hóa luôn chứa đựng nội dung nhân văn, nhân bản. Thứ hai, hoạt động văn
hóa sáng tạo ra con người; nói cách khác, con người là sản phẩm của văn hóa. Bởi chỉ trong xã hội
loài người mới có khái niệm văn hóa và hoạt động văn hóa; văn hóa phản ảnh về môi trường sống
hay là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và với con người, cộng đồng; mặt
khác con người chỉ có thể tồn tại đúng bản chất người ở ngay trong xã hội loài người và chính văn
hóa là môi trường tạo nên nhân cách con người. Thứ ba, nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị. Dù
tồn tại dưới dạng các sản phẩm vật thể hay phi vật thể, cái làm nên nội dung văn hóa của chúng
chính là các giá trị. Đó là các giá trị được tạo ra từ các hoạt động khoa học, đạo đức và nghệ thuật và
các hoạt động đó luôn hướng tới sự hoàn hảo của 3 giá trị: Chân, Thiện và Mĩ. Tóm lại, Văn hóa là
hoạt động tinh thần nhằm phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người để sáng
tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần dựa trên các chuẩn mực: chân, thiện, mỹ nhằm duy trì sự tồn
tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội. Văn hóa cũng là hoạt động nhằm tạo ra những
giá trị những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ 2, cái nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách
con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,
khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hóa.” Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi sự sinh tồn.
Trong khái niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã miêu tả văn hóa bằng những
thành tố của nó. Người đã nhìn văn hóa được xem là phương thức để con người tồn
tại và phát triển, nhấn mạnh đến mối quan hệ biện chứng giữa “sản sinh” văn hóa

Đời sống xã hội có hai mặt: vật chất và tinh thần. Nếu kinh tế là nền tảng vật
chất của đời sống xã hội, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội có nghĩa là văn hóa góp phần tạo nền móng của xã hội. Nền
2
móng có vững chắc thì sự phát triển của đất nước mới lành mạnh. Nói văn hóa là nền
tảng tinh thần có nghĩa là coi văn hóa là tổng thể các giá trị, các tiềm năng sáng tạo
của đất nước. Muốn phát triển cần phải dựa vào các giá trị đó, cần khai thác và phát
huy các giá trị đó. Thông qua thực tế kiểm nghiệm, Đảng ta chỉ ra rằng: Văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội; văn hóa thể hiện sức sống, sức sáng tạo phát triển và
bản lĩnh của một dân tộc.
Văn hóa là nền tảng tinh thần, đòi hỏi phải đặt văn hóa vào vị trí quan trọng.
Cũng như kinh tế tạo nên giá trị vật chất, nền tảng vật chất và nền tảng tinh thần tạo
những điều kiện cần và đủ để xã hội tồn tại và phát triển. Thiếu điều kiện vật chất thì
không có sự tồn tại của con người, nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không
thể phát triển được. Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử, cơ sở vật chất và
tinh thần thường xuyên thấm lẫn vào nhau và hỗ trợ lẫn nhau. Chừng nào nền tảng
tinh thần suy yếu, chừng đó xã hội sẽ lâm vào khủng hoảng, các tệ nạn xã hội xuất
hiện và sự phát triển kinh tế sẽ gặp khó khăn.
Mỗi một quốc gia, dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển, cải tạo tự
nhiên, lao động sản xuất, tổ chức xã hội … đã hình thành và tích lũy một hệ thống
những kinh nghiệm, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mỗi dân tộc, và nhân loại trong quá trình hình thành và phát triển cho mình
những giá trị xã hội, những truyền thống, chuẩn mực xã hội. Giá trị là kết quả hoạt
động sáng tạo của con người và nó được coi là giá trị có ý nghĩa được cộng đồng
khẳng định, bảo vệ, có vai trò liên kết cộng đồng và định hướng cho hoạt động của
cộng đồng. Còn chuẩn mực xã hội là sự cụ thể hóa giá trị những quy định nhằm điều
chỉnh hành vi ứng xử của con người. Chuẩn mực đạo đức thông qua xã hội tác động
đến lương tâm, không bị phát luật điều chỉnh nhưng qua dư luận xã hội tác động làm
điều chỉnh những hành vi ấy đúng chuẩn mực của xã hội.
- Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH.

Trong thời đại ngày nay, một đất nước giàu hay nghèo không phải có nhiều
hay ít lao động và tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là do có khả năng phát huy tiềm
năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong
các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là nằm trong sự hiểu biết, tâm hồn, đạo lí, lối
sống, thị hiếu, trình độ thẩm mĩ của mỗi cá nhân và cộng đồng. Hàm lượng trí tuệ,
hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao thì khả năng
phát triển KT-XH càng lớn và hiện thực.
Đối với một quốc gia, phát triển và tăng trưởng kinh tế không đồng nhất với
nhau. Muốn phát triển bền vững và toàn diện thì động lực không thể thiếu là phát
triển văn hóa. Văn hóa phát triển mạnh và đúng hướng có khả năng phát huy mặt tích
cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách và chủ quan của các điều kiện bên
trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển của xã hội được hài hòa, cân đối, lâu
bền. Văn hóa hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng
kiến, cải tiến kỹ thuật, sản xuất ra hàng hóa với số lượng và chất lượng ngày càng
cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Văn hóa còn góp phần phần tăng cường sự hiểu biết,
mở rộng sự giao lưu hợp tác giữa nước ta và các nước khác trên cơ sở bình đẳng cùng
có lợi. Các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa truyền thống là cơ sở tinh
thần để ngăn chặn, hạn chế các tệ nạn xã hội, xu hướng “sùng ngoại”, sùng bái tiền tệ
trong nền kinh tế thị trường.
Văn hóa phát triển mạnh và đúng hướng đóng vai trò điều tiết trong quan hệ
quốc tế, để mở cửa và giữ vững được độc lập, chủ quyền, hợp tác kinh tế - văn hóa
với nước ngoài mà không để người ta lợi dụng biến đất nước mình thành nơi cung cấp
nguyên liệu và nhân công giá rẻ, nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận những
công nghệ lạc hậu, những ảnh hưởng văn hóa độc hại.
Văn hóa phát triển mạnh và đúng hướng còn có khả năng ngăn chặn, khắc
phục được những ham muốn quá mức dẫn đến làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và
gây ô nhiễm môi trường sinh thái, cổ vũ xây dựng một lối sống có điều độ và hướng
đến những hành vi ứng xử có văn hóa của con người đối với con người và đối với
thiên nhiên.
3. Những giải pháp cơ bản để thực hiện quan điểm của Đảng:

chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các đường lối chính sách
của Đảng và pháp luật Nhà nước cho cán bộ, đảng viên.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, theo hướng
nắm bắt được các nhu cầu văn hóa lành mạnh của quần chúng, nhằm định hướng
đúng cho các hoạt động văn hóa từ khâu nhận thức, sáng tạo, bảo quản, đến phổ biến,
phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa của giới văn nghệ sĩ và quần chúng nhân
dân. Không ngừng mở rộng dân chủ để phát huy vai trò các hoạt động sáng tạo và tiêu
dùng văn hóa trong nhân dân.
Năm là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Nhà
nước thể chế hóa đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng bằng các văn bản pháp quy.
Và quản lý Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật để điều tiết các hoạt động văn
hóa, văn nghệ. Tăng cường giám sát, kiểm tra tất cả các hoạt động liên quan đến văn
hóa, văn nghệ. Ngăn ngừa, đối phó với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch đang tìm cách thẩm thấu, du nhập các loại văn hóa độc hại, đồi trụy vào các
thế hệ người Việt Nam ta hôm nay.
Tóm lại, xác định văn hóa là nền tảng của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH, một mặt đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của
văn hóa; mặt khác, cũng để khẳng định một chân lý là chỉ có đặt văn hóa trong sự
phát triển, gắn văn hóa với sự phát triển, nghĩa là văn hóa phải bén rễ trong kinh tế thì
kinh tế mới phát triển được. Sự nghiệp văn hóa, suy cho cùng là vì con người, như
nhận định của Đảng ta: Nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp văn hóa là bồi dưỡng con
người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách,
xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan XHCN, hướng con người tới những
giá trị Chân - Thiện – Mĩ. Vì vậy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần coi
trọng chính sách đầu tư cho văn hóa, đầu tư cho con người, khuyến khích và tạo điều
kiện để nhân dân tham gia phát triển và sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ văn
hóa ngày càng nhiều hơn./.
Câu hỏi 3 : “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và
văn hóa, làm cho thế giới quan Mác Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội ( Cương lĩnh xây dựng đất

b. Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, sự phát
triển sáng tạo của Đảng ta trong điều kiện Việt Nam :
Do mục tiêu của CNXH đặt ra là phải xây dựng nền văn hóa xã hội
chủ nghĩa và con người mới xã hội chủ nghĩa, như chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định “muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa"; đồng
3
thời dựa trên lý luận Mác Lênin về cách mạng văn hóa, xuất phát từ thực tiễn đất
nước và của thời đại, Đảng ta đã đề xướng cuộc cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng
văn hóa và gọi đó là “cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa”
Về thuật ngữ “cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng -
văn hóa”, trong văn kiện hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp
vào 2 thời điểm : 1957 và 1960, tại Mátxcơva và đã sử dụng thuật ngữ này. Cách
mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa là quy luật phổ biến đối
với tất cả các nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Thuật ngữ cách mạng xã hội
chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa được Đảng ta chính thức sử dụng trong
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) với ý nghĩa nó là một trong 3 cuộc
cách mạng lớn trên Miền Bắc xã hội chủ nghĩa thời điểm ấy (cách mạng quan hệ
sản xuất; cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng - văn hóa). Hiện nay, trong các
Nghị quyết, các văn kiện Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “cách mạng xã
hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa". Sự khái quát này làm nhấn mạnh,
nổi bật yếu tố tư tưởng trong cách mạng văn hóa, đây là một sáng tạo về phương
diện lý luận của Đảng ta nước và là sự phát triển sáng tạo học thuyết Mác Lênin về
cách mạng văn hóa của Đảng ta trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.
Sự phát triển sáng tạo đó của Đảng trước hết dựa trên cơ sở lý luận, xuất
phát từ các luận điểm sau : một là hệ tư tưởng của một thời đại bao giờ cũng là hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị (TNĐCS, trang 81), hai là hệ tư tưởng bao giờ cũng
là hạt nhân của văn hóa, nó chi phối mọi hoạt động của các thành tố văn hóa; ba là
hệ tư tưởng là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, nó là cơ sở để
thống nhất tư tưởng, ý chí, hành động trong thực tiễn. Về cơ sở thực tiễn : trước
nhất chúng ta xây dựng nền văn hóa vốn là từ một thuộc địa nửa phong kiến với

sơn cũng quyết giành kỳ được độc lập dân tộc”. Kết quả sau 30 năm kháng chiến,
chúng ta đã dành thắng lợi trọn vẹn, tổ quốc thống nhất, bước vào kỷ nguyên mới :
kỷ nguyên xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát huy truyền
thống đó, trên lĩnh vưc tư tưởng hiện nay, chúng ta đã và đang xây dựng một động
cơ tinh thần mới. Đó là biến khí phách” phục hưng dân tộc” trong giải phóng đất
nước thành ý chí” phục hưng dân tộc” trong việc tấn công vào nghèo nàn, lạc hậu
để giữ vững tư thế độc lập, tự do và bình đẳng với các dân tộc trong thế giới, thực
hiện nguyện vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng một nước Việt Nam
“đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.
Để làm được điều đó, một vấn đề cấp bách hiện nay và cũng là nhiệm vụ
trung tâm của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá là xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc … mà
cốt lõi của nền văn hóa ấy là tư tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội theo thế giới
quan Mác Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con
người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện, tự do của con người
trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân với cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên
lĩnh vực tư tưởng văn hóa là giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng và đạo đức
Hồ Chí Minh một cách phổ biến và rộng rãi để nó trở thành hệ tư tưởng chỉ đạo
trong toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội ta, dựa trên nền tảng tư tưởng đó mà
từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ tư tưởng tiến bộ của thời đại ngày nay, tổ
chức xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tức là phải ”tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và
văn hoá, làm cho thế giới quan Mác Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ
vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội” như cương lĩnh xây dựng đất
nước đã chỉ rõ,.
Giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin là vấn đề có tính quy luật của sự hình
thành ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa, bởi lẽ nếu không giáo dục để hình thành ý
thức hệ xã hội chủ nghĩa thì sẽ không có phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Lênin đã nói : “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng ".

cách móc nối những phần tử phản cách mạng trong và ngoài nước, phối hợp hành
động chống phá ta nhiều mặt hòng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ tổ quốc xã hội chũ nghĩa.
Với tình hình nêu trên, việc bảo vệ, tuyên truyền và phổ biến chủ nghĩa
Mác Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong quần chúng càng có ý nghĩa
quan trọng. Chỉ khi chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đóng vai
trò chỉ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội mới làm cho các mối quan hệ xã hội
được hình thành và phát triển một cách lành mạnh tốt đẹp. Cho nên chúng ta cần
phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá ”nhằm
xây dựng đời sống tinh thần của xã hội xây dựng thượng tầng kiến trúc về mặt hình
thái ý thức với nội dung rất rộng lớn là : làm cho thế giới quan Mac-lênin và tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần, xây dựng
một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ; nâng cao trình độ kiến thức về
nhiều mặt cho nhân dân; chống những tư tưởng và văn hoá phải tiến bộ trái với
phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội … nhằm có được một nền văn hoá mới , con
người mới xã hội chủ nghĩa
3. Những nội dung biện pháp cơ bản để thực hiện tinh thần văn hóa của Đảng trong
giai đoạn hiện nay :
a. Những nhiệm vụ chủ yếu :
Ngoài nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng và đạo đức Hồ
Chí Minh, cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa còn bao gồm
những nhiệm vụ chủ yếu như sau
- Giữ gìn và phát huy bản sắc sắc văn hoá dân tộc, chọn lọc và nâng cao
văn hoá của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc
giá trị văn hoá nhân loại. Đây là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của cách mạng xã hội
chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá. Bản sắc dân tộc là linh hồn của đời
sống văn hóa tinh thần một dân tộc. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là kế thừa
và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, bảo tồn và phát huy
chữ viết, ngôn ngữ của các dân tộc, các di sản văn hóa dân tộc, khôi phục và phát
triển những lễ hội tốt đẹp, những phong tục tập quá phù hợp với cái mới, cái tiến

đã xác định 10 nhiệm vụ cụ thể như sau :
1- Xây dựng con người mới – con người xã hội chủ nghĩa trong giai đọan
cách mạng mới với các tiêu chí: phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức; đó là con người giàu tiềm năng
sáng tạo để đáp ứng được sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
2- Xây dựng môi trường văn hóa :
3- Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật :
4- Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa :
4
5- Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ .
6- Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng .
7- Bảo tồn , phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số .
8- Thực hiện chính sách văn hóa trong tôn giáo .
9- Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa
10- Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa :
c. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 đòi hỏi phải nghiêm túc
thực hiện 10 nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra. Lần này Ban Chấp hành Trung ương
thấy cần nhấn mạnh ba nhiệm vụ trọng tâm, coi đó là khâu đột phá để tiến lên làm
tốt các nhiệm vụ khác. Ðó là:
1- Nhiệm vụ hàng đầu vẫn là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và
đời sống văn hóa lành mạnh. Ðây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, vừa cấp bách,
vừa cơ bản, lâu dài. Ðể làm tốt nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất
là cán bộ chủ chốt, phải nghiêm chỉnh thực hiện cuộc vận động lớn về xây dựng
đạo đức, lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng công tác xây
dựng, chỉnh đốn Ðảng và cải cách hành chính, phát triển văn hóa trong Ðảng,
trong Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Kiên quyết đưa những phần tử
thoái hóa, biến chất ra khỏi tổ chức đảng và cơ quan Nhà nước.
2- Chăm lo xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính đã được Nghị
quyết Trung ương 5 xác định; hình thành những chuẩn mực, những tiêu chí cụ thể

tổng chi ngân sách Nhà nước. Mặt khác cần động viên các tầng lớp nhân dân, nhất
là những người say mê hoạt động văn hóa, kể cả người Việt Nam sống xa Tổ quốc,
hết lòng đóng góp cho sự nghiệp văn hóa vì sự phồn vinh của văn hóa dân tộc
Tóm lại, cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa ở
Việt Nam là sự phát triển sáng tạo từ lý luận cách mạng văn hóa Mát-xít , đó là quá
trình thống nhất biện chứng giữa lọc bỏ và giữ gìn, giữa kế thừa và đổi mới, giữa
phê phán và tiếp thu, giữa cải tạo và xây dựng để xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam cao về trí tuệ,
trong sáng về đạo đức, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, góp phần
vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu “ Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh “ tiến vững chắc lên CNXH.
Câu hỏi 4 : Vận dụng hiểu biết về lý luận và đường lối văn hóa của
Đảng Cộng sản Việt Nam, hãy phân tích vì sao Nghị quyết hội nghị TW 5 xác
định “Nền văn hóa của ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc" ?
Bài làm
Như chúng ta đã biết, đời sống xã hội có 2 mặt : vật chất và tinh thần, nếu
kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa là nền tảng tinh thần của
nó. Với cách diễn đạt như vậy, văn hóa rõ ràng vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển KTXH. Xác định đường lối chiến lược về phát triển văn hóa của nước
ta trong giai đoạn hiện nay, Nghị quyết hội nghị TW 5 khóa VIII đã xác dịnh : nền
văn hóa của ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” . Đây là
một nội dung quan trọng của Đảng và nhân dân ta trong suốt thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta hiện nay.
Vậy văn hóa là gì? Theo định nghĩa của ông Federico Mayor, nguyên Tổng
Giám đốc UNESCO, văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của
các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt
động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị
hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
1. Giải thích thế nào là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Mối quan hệ

a. Nền văn hóa tiên tiến :
Nền văn hóa tiên tiến phải được hiểu : Đó là nền văn hóa yêu nước và
tiến bộ xã hội mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là nền văn hóa mang tinh
thần dân chủ, nền văn hóa mà trong đó dân chủ là yếu tố làm thay đổi nhiều mặt
của đời sống văn hóa dân tộc, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển văn hóa, tạo
động lực cho sự phát triển tài năng, nhu cầu sáng tạo của quần chúng nhân dân. Đó
là nền văn hóa mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, phản ánh mối quan hệ hài
hòa giữa con người và con người, giữa con người với tự nhiên, phát triển vì sự phát
triển toàn diện và hạnh phúc của con người. Đó là nền văn hóa mang tính hiện đại
về trình độ dân trí, khoa học, công nghệ Nền văn hóa tiên tiến không chỉ trong
nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển
tải nội dung. Tóm lại, nền văn hóa tiên tiến có thể được cụ thể hóa bằng những
khía cạnh cơ bản như sau: tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, về trình độ khoa
học và công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên
tiến do sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, cả về hình thức và về nội dung.
Nền văn hóa tiên tiến Việt Nam còn là sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
b. Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Nền văn hóa tiên tiến cũng là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Tính chất dân tộc luôn luôn gắn bó với tính chất tiên tiến của nền văn hóa và hai
mặt này liên quan biện chứng với nhau.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc là những đặc trưng về văn hóa, về đời
sống tinh thần dân tộc ấy, là những nét đặc biệt, độc đáo về tinh thần, về văn hóa,
về cách sống và sức sáng tạo để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Mất bản
sắc văn hóa dân tộc tức là dân tộc đã bị đồng hóa chỉ còn lại cái vỏ bề ngoài. Bản
sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc, truyền
từ đời này sang đời khác, được làm giàu thêm bằng kinh nghiệm cuộc sống và sự
sáng tạo của các thế hệ. Đó là truyền thống được tạo ra và hun đúc trong lịch sử
hình thành và phát triển của dân tộc.

hoạt động văn hóa, sinh hoạt văn hóa, sáng tạo văn hóa, tác phẩm văn hóa phải thể
hiện rõ nét và sâu sắc các giá trị tinh thần của dân tộc. Những giá trị ấy dến nay còn
được lưu lại và giữ gìn trong nhân dân, trong xã hội qua các di sản lịch sử và văn
hóa.
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc này
chỉ có thể phát triển bền vững và phát huy đầy đủ bản sắc của nó trên cơ sở tiếp thu
được những tinh hoa trí tuệ của loài người, nền văn hóa tiên tiến phải là nền văn
hóa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng không thể tách khỏi quan hệ với thế giới. Bởi xu
thế toàn cầu hóa đang diễn ra là tất yếu xu thế đó là khách quan, mang tính thời đại,
5
trước hết trong lĩnh vực kinh tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một
quốc gia có thể đứng biệt lập mà có thể tồn tại và phát triển. Mặt khác, phải nhận
thức được rằng toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẩn, phức tạp, mặt tất yếu
kỹ thuật, kinh tế là mặt tích cực có lợi ta phải tận dụng, song cũng không thể bỏ qua
mặt xã hội kinh tế, mặt bản chất giai cấp của quá trình toàn cầu hóa
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn :
Việc xây dựng đường lối phát triển một văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc của Đảng được dựa trên nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc .
a. Về cơ sở lý luận.
Đường lối của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng con người mới
XHCN trước hết xuất phát từ những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới và từ
thực trạng văn hóa và con người Việt Nam với cả hai mặt mạnh, yếu hiện có.
Đường lối đó phải tính đến sự giao lưu vô cùng phức tạp của văn hóa và con người
Việt Nam với nhiều dân tộc, nhiều lớp người, nhiều nền văn hóa khác nhau trong
thế giới hiện đại, khi hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một quá trình tất yếu mà
không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Đặc biệt quan trọng là đường lối văn
hóa của Đảng xuất phát từ một nền tảng tư tưởng nhất định, đó là chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ trên cơ sở đó, Đảng ta mới xác định được những
quan điểm, phương hướng, chiến lược đúng đắn, tìm ra được những biện pháp thích
hợp để phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam.

hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hòa những quan hệ xã hội. Theo Lênin, cách mạng văn hóa là một bộ phận của cách
mạng XHCN và có ý nghĩa quan trọng – nó nói lên bản chất tiến bộ của cách mạng
xã hội XHCN. Cách mạng văn hóa là một quy luật phổ biến của sự nghiệp xây
dựng CNXH bởi vì cách mạng văn hóa là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ
nghĩa, như Lênin đã từng khẳng định : giai cấp công nhân sau khi đã hoàn thành
cách mạng thì khâu cuối cùng có xây dựng được CNXH hay không là tùy thuộc
vào cuộc cách mạng văn hóa
Cách đây hơn nửa thế kỷ, Hồ Chí Minh đã từng viết : “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhìn văn hóa như là phương thức để con người tồn tại và phát
triển, nhấn mạnh đến mối quan hệ biện chứng giữa “sản sinh” văn hóa với sự sinh
tồn của con người.
Tư tưởng xây dựng một nền văn hóa mới Việt Nam được đặt ra ngay sau khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước là con đường cách mạng vô
sản, khi Người đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, khi mục
tiêu lý tưởng không phải chỉ có độc lập dân tộc mà còn là chủ nghĩa xã hội. Trong
tư tưởng văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới Việt Nam khác với
nền văn hóa cũ trước hết ở những tính chất cơ bản của nó. Đó là tính dân tộc, khoa
học và đại chúng. Điều này thể hiện rất rõ trong Đề cương văn hóa Việt Nam, năm
1943. Tính chất dân tộc của nền văn hóa mới thực chất là vấn đề kế thừa truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, kết hợp chặt chẽ với việc tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại. Tính chất dân tộc của nền văn hóa mới còn được Chủ tịch Hồ Chí
Minh biểu đạt bằng những khái niệm khác như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc để
nhấn mạnh hơn nữa đến cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của văn hóa dân tộc

tính Đảng, tính nhân dân”.
- Từ sau Đại hội VI đến nay, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước
trên tất cả các lĩnh vực, trong tư duy và hành động, trong đó có sự đổi mới và phát
triển đường lối văn hóa cho phù hợp với thời đại và tiến tới sự hoàn thiện trên cơ sở
quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể đến Đại hội
Đảng lần thứ VII (6/1991), Đảng ta xác định nền văn hóa mới xây dựng trong
XHCN là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong lời phát biểu khai
mạc hội nghị lần thứ tư, BCH TW khóa VII, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nói:
mọi sự phát triển xã hội phải “gắn liền với việc kế thừa và phát huy những truyền
thống và bản sắc dân tộc. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ
rơi vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời
những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình,
trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác”. Đến Đại hội VIII, Đảng
ta khẳng định: xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; và được cụ
thể thực hiện bằng Nghị quyết Trung ương năm, khoá VIII “Về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đường lối đó là
nhất quán cho đến hôm nay.
Tóm lại, đường lối văn hóa của Đảng ta trong các thời kỳ cách mạng luôn
nhất quán dựa trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, các nước đều mở cửa giao lưu trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó văn hóa là vấn đề được thế giới quan tâm nhất
trong sự phát triển toàn diện và bền vững. Điều đó, đòi hỏi Đảng ta phải có đường
lối văn hóa đúng đắn và phù hợp với thời đại, khẳng định được bản sắc con người,
dân tộc Việt Nam, đó là sự kế thừa đường lối văn hóa qua các thời kỳ cách mạng
của Đảng.
* Về cơ sở thực tiễn, việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước bởi
những lý do sau :
- Sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng ta và nhân dân ta đòi hỏi phải
phát huy cao độ năng lực của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, đẩy

nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mặt khác, trong quá trình toàn cầu
hóa, lợi thế đang nghiêng về các nước phát triển; các nước giàu đang có xu hướng
áp đặt giá trị văn hóa của họ cho các nước nghèo. Dòng chảy văn hóa đang có xu
thế từ nước mạnh sang nước yếu, từ nước giàu sang nước nghèo. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa hiện nay, nếu không có ý thức đầy đủ sẽ dẫn tới đánh mất đi bản sắc
dân tộc trước sự ''quốc tế hóa'' của văn hóa, khoa học và công nghệ. Cần thấy rằng,
sự hội nhập và phát triển mà không xuất phát từ đặc điểm lịch sử và truyền thống
dân tộc thì sẽ không bền vững. Bên cạnh đó, toàn cầu hóa tạo khả năng quốc tế hóa
cả các hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội. Những ấn phẩm văn hóa phản động,
đồi truỵ, làn sóng tội phạm, bạo lực và ma túy từ nước ngoài tràn vào đã góp phần
làm lan tràn thêm các tệ nạn xã hội ở nước ta trong những năm gần đây, cộng với
âm mưu ''diễn biến hòa bình'' của các thế lực thù địch và sự suy thoái về tư tưởng,
đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên thật sự là một nguy cơ làm suy
yếu nền tảng tinh thần của đất nước, làm suy yếu ngay cả chế độ.
Từ những phân tích trên cho thấy nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là hết sức cần thiết và cấp bách.
3. Những nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
6
Để thực hiện những nội dung, nhiệm vụ trên của Đảng về cách mạng
xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, văn kiện Hội nghị TW 5 (khóa
VIII) đã xác định 10 nhiệm vụ cụ thể như sau :
1- Xây dựng con người mới – con người xã hội chủ nghĩa trong giai đọan
cách mạng mới với các tiêu chí, đức tính như sau :
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với
nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và

sắc xây dựng con người
Khuyến khích, tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách
sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công
chúng. Bài trừ các khuyn h hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.
Hướng văn nghệ nước ta phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu
sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng xã
hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất
của dân tộc. Đặc biệt khuyến khích các tác phẩm về công cuộc đổi mới thể hiện nổi
bật những nhân tố tích cực trong xã hội, những nhân vật tiêu biểu của thời đại. Cổ
vũ cái đúng, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người
với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp
hèn. Sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật cho thiếu niên, nhi đồng với hình
thức, nội dung thích hợp; nghiêm cấm xuất bản loại sách kích thíc bạo lực ở trẻ
em.
Phát huy vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận xã hội phê bình
văn học, nghệ thuật. Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công
dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sỹ, các nhà văn hóa. Nâng cao chất lượng,
phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận
Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ
của Đảng .
Không ngừng nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và trình độ thưởng thức nghệ
thuật của công chúng, đặc biệt quan tâm tầng lớp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng.
Tạo điều kiện để nhân dân tham gia tiêu cực sáng tạo và phê bình, được hưởng thụ
ngày càng nhiều tác phẩm văn nghệ có giá trị trong nước và ngoài nước.
Chăm sóc đời sống vật chất tinh thần, tạo điều kiện làm việc thuận lợi
cho văn nghệ sỹ. Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo văn nghệ sỹ trẻ làm tốt công tác
bảo vệ bản quyền tác giả.
Liên hiệp văn học, nghệ thuật Việt Nam (bao gồm các hội sáng tác văn
học, nghệ thuật ở Trung ương) và các hội văn nghệ ở các tỉnh, thành phố là những
tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp do Đảng lãnh đạo có bộ máy chuyên trách

Đẩy mạnh thông tin đối ngoại. Tận dung thành tựu của mạng Internet để
giới thiệu công cuộc đổi mới và văn hóa Việt Nam với thế giới, đồng thời có biện
pháp hiệu quả ngăn chặn, hạn chế tác dụng tiêu cực qua mạng Internet cũng như
qua các phương tiên thông tin khác.
Không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp, chất lượng tư
tưởng văn hóa của hệ thống truyền thông đại chúng. Khắc phục xu hướng thương
mại hóa trong hoạt động báo chí xuất bản.
Chăm lo đặc biệt về định hướng chính trị, tư tưởng, văn hóa, cũng như về
kỹ thuật hiện đại đối với truyền hình là loại hình báo chí có ưu thế lớn, có sức thu
hút công chúng đông đảo.
7- Bảo tồn , phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số .
Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng,
phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu
số.
Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc
sử dụng ngôn ngữ, chử viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các
dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của
dân tộc mình. Phát hiên, bồi dưỡng tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên
cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số
Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các
tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào
dân tộc, các dân tộc thiểu số và tạo điều kiện để trí thức, cán bộ dân tộc thiều số
trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân.
Đầu tư và tổ chức điều tra sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn
hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số.
Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng lưới thông
tin ở vùng dân tộc thiểu số.
Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số sớm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống , xóa mù chữ, nâng
cao dân trì, xóa bỏ hủ tục.

thành các hình thức sáng tạo và tham gia hoạt động văn hóa của các tập thể, cá
nhân trong khuôn khổ luật pháp và chính sách. Khuyến khích các hình thức bảo trợ
văn hóa.
Xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở
Hoàn chỉnh các văn bản luật pháp về văn hóa, nghệ thuật, thông tin
trong điều kiện cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo
văn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, Hội nghị lần thứ X (Khóa IX) nhấn
mạnh ba nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Một là, tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức,
lối sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà
7
nước, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn
xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở
Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách, vừa
cơ bản, lâu dài.
- Để xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh,
cần tập trung ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong Đảng, trong hệ thống chính
trị, những tiêu cực, tệ nạn xã hội. Cần khắc phục tình trạng mất đoàn kết nghiêm
trọng trong không ít tổ chức Đảng, quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng mạnh
hơn, tiếp tục đưa ra xét xử được những vụ tham nhũng lớn, xử lý những cán bộ,
Đảng viên kể cả một số cán bộ cấp cao của Đảng khi vi phạm kỷ luật và pháp
luật, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng , đạo đức, lối sống trong Đảng và nhân
dân. Khắc phục tình trạng lãnh phí, thất thoát trong doanh nghiệp nhà nước, trong
quản lý đất đai, trong đầu tư xây dựng cơ bản, trong chi tiêu ngân sách nhà nước.
- Để tạo sự đồng thuận xã hội cao hơn trong sự nghiệp tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh CNH-HĐH đất nước; khắc phục những mâu thuận trong nội bộ nhân dân,
ngăn chặn tình trạng khiếu kiện đông người. Mở rộng dân chủ xã hội, cần chặn
đứng tình trạng vô chính phủ, dân chủ quá trớn, không tôn trọng kỷ cương phép
nước, quy ước cộng đồng. Chúng ta cần đẩy mạnh việc bảo tồn và phát huy các

là một nội dung có ý nghĩa quyết định để nâng tầm lãnh đạo, uy tín chính trị-đạo
đức của cán bộ, Đảng viên, các tổ chức Đảng từ TW đến cơ sở. Các cấp ủy đảng,
các cơ quan Đảng và hệ thống chính trị phải có chương trình xây dựng văn hóa
trong Đảng và xây dựng cơ quan văn hóa
c. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay
- Xây dựng tư tưởng theo thế giới quan Mác Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam .
- Xây dựng đạo đức, lối sống theo các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức
Mác Lênin, đạo đức Hồ Chí Minh và đạo lý tốt đẹp của dân tộc .
- Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức
Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình; cải thiện
đời sống văn hóa ở những vùng đời sống văn hóa còn quá thấp kém, nhất là vùng
sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng
nhu cầu thiết yếu nhất về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân .
3. “ Hơn 50 năm sau Đề cương văn hóa Việt Nam, Nghị quyết TW 5
khóa 8 được coi là chiến lược văn hóa của Đảng thời kỳ CNH-HĐH vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh". Những định hướng,
mục tiêu và nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc đã được khẳng định một lần nữa và phát triển lên tầm cao tại Đại
hội lần IX của Đảng . Và từ đó đến nay, hơn 3 năm của nhiệm kỳ TW khóa IX,
trong khi đẩy mạnh việc thực hiện toàn diện Nghị quyết Đại hội IX, lấy phát triển
kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đảng ta
thông qua việc thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII đã khơi dậy phong trào toàn
Đảng , toàn dân chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, tức là xây dựng nền tảng
tinh thần của xã hội, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu kinh tế xã hội,
quốc phong nước ninh, đối ngoại và sự ổn định chính trị của đất nước (trích bài
phát biểu của đồng chí Nông Đức Mạnh khai mạc Hội nghị lần thứ 10 BCH TW
Đảng khóa IX ngày 5/7/2004)
4. “văn hóa Việt Nam là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng
tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt

nhân văn hóa - là biểu tượng cao đẹp của nền văn hóa Việt Nam. Người đã có công
lớn trong việc gắn kết văn hóa phương Đông với văn hóa phương Tây, phát triển và
hoàn thiện vấn đề văn hóa trong hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong hệ thống tư
tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người luôn đề cao việc kế thừa những giá trị
truyền thống văn hóa của dân tộc. Trân trọng và luôn quan tâm đến việc bảo quản,
giữ gìn di sản văn hóa, không chỉ của dân tộc mà của cả nhân loại; Người nhận thức
rất sớm về vấn đề văn hóa và phát triển, đặc biệt là việc giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong công cuộc kiến thiết và xây dựng đất
nước. Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, ngày 23 tháng 11 năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh về việc bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt
Nam, mở đầu sắc lệnh viết: “…việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần cho công cuộc
kiến thiết nước Việt Nam”.
Để hiểu rõ quan điểm của Người trong sắc lệnh này, chúng ta cần tìm hiểu
“cổ tích” là gì ? Theo Từ điển bách khoa toàn tập năm 1992: Cổ tích là danh từ chỉ
di tích lịch sử từ xưa, thường là chỉ các công trình kiến trúc xưa còn để lại. Như
vậy, cổ tích được hiểu là giá trị của quá khứ, do quá khứ để lại và nó chỉ phát huy
tác dụng khi được cộng đồng nhận thức, khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu đời
sống hiện tại. Đó là những công trình kiến trúc, là sự kết tinh tài năng sáng tạo của
cá nhân, cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Ngày nay, khi tiếp cận lĩnh vực văn hóa truyền thống, chúng ta thường bắt
gặp thuật ngữ: di sản văn hóa. Vậy di sản văn hóa là gì? và liên quan như thế nào
với “cổ tích” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong sắc lệnh trên.
Di sản văn hoá là tổng thể những giá trị văn hoá được tích luỹ trong lịch sử,
nó được cộng đồng nhận thức, khái thác sử dụng, để đáp ứng nhu cầu cuộc sống
hiện tại. Di sản văn hoá đã kết tinh tài năng sáng tạo của cá nhân, cộng đồng và của
giai đoạn lịch sử nhất định, nó phản ánh nhu cầu khác vọng của cá nhân, của cộng
dồng về tự do, về hạnh phúc, về sự hoàn thiện, nó thể hiện sự vươn lên của con
người. Vì vây, di sản văn hoá thể hiện nhiều hình thức khác nhau rất phong phú, rất
đa dạng, để thuận lợi khai thác và sử dụng thì người ta chia di sản văn hoá nhiều
loại hình khác nhau. Căn cứ vào hình thức biểu hiện, cách thức tồn tại thì di sản văn

phát triển.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, kế thừa là một trong những mặt bản
chất nhất của quy luật phủ định của phủ định biểu hiện trong tự nhiên, xã hội và tư
duy như là mối liên hệ tất yếu khách quan giữa cái cũ và cái mới trong quá trình
phát triển. Quy luật kế thừa trong phát triển văn hóa, có những biểu hiện khác
nhau, tùy theo lĩnh vực văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần. Trong lĩnh vực sản
xuất vật chất, tính kế thừa được thực hiện ngay cả khi con người không nhận thức
được thái độ của mình đối với sự kế thừa đó, nhưng trong văn hóa tinh thần thì trái
lại, con người ý thức rất rõ về việc tiếp thu hay phê phán các giá trị văn hóa có
trước; việc thực hiện quy luật kế thừa có thể là trực tiếp (như trong lĩnh vực khoa
học) hay là gián tiếp (như trong nghệ thuật, bởi tính độc đáo của sáng tạo nghệ
8
thuật không cho phép nghệ sĩ bắt chước thành tựu của người đi trước dù người đi
trước là một thiên tài).
Trong lĩnh vực văn hóa, nói kế thừa là nói đến di sản văn hóa, bởi vì kế thừa
là kế thừa những di sản đã có. Văn hóa trong bất cứ thời nào đều đồng thời bao
gồm việc sử dụng di sản văn hóa quá khứ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới. Kế
thừa di sản văn hóa quá khứ là hiện tượng có tính quy luật. Tuy vậy, không phải lúc
nào con người cũng ý thức được rõ ràng việc kế thừa các di sản văn hóa quá khứ.
Đã có một thời của lịch sử nhân loại, các thành tựu rực rỡ của văn hóa Hy Lạp cổ
đại bị bỏ quên, nhưng cũng chỉ một thời gian sau đó, thời Phục Hưng đã làm sống
lại nền văn hóa nhân bản đó. Tuy nhiên kế thừa phải gắn liền với sáng tạo, đổi mới.
Sự kế thừa và sáng tạo bảo đảm cho văn hóa một quá trình phát triển tiệm tiến, khi
nhanh, khi chậm nhưng liên tục.
Sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới XHCN đòi hỏi phải biết tiếp thu, tất
nhiên có chọn lọc, tất cả những giá trị văn hóa nhân loại. Bản thân sự ra của chủ
nghĩa Mác đã nói lên điều đó. Lênin cho rằng: chủ nghĩa Mác sở dĩ giành được ý
nghĩa lịch sử trên toàn thế giới về mặt hệ tư tưởng của giai cấp vô sản cách mạng là
vì chủ nghĩa Mác không những đã không vứt bỏ những thành tựu hết sức quý báu
của thời đại tư sản, mà trái lại, còn tiếp thu và cải tạo tất cả những gì quý báu trong

những di sản văn hóa trở thành mẫu mực, ghi lại dấu ấn của một sự kiện lịch sử và
vì vậy có rất nhiều di sản văn hoá tiêu biểu những tâm tư tình cảm của con người.
Di sản văn hoá không chỉ cung cấp những tư liệu để sáng tạo giá trị văn hóa mới,
mà còn góp phần tạo cảm hứng, tạo dựng thế giới cảm quan cho sự sáng tạo các giá
tri mới. Nhờ đó, nó làm cho các giá trị quá khứ được chuyển nhập vào thời hiện
đại, tạo nên những truyền thống. Ví dụ như: Cuộc đời hoạt động và nhân cách của
Chủ tịch HCM làm nên những dấu ấn lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
trong điều kiện mở của hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay
d- Về mặt Kinh tế: Trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, di sản văn hóa còn có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia.
Một đất nước có những di sản văn hóa được bảo vệ, quản lý tốt sẽ góp phần rất lớn
vào quá trình phát triển kinh tế đất nước. Chủ yếu là bằng cách phát triển ngành
kinh tế dịch vụ và hoạt động du lịch.
Tóm lại: Di sản văn hoá là các sản phẩm, các giá trị văn hóa do các thế hệ
trước sáng tạo và truyền lại cho các thế hệ sau, bao gồm các di sản vật thể và di sản
phi vật thể (di sản tinh thần). Di sản văn hóa là tài sản vô giá, có tác dụng gắn kết
cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc quốc gia dân tộc, là cơ sở để sáng tạo
những giá trị mới và để giao lưu văn hoá với các cộng đồng dân tộc, quốc gia khác.
Ngoài ra, di sản văn hóa còn góp phần thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân,
nâng cao ý thức tự hào dân tộc và góp phần phát triển KT-XH của đất nước. NQ
TW5, khoá VIII xác định: “Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy nhưng giá
trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn
hóa vật thể và phi vật thể”.
Đối với nước ta, giá trị văn hóa kết tinh trong các di sản văn hóa, nó được
tích lũy trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân
tộc còn được lưu giữ lại. Những di sản này rất phong phú, da dạng, tồn tại dưới
nhiều hình thức khác nhau: cổ vật, công trình kiến trúc hoặc còn ẩn trong lòng đất
hoặc đang được lưu trữ trong các bảo tàng, các công cụ sản xuất, đồ dùng bằng
sành sứ, những thành quách, chùa tháp, đình làng, phố cổ, lăng tẩm, cung điện…
thuộc loại văn hóa vật thể. Văn hóa phi vật thể đa dạng hơn gồm các loại văn hóa,

Ngay sau khi khai sinh Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ đã ký sắc lệnh
về bảo tồn di sản văn hóa trên toàn cõi Việt Nam.
Thời gian qua chúng ta đã thực hiện việc kiểm kê, đánh giá, bảo tồn các di
sản văn hóa. Tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế; mà nguyên nhân là
do sự nhận thức chưa đúng của một bộ phận cán bộ, nhân dân, trong đó có quan
niệm đồng nhất sản phẩm của chế độ với bản thân chế độ đó, coi sản phẩm là biểu
tượng của chế độ. Từ đó, đi đến trong đấu tranh xóa bỏ chế độ cũ đã xóa bỏ luôn
những sản phẩm văn hóa của chế độ đó. Ví dụ như: khi xoá bỏ nền thống trị của
chế độ phong kiến, đã xảy ra tình trạng đập phá lăng tẩm, thành quách; xóa mê tín,
dị đoan thì xóa luôn hoạt động lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo; đánh địa chủ thì phá
luôn những công trình văn hóa có liên quan đến địa chủ ….
Đất nước Việt Nam dày đặc các di tích lịch sử - văn hoá, chính những di tích
này đã tạo nên “khí thiêng sông núi”, thức tỉnh, nuôi dưỡng lòng yêu nước thương
nòi của bao thế hệ. Hiện nay, cả nước có khoảng trên 1.500 di tích văn hoá được
xếp hạng, không kể các di tích do tỉnh, huyện, xã quản lý. Trong đó có 5 di tích
được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An, Thành cổ
Huế, Đình Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long và Đầm Phong Nha.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, các di sản văn hoá bắt đầu bị phá
hoại nghiêm trọng. Nhiều pho tượng quý ở những ngôi chùa cổ nổi tiếng bị lấy cắp
như ở chùa Tây phương, chùa làng đa sĩ. Nhiều núi đá voi tại khu vực được coi là
thắng cảnh đã bị phá nham nhở làm vật liệu xây dựng như ở Hạ Long, Sa Pa, núi
Chùa Trầm và núi Sài Sơn (Hà Tây),.v.v Nhiều khu vực lễ hội bị ô nhiễm bởi nạn
buôn thần, bán thánh, mê tín dị đoan, chụp giật và còn biết bao nhiêu tệ nạn khác đã
xâm phạm, huỷ hoại tài sản văn hoá dân tộc. Những tài sản văn hoá ấy là duy nhất,
đã mất đi thì không có gì thay thế được. Tác dụng của các di sản đó đối với việc
khơi dậy lòng yêu quê hương, yêu đất nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần cộng
đồng và sự gắn bó với cộng đồng là rất lớn.
b- Phương hướng - Giải pháp:
Việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đòi hỏi phải nghiên cứu, phân
tích chọn lựa các yếu tố tích cực trong di sản để kế thừa, nâng cao trong sự sáng tạo

tạo để giữ gìn, bảo quản được lâu dài. Công việc này đòi hỏi phải hết sức thận
trọng, đảm bảo yêu cầu về mặt kỹ thuật. Đối với loại di sản phi vật thể, để duy trì,
bảo tồn được nó thì phải đưa nó vào trong cuộc sống hiện tại và phải giữ gìn môi
trường, cảnh quan, cơ sở vật chất cho sự tồn tại của nó.
- Bảo tồn phải gắn liền với việc phê phán, chống lại, loại bỏ các hiện tượng
phản văn hoá, những tục lệ lạc hậu có nguy cơ kìm hãm sự phát triển.
- Hiện nay chúng ta đã có Luật Di sản văn hoá, vấn đề đặt ra là phải đưa luật
vào cuộc sống để thực hiện. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho nhân
dân, đặc biệt là chú trọng những người làm công tác quản lý trong lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật. Luật phải được thực thi nghiêm túc từ trong cán bộ, đảng viên, trong
các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt đối với các di sản văn hoá vật
thể cần có thái độ hết sức thận trọng, bình tĩnh và phải trên cơ sở khoa học; mọi
quyết định vội vàng, nóng vội đều có thể để lại những hậu quả dai dẳng, khó khắc
phục được.
- Cuối cùng là gắn việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá với việc chống
lại âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng
9
Việt Nam trên mặt trận tư tưởng văn hoá, nghệ thuật. Nhất là đối với hoạt động
xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.
Tóm lại, vấn đề kế thừa, bảo vệ và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức,
thẩm mỹ, các di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc bảo tồn và tôn tạo các di tích
lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị
trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặt biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản
sắc văn hóa dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới làm giàu đẹp
thêm nền văn hóa Việt Nam; đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hóa độc
hại, những khuynh hướng hàng ngoại coi thường các giá trị nhân văn
Câu hỏi 6 : Năm 1947 tuyên truyền về việc xây dựng đời sống mới trong nhân
dân, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời
sống mới thì dân tộc nhất định sẽ phú cường” (Hồ Chí Minh toàn tập - Tập 5
– NXBQG Hà nội – 1955 – Trang 99). Từ quan điểm trên, đồng chí hãy phân

phản ánh trình độ con người đã đạt được về mặt sản xuất. Nếp sống : hình thành
hành vi ứng xử của con người, nó biểu hiện sự ổn định, tính bền vững của lối sống,
là chiều sâu của lối sống. Tất cả những cách thức làm ăn, sinh sống, suy nghĩ, đối
xử … đã được mọi người trong xã hội thừa nhận là đúng, đều làm như thế và
hướng cho lớp trẻ cũng làm như thế, được lặp đi lặp lại lâu ngày thành thói quen
xã hội, thành phong tục tập quán, thành lễ chế, luân lý, pháp luật, của toàn xã hội,
của cả một thời, và có truyền từ đời này qua đời. Lẽ sống được hiểu như là khát
vọng, hoài bão, lý tưởng, mục đích, động cơ, nhu cầu của cá nhân. Đây là phạm trù
nhân sinh quan của lối sống, là cơ sở tinh thần động lực của nếp sống, lối sống.
Phong cách sống trước hết thể hiện ở thói quen, lao động sản xuất và chính trị xã
hội, trong sinh hoạt, trong các phong tục tập quán chi phối các hoạt động cụ thể. Nó
là một phương thức hoạt động của con người được xác định bởi điều kiện kinh tế
XH và địa lý khách quan, các mong muốn chủ quan, các quan điểm cá nhân, của cả
tập thể XH hay cả một XH nói chung. Chất lượng sống : nói lên khả năng phát triển
hài hòa của con người trong bản thân dân tộc, giữa con người với tự nhiên. Biểu
hiện tổng hợp qua mức sống, mức hưởng thụ, mức học tập.
Lối sống mới XHCN mà chúng ta xây dựng có những đặc trưng mang tính
nguyên tắc, của con đường đi lên CNXH. Nó được xây dựng trên cơ sở của những
yếu tố :
Một là lối sống mới XHCN được xây dựng dựa trên chế độ sở hữu đa dạng,
trong đó sở hữu Nhà nước đóng vai trò chủ đạo : điều này đã được văn kiện ĐH IX
(Trang 78) ghi rõ: “chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về TLSX chủ yếu từng
bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi CNXH được xây dựng xong về
cơ bản. Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển KTXH lâu dài qua nhiều
bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao. Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây
dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất nói chung với bước
đi vững chắc. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu qủa xây dựng quan hệ sản xuất
theo định hướng XHCN là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời
sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội”
Hai là lối sống mới dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động : làm việc

Ngoài ra, lối sống còn là mặt văn hóa cuộc sống con người, nét văn hóa được biểu
hiện vừa trong lối sống vật chất (văn hóa ẩm thực, văn hóa tiêu dùng ), vừa biểu
hiện trong những giá trị tinh thần ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng,
tôn giáo, với quan niệm về nghệ thuật.
Thứ hai, lối sống có thể xem như là văn bản văn hóa duy trì sự phát
triển tinh thần xã hội. Trong lối sống thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc thông qua
những thành tố của nó (phong tục, tập quán, thói quen, lễ chế ) . Trong quá khứ,
khi trình độ văn hóa của xã hội chưa phát triển thì thông qua lối sống để giáo dục
con người toàn diện từ sản xuất (hội mùa) đến lịch sử (kế tục bằng lịch sử) truyền
đạt kinh nghiệm, giáo dục con người giữ được truyền thống lịch sử.
Thứ ba là nhờ có lối sống những tư tưởng chính trị, triết học, quan điểm thẩm mỹ mới
được hiện thực hóa.
Bốn là lối sống tạo ra không gian hết sức rộng lớn, cởi mở, tự do để cho mọi cá nhân phát
triển trong khuôn khổ cộng đồng.
Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy, lối sống tác động rất lớn
đến sự phát triển của văn hóa, xã hội cũng như thịnh vượng của một quốc gia, dân
tộc. Nếu như đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thì lối sống đóng vai trò định hình,
định tính đối với việc xây dựng con người và phát triển văn hóa. Việc xây dựng lối
sống mới trong đó cơ bản là các khuôn mẫu ứng xử và các thể chế xã hội - văn hóa
sẽ góp phần tổng hòa các quan hệ xã hội, cân bằng các giá trị vật chất và tinh thần ở
mỗi con người và trong toàn xã hội, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện,
hài hòa và từ đó làm động lực thúc đẩy dự phát triển của đất nước. Trong giai đoạn
hiện nay, Đảng ta đặt vấn đề xây dựng lối sống có tính văn hoá là một nội dung
quan trọng trong chiến lược xây dựng con người mới và như vậy, việc xây dựng lối
sống có văn hoá đã trở nên bức bách, không thể thờ ơ khi chúng ta quan tâm đến
việc hình thành nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa đầu thế kỷ 21 .
5. Phân tích những đặc trưng của lối sống văn hóa
Ngày nay, lối sống văn hóa được biểu hiện qua các đặc trưng sau :
- Một là phải tôn trọng lao động và giá trị của lao động, của người lao
động, một ý nghĩa tốt đẹp của đời sống : lao động được đặt lên vị trí hàng đầu trong

Lối sống đã khởi sắc và tỏ ra năng động, tính tích cực công dân được khơi dậy và
phát huy thay cho tâm lý thụ động, ỷ lại, trông chờ trong cơ chế cũ. Bầu không
khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, mặt bằng dân trí được nâng cao, sở trường,
năng lực cá nhân con người được khuyến khích, tôn trọng. Trong sự phong phú,
đa dạng và bộn bề của đời sống, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hô Chí Minh
được Đảng ta vận dụng và phát triển sáng tạo vẫn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam bảo đảm cho xã hội phát triển đúng hướng. Đã định hình được những nhóm
giá trị chính như : độc lập, tư do cho dân tộc và cho mỗi người, giá trị việc làm có
thu nhập cao, giá trị tôn trọng nghệ nghiệp, chuyên môn, giá trị cái đẹp và sự đa
dạng cái đẹp Các mặt trái của kinh tế thị trường và mở cửa - dù tác động dữ dội
– đã không thể ngăn nổi nhân dân ta duy trì và phát triển truyền thống tốt đẹp
(tình làng nghĩa xóm, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ những người bất hạnh, v.v )
Tuy nhiên, lối sống hiện nay vẫn còn nhiều điều tồn tại, đáng lo ngai.
Đó là những hiện tượng suy thoái đạo đức, đặc biệt là nạn tham nhũng, hối lộ,
buôn lậu, gian lận thương mại, mua bằng, bán điểm, mua bán chức quyền trước
10
sự tấn công của thói ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu dùng, sức mạnh đồng
tiền và chủ nghĩa thực dụng. Đó là trạng thái dao động, hoài nghi, giảm sút niềm
tin, phai nhạt lý tưởng ở một bộ phận đảng viên, cán bộ, kể cả một số cán bộ
trung, cao cấp. Đó là nhiều hiện tượng nhức nhối trước đây không hề có trong
quan hệ gia đình, đạo lý thầy trò, quan hệ bạn bè, sự đảo lộn một số chuẩn giá trị
và nếp sống vốn tốt đẹp. Đó là một bộ phận dân cư, kể cả một số thanh niên, học
sinh, sinh viên, sự hiểu biết còn quá ít về lịch sử dân tộc, về các giá trị truyền
thống mà lịch sử và cách mạng đã xây nên, trong khi đó lại phục hồi không phân
biệt tốt xấu các vốn cổ dân tộc, đồng thời đi liền với tâm lý sùng ngoại đôi khi
đến mức mù quáng, phi lý, kệch cỡm. Đó là các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia
tăng, sự đam mê nhu cầu vật chất và những dục vọng thấp hèn, lối sống bất chấp
đạo lý, dư luận xã hội và luật pháp đang xô đẩy một số người đi vào con đường
tội lỗi.
6. Những nhiệm vụ liên quan đến xây dựng lối sống mới hiện nay

đi ” (Báo Cứu quốc, số ra ngày 24-11-1946). Bằng lý luận văn hóa đã học, đồng
chí hãy phân tích tư tưởng trên và liên hệ với sự vận dụng của Đảng ta trong
giai đoạn hiện nay.
Trong lời tuyên bố mở đầu thập kỷ thế giới văn hóa vì phát triển, ông Tổng
giám đốc Tổ chức khoa học và văn hóa liên hiệp quốc (UNESCO) đã nhấn mạnh
“kinh nghiệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy rằng trong xã hội ngày nay, bất
luận là trình độ kinh tế nào, hoặc xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là
hai mặt gắn liền với nhau. Nước nào tự đặt cho mình một mục tiêu phát triển kinh
tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm
trọng và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu đi nhiều Phát triển cần
phải thừa nhận văn hóa giữ vai trò trung tâm và vai trò điều tiết xã hội. Nói tóm lại
trọng tâm, động cơ và mục đích phải được tìm trong văn hóa. Đây là bài học quý
báo rút ra từ việc tổng kết gần 3 thế kỷ phát triển công nghiệp trên”
Như vậy, sự phát triển của một quốc gia, dân tộc : hưng thịnh hay suy vong
đều có vai trò của văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong diễn văn khai mạc Hội
nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946) đã viết : “Văn hóa soi đường cho quốc
dân đi” (Báo Cứu quốc, số ra ngày 24-11-1946). Vì vậy tìm hiểu về văn hoá có ý
nghĩa hết sức thiết thực và sâu sắc đối với nhiệm vụ xây dựng bảo tồn và phát huy
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp sức đẩy mạnh CNH-
HĐH đất nước hiện nay
1. Văn hóa là gì ? B/chất của VH
Thuật ngữ văn hoá xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và cho đến
nay vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định. Song, có thể định
nghĩa văn hóa như sau : văn hóa là hoạt động tinh thần nhằm phát huy những năng
lực bẩm sinh và bản chất của con người để sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh
thần dựa trên các chuẩn mực : chân, thiện, mỹ nhằm duy trì sự tồn tài và phát triển
của cá nhân và cộng đồng xã hội. Văn hóa cũng là hoạt động nhằm tạo ra những
giá trị những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ 2, cái nôi nuôi dưỡng sự hình
thành nhân cách con người. Hoạt động văn hóa thực chất là hoạt động khách thể
hóa hoạt động năng lưc con người, biến năng lực con người thành hiện thực.

bản thân, con người đã sáng tạo ra văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn”
Như vậy con người là chủ thể của văn hóa, tuy nhiên qua hoạt động văn hóa,
con người đồng thời cũng trở thành sản phẩm của văn hóa. Nếu tự nhiên là cái nôi
đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó, toàn bộ đời sống
tinh thần của con người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển. Như vậy,
văn hóa chính là phương thức để con người tồn tại và phát triển, là cách thức để
con người tách mình ra khỏi động vật. Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự
nhiên, cũng như vậy, con người không thể trở thành con người nếu tách rời môi
trường văn hóa.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề phát triển văn hóa và xây dựng con người
có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Phát triển văn hóa là nhằm xây dựng con người, không
ngừng hoàn thiện con người và chính con người tạo ra phát triển cao hơn của văn hóa. Nói một
cách khái quát thì con người vừa là chủ thể, là vừa là sản phẩm của văn hóa. Không thể nói đến
văn hóa mà không có con người, cũng như không thế nói đến con người tách rời văn hóa
2. Văn hóa định hướng cho sự phát triển KT-XH.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V BCH TW Đảng Khóa VIII khẳng định “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KTXH” (Đảng Cộng
sản Việt Nam - Văn kiện ĐH VIII – Trang 110)
a. VH là nền tảng t/thần của XH
Ta biết rằng, đời sống xã hội có hai mặt vật chất và tinh thần. Nếu kinh tế là
nền tảng vật chất của đời sống xã hội, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống
xã hội. Văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội, vì nó được thấm nhuần
trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; nó được truyền lại, tiếp nối và phát huy
qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc chính trị -

b. VH là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH.
Văn hóa là động lực cho sự phát triển con người, là nhân tố bên trong, nhân tố nội sinh.
Bàn về việc xây dựng phát triển nhân cách con người, nhất định phải nói tới văn hóa. Văn hóa là
do con người gieo trồng nên nhưng đồng thời hệ thống giá trị văn hóa lại góp phần vào giáo dục
và tự giáo dục con người. Trong văn kiện Đại hội Đảng khóa IX, nói đến vai trò của văn hóa đối
với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, văn kiện đã chỉ rõ: “Mọi
hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư
tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan
dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng, xã
hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam - văn kiện ĐH IX – Trang 104). Văn hóa khơi dậy và phát huy
mọi tiềm năng sáng tạo của con người, phát huy năng lực bản chất người. Mối q/hệ con người
với văn hóa là gắn liền nhau, VH vừa thể hiện trong con người, đồng thời VH là môi trường, là
điều kiện cho sự hình thành, phát triển nhân cách con người. Tức là, văn hóa góp phần vào điều
tiết quá trình phát triển KT-XH.
c. VH là m/tiêu ph/triển KT-XH
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, văn hóa luôn được xác định là
mục tiêu của sự nghiệp cách mạng và điều đó thể hiện một cách nhất quán trong
đường lối văn hóa của Đảng ta từ ngày mới thành lập đến nay. Trong mỗi chính
sách KT-XH luôn đòi hỏi phải bao hàm nội dung và mục tiêu văn hóa. Xây dựng và
phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh, con người phát triển toàn diện'', nhằm mục đích nâng cao chất lượng đời sống
11
xã hội, tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển lành mạnh về đời sống tinh thần. Đặt văn
hóa là mục tiêu bởi vì mọi tâm huyết và công sức mà Đảng và nhân dân ta đang bỏ
ra sẽ trở thành vô nghĩa, nếu như mục tiêu cuối cùng của chúng ta không phải là
XD một XH VNam và những con người VN ph/triển toàn diện trong một cuộc sống
đầy đủ về vật chất và cao đẹp về tinh thần
Đối với một quốc gia, phát triển và tăng trưởng kinh tế không đồng nhất với
nhau. Muốn phát triển bền vững và toàn diện thì động lực không thể thiếu là phát
triển văn hóa. Văn hóa phát triển mạnh và đúng hướng có khả năng phát huy mặt

lĩnh vực của đời sống con người càng cao thì khả năng phát triển KT-XH càng lớn
và hiện thực.
3. Chứng minh lịch sử văn hóa.
a. Thời kỳ kháng chiến.
b. Thời kỳ đổi mới.
Nhìn chung, trong thời kỳ đổi mới thời gian qua đánh giá về vai trò của văn
hóa trong đời sống KTXH, Đảng đã nhận định văn hóa đã có những thành tựu và
tiến bộ, nhưng khách quan thì những thành tựu đạt được còn chưa tương xứng và
chưa vững chắc, chưa tác động có hiệu quả nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc
biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Văn hóa xét trên phương diện động lực thúc đẩy sự phát triển tỏ ra chưa đủ
mạnh. Hàm lượng chất xám trong sản phẩm hàng hóa của ta còn thấp, quy trình
công nghệ lạc hậu, tổ chức sản xuất kinh doanh còn thất thoát, lãng phí nhiều.
Văn hóa chưa đủ sức tác động, chi phối, điều chỉnh quá trình sản xuất, kinh doanh
theo hướng văn minh, hiện đại, hiệu quả. Ðáng quan tâm hơn, văn hóa chưa điều
chỉnh mạnh mẽ nhận thức, tư tưởng, tình cảm, những quan hệ đạo đức, lối sống,
nếp sống của con người. Có nhiều biểu hiện về sự xuống cấp của đạo đức, lối
sống rất đáng lo ngại. Nói về tình hình này, trong diễn văn bế mạc Hội nghị, đồng
chí Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh đã có nhận định: "Nhìn vào tổng thể việc xây
dựng nền văn hóa cũng như từng mặt, từng lĩnh vực văn hóa, văn học - nghệ
thuật, thông tin báo chí , chúng ta đều nhận thấy được một bức tranh đan xen
những thành tựu và tiến bộ với những yếu kém và khuyết điểm".
Sự "đan xen" giữa thành tựu và yếu kém, giữa "sáng" và "tối" trong đời sống
văn hóa là một thực tế đáng lo lắng hiện nay. Sự "đan xen" đó diễn ra trên mọi lĩnh
vực, mọi ngõ ngách của đời sống. Ở nông thôn, bên cạnh những "làng văn hóa"
tươi sáng phong phú đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, cũng còn không ít loại
"làng Nhô", "làng Bến", làng nghiện ngập gây băn khoăn, lo lắng cho xã hội. Ở
thành thị, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang mở ra nhanh chóng các khu
công nghiệp, các chung cư cao tầng, các trung tâm kinh doanh sang trọng nhưng
cạnh đó là tình trạng hàng vạn người lao động không đủ nơi ăn nghỉ, sinh hoạt văn

tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội
dung. Tóm lại, nền văn hóa tiên tiến có thể được cụ thể hóa bằng những khía cạnh
cơ bản như sau: tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, về trình độ khoa học và
công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên tiến do
sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, cả về hình thức và về nội dung. Nền văn
hóa tiên tiến VNam còn là sự kết hợp truyền thống dân tộc với chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng HCM.
* Nền văn hóa đậm đà bản sắc Dtộc:
Nền văn hóa tiên tiến cũng là nền văn hóa đậm đà bản sắc D/tộc. Tính chất
dân tộc luôn luôn gắn bó với tính chất tiên tiến của nền văn hóa và hai mặt này liên
quan biện chứng với nhau. Bản sắc văn hóa của một dân tộc là những đặc trưng về
văn hóa, về đời sống tinh thần dân tộc ấy, là những nét đặc biệt, độc đáo về tinh
thần, về văn hóa, về cách sống và sức sáng tạo để phân biệt dân tộc này với dân tộc
khác. Đó là truyền thống được tạo ra và hun đúc trong lịch sử hình thành và phát
triển của dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được thể hiện qua các mặt như
sau:
- Nền văn hóa bao gồm sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền
văn hóa của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, của các vùng, các địa
phương trong nước. Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng,
khi tất cả hội nhập nền văn hóa cộng đồng dân tộc Việt Nam thì nó trở nên hết sức
phong phú, đa dạng.
- Đó là nền VH mà tính phong phú đa dạng được nhân lên nhiều lần do có bề
dày hàng nghìn năm lịch sử và được trãi nghiệm qua các cuộc đ/tranh dựng nước và
giải phóng đất nước.
- Bản sắc văn hóa dân tộc còn biểu hiện cụ thể ở những giá trị văn hóa bền
vững của dân tộc Việt Nam, là tổng hợp các giá trị tinh thần tiêu biểu của dân tộc,
bao gồm 6 giá trị: Một là tinh thần yêu nước, yêu quê hương nồng nàn. Hai là tinh
thần đoàn kết dân tộc. Ba là tính cộng đồng gắn kết giữa cá nhân, gia đình, quê
hương, tổ quốc. Bốn là tinh thần nhân nghĩa, nhân ái thắm nhuần chủ nghĩa nhân
văn, nhân đạo sâu sắc của con người Việt Nam: sống có tình nghĩa, thủy chung

hoạt động tinh thần mang tính sáng tạo-lại trở thành động lực của phát triển.
Cách mạng văn hóa là một quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng CNXH bởi vì Cách
mạng văn hóa là một bộ phận của cách mạng XHCN, như Lênin đã từng khẳng định: giai cấp
công nhân sau khi đã hoàn thành cách mạng thì khâu cuối cùng có xây dựng được CNXH hay
không là tùy thuộc vào cuộc cách mạng văn hóa. Có thể thấy rằng Nghị quyết TW 5 về văn hóa
chính là sự tiếp tục triển khai Tư tưởng HCM về văn hóa: gốc của văn hóa chính là dân tộc, văn
hóa phải soi đường cho quốc dân, dân tộc và văn hóa là một mặt trận, văn nghệ sĩ là các chiến
sĩ trên mặt trận này.
Về cơ sở thực tiễn, việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước bởi những lý do
sau:
- Sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng ta và nhân dân ta đòi hỏi phải phát huy
cao độ năng lực của con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, đẩy mạnh
CNH-HĐH đất nước, thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Mặt khác, cùng với tiến trình đổi mới đất nước, chấp nhận nền kinh tế thị
trường là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn
hóa của mọi tầng lớp dân cư, quá trình dân chủ hóa xã hội,…những yếu tố này làm
thay đổi đời sống văn hóa dân tộc. Khi tiếp xúc với nền văn minh vật chất, con
người dễ nảy sinh tâm lý sùng bái kỹ thuật, chạy theo cái mới, cái hiện đại và đối
lập với cái truyền thống. Tâm lý tiêu dùng vật chất, chạy theo đồng tiền làm mờ
nhạt các giá trị tinh thần vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc. Thực trạng suy
thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống ở một bộ phận “không nhỏ” cán bộ, Đảng viên
và quần chúng ngày càng phổ biến hơn, tinh vi hơn, nghiêm trọng hơn, đòi hỏi
chúng ta phải chấn hưng nền văn hóa dân tộc thông qua sự nghiệp xây dựng và phát
triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
12
- Ngồi ra, việc mở cửa để hội nhập với khu vực và các nước trên thế giới, tiếp
thu những thành tựu văn hóa văn minh của nhân loại đòi hỏi chúng ta phải có một
trình độ văn hóa tương ứng để tiếp biến các thành tựu đó và làm chủ được những

nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, đấu tranh chống các
khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ phá hoại khối đại đồn kết dân tộc.
- Nghiên cứu, nắm bắt kịp thời thành tựu của văn hóa – thơng tin hiện đại, huy
động mọi tiềm lực xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa, chăm lo các tài năng,
chủ động có kế hoạch, chính sách, cơ chế phù hợp để tạo điều kiện cho văn hóa
nước nhà phát triển vững chắc và đúng hướng trong thời kỳ mới.
Về nhiệm vụ trọng tâm, Đảng ta đã xác định :
- Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và
đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà
nước, MTTQ, các đồn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thơn xóm,
đơn vị, tổ chức cơ sở,…
Cần xác định đây là nh/vụ quan trọng thường xun, vừa cấp bách, vừa cơ
bản, lâu dài.
Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, thơng qua cuộc vận động lớn về xây dựng đạo đức, lối sống theo Tư tưởng
HCM.
- Nâng cao chất lượng, hiệu qủa nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo
5 đức tính được xác định trong Nghị quyết TW 5(khố VIII); cụ thể hóa theo các
đối tượng, gắn chặt mục tiêu xây dựng con người với hoạt động thực tiễn và các
phong trào thi đua u nước sâu rộng trong quần chúng.
- Chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là cộng đồng dân cư, xây
dựng mơi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú. Thường xun nâng cao
trình độ phổ cập văn hóa, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao và đa dạng của
các tầng lớp nhân dân đi đơi với nhiệm vụ bồi dưỡng các tài năng văn hóa.
Thực hiện nhiệm vụ, phương hướng đó, một số giải pháp chủ yếu cần phải áp
dụng trong q trình triển khai thực hiện bao gồm :
- Giải pháp hàng đầu là nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ
chức Đảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hóa; bảo đảm định hướng chính
trị đi đơi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của cơng tác văn hóa; chủ động
xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa từ địa phương đến TW. Các cấp

việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm sắp tới là khát
vọng to lớn và quyết tâm chiến lược của Đảng ta nhằm phát triển mạnh mẽ văn hóa
dân tộc, chấn hưng đất nước, đưa nước ta thốt khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên
sánh vai với các nước trên thế giới. Đây là sự nghiệp lâu dài của cả quốc gia, dân
tộc và để sự nghiệp thành cơng đòi hỏi phải có nghị lực phi thường, sức đóng góp
sáng tạo của tồn dân, đặc biệt là các thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ, những người hoạt
động văn hóa – thơng tin, của mọi cấp, mọi ngành liên quan đến vai trò lãnh đạo
của Đảng và quản lý của Nhà nước
Câu hỏi 12: Văn hóa như sau: văn hóa là hoạt động nhằm phát huy năng lực
bẩm sinhvà bản chất của con người vươn tới chân, thiện, mó. Là hoạt động
nhằm tạo ra những giá trò, những chuẩn mực XH , là môi trường thứ 2 , là
nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người.
Thuật ngữ văn hóa xuất hiện từ lâu trong ngôn ngữ cuả dân tộc ta và của nhân
loại; cho đến nay văn hóa vẫn là 1 trong những khái niệm phức tạp và khó xác
đònh. trong cuốn sách văn hóa theo… của Kaplan D và Manners R.A xuất bản tại
NewYork năm 1972, 2 tác giả cho rằng đã có tới 200 đònh nghóa về văn hóa.
Song có thể đònh nghóa văn hóa như sau: văn hóa là hoạt động nhằm phát huy
năng lực bẩm sinhvà bản chất của con người vươn tới chân, thiện, mó. Là hoạt
động nhằm tạo ra những giá trò, những chuẩn mực XH , là môi trường thứ 2 , là
nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người
tổng thư ký UNESCO Fedetico Mayor cho rằng: văn hóa là tổng thểsống động các hoạt động
sáng tạo (của cá nhân và cuả cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt
động sáng tạo ấy đã hình thành nênhệ thống các giá trò; các truyền thống và thò hiếu- những
yếu tố xác đònh đặc tính riêng của mỗi dân tộc
Với ý nghóa đó thì văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hạt động
trên các lónh vực KT, XH hay cư xử, giao tiếp… Cho đến cả những suy tư thầm kín nhất. DO
đó, nói đến văn hóa là nói đến con người; nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện XH. Con
người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên, cũng như vậy. Con người không thể trở thành con
người nếu tách rời môi trường văn hóa, Tại hội nghò ĐB những người tích cực làm công tác văn
hóa quần chúng toàn miền bắc lần I (11/2/1960), HCN nêu rõ “văn hóa phải thiết thực phục vụ

hàng ngày cu3a nhân dân”
Văn hóa là nền tảng tinh thầncủa XH nên văn hóa phải góp phầnvào việc nâng cao đời sống
vui tươi, lành mạnh của quần chúng nhân dân. Bởi vì sự nghiệp văn hóa suy cho cùng là vìcon
người, như nhận đònh của Đảng ta ”nhiệm vụ trung tâm của sự nghiệp văn hóa là bồi dưỡng
con người VN về trí tuệ, bản lónh, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, nhân cách, xây dựng
thế giới quan KH, nhân sinh quan XHCN, hướng con người tới những giá trò chân, thiện, mó. Vì
vậy,trong quá trình phát triền KT-XH, coi trọng chính sách đầu tư cho văn hóa, đầu tư cho con
người, khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân tham gia phát triển và sáng tạo văn hóa,
đồng thời hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn”
Để phản ánh rõ nét vai trò của văn hóa là góp phần nâng cao đời sốngvui tươi, lành mạng của
nhân dân, chúng ta cần làm rõ một số chúc năng co bản của văn hóa sau đây:
_Chức năng nhận thức:văn hóa có vai trò trong việc phát triển năng lực nhận thức của con
người, nâng cao khả năng hiểu biết cuả con ngườivề tự nhiên, XH và tư duy. Hiệu quả hoạt
động của con người phụ thuộc rất lớn vào năng lực nhận thức, năng lực nhận thức càng phát
triển thì hoạt động của con người càng có hiệu quả, ngược lại nếu năng lực nhận thức kémthì
hoạt động của con người sẽ kém hiệu quả
13
Chức năng nhận thức có mặt trong bất cứ hoạt động văn hóa nào, thiếu chức năng nhận thức thì
không thể nói đến bất cứ chức năng nào khác. Một tác phẩm nghệ thuật trước khi làm rung
cảm trái tim người đọc, người xem thì tác phẩm đó phải được mọi người hiểu, phải mang đến
cho họ nhận thức mới về cuộc sống của con người… Vì vậy, nâng cao trình độ nhận thức của
con người cũng chính làphát huy những tiềm năng của con người. Đó là bước đầu rất quan
trọng để hoàn thiện con người, hoàn thiện XH, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi,
lành mạnh của nhân dân. Không phải ngẫu nhiên trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến
chống pháp, Bác Hồ đã đề ra khẩu hiệu “diệt giặc dốt”, “diệt giặc ngoại xâm”
_Chức năng giáo dục: nói đến chức năng giáo dục là nói đến việc đònh hướng XH,là lý tưởng,
đạo đức và hành vi của con người theo “điều hay lẽ phải”. Chức năng này có vai trò rất quan
trọng trong việc giaó dục hình thành nhân cách con người, sự phát triển toàn diện của con
người thông qua việc truyền tảinhững tri thức kinh nghiệm, kỹ năng, mô thức ứng xửcủa cộng
đồng cá nhân. Sức mạnh và hiệu quả của chức năng này là nó tác độngđược toàn bộ các năng

hiện tai. Trải qua hàng ngàn thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy tạo nênmột hệ thống các giá tò,
truyền thống, thò hiếu và tập quán. Văn hóa vừa là kết quả hoạt độngthực tiễn của con người,
vừa ảnh hưởng trực tiếp sâu xến hành vi của từng con người và cộng đồng dân cư trong SX
và tổ chức đời sống, trong sinh hoạt gia đình, giao tiếp ứnh xửngoài XH, trong hoạt động quản
lý, trong quan hệ quốc tế…Văn hóa là đònh hướng XH, là hướng lý tưởng đạo đức, hành vi của
con người theo chuẩn mực XH. Do vậy, nôi dung của văn hóa phải phù hợp với chuẩn mực
XH, phù hợp với truyền thống dân tộc, tính giai cấp của một chế độ XH nhất đònh. Ngoài ra,
văn hóa phải tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp để xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
CT HCM rất quan tâm đến đời sống tinh thần dân tộc, đối với Bác, việc phát huy cốt cách
truyền thống dân tộc không tách rời việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, Bác dạy:
khôi phục cái cũ nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra. Học cái cũ lá
để sáng tạo cái mới, phục vụ cho cuộc sống mới chư,ù không phải quay về cái cũ. Đối với tinh
hoa văn hóa nhân loại, việc khai thác là để làm giàu, lảm đẹp nền văn hóa dân tộc, để phát huy
những truyền thống đẹp đẽ vốn có của dân tộc. Những quan điểm của Bác về văn hóa đến bây
giờ vẫn còn giữ nguyên giá trò. Vì vậy, việc nghiên cứu sâu và quán triệt đầy đủ, sáng tạo tư
tưởng của Bác về văn hóa văn nghệlà cơ sở quan trọng để chúng ta tiến hành đổi mới , nâng
cao trình độ lãnh đạo và văn học nghệ thuậtnhằm khắc phục những yếu kém về phát triển văn
hóa văn nghệ ở nước ta hiện nay
Ngày nay chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong thời kỳ này những ký ức, tập quán,
tâm lý của XH cũ còn in đậm nét trong mỗi con người của chúng ta, trong khi đó hình thái KT-
XH mới đang dần hình thành, nen chưa gây được ấn tượng sâu sắc. Chúng ta chưa giải phóng
khỏi quan niệm phát triển con người một cách phiến diện để vươn tới quan niệm toàn diện về
phát triển con người. Trong thực tiễn thường chúng ta chỉ thấy những nhu cầu trước mắt, có khi
là những nhu cầu thiển cận như chăm lo nhu cầu tối thiểu về vật chất của con người mà không
nhìn thấy yêu cầu có tính chiến lược để dần dần hình thành những con ngưới có sự phát
triểnh hòa, phong phú. Sự hạn chế đó là nguyên nhân của tình trạngxem nhẹ đời sống tinh
thần của con người, xem nhẹ yêu câu phát triển naăng khiếu của người lao động. Kết quả của
tình trạng đó dễ dẫn đến chỗ tạo nên những con người chỉ lo lợi ích vật chất trước mắt bỏ qua
những giá trò cao đẹp của cuộc sống . Những hành vi thô tục càn quấy , hiện tương làm ẩu làm

thưà truyền thống CM của dân tộc, phát huy ý chí tự lực, tự cường trong xây dựng và bảo vệ tổ
quốc, “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh
của quần chúng”. Để xây dựng và phát triển nền VH tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta
cần tiến hành những nhiệm vụ cơ bản mang tính bức xúc sau đây :
- Quán triệt và tuyên truyền phổ biến rộng rãi chủ nghóa Mác Lên nin và tư
tưởng HCM trong dân chúng làm cho chủ nghóa Mác Lên nin và tư tưởng HCM
trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thành của XH ta.
- Xây dựng con người mới với các tiêu chí phát triển về trí tuệ, cường tráng về
thể chất, phong phú về tinh thần trong sáng về đạo đức, đáp ứng được nhu cầu
của CNH, HĐH.
- Xây dựng lối sống mới;
- Xây dựng gia đình VH, hướng vào các tiêu chíù gia đình no ấm, thuận hoà, dân
chủ, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc;
- Xây dựng môi trường VH trong lành bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái
XH.
- Xây dựng đời sống VH cở sở;
- Giữ gìn và phát huy các giá trò, các di sản VH của DT. Đáng chú ý là các giá
trò các di sản VH của các DT ít người trong cộng đồng DT VN.
- Xây dựng các thiết chế VH đủ mạnh để tổ chức các hoạt động VH, xây dựng
nền VH DT.
- Tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về VH
- Phát triển VH KH, VH giáo dục, VH nghệ thuật.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước trên lãnh vực VH
văn nghệ
Cau hỏi 16: Tại đại hội đại biểu những con người tích cực làm công tác
văn hóa quần chúng toàn miền Bắc lần thứ nhất( con người 11-2-1960) Hồ
Chủ Tòch nêu rõ:
“Văn hóa phải thiết thực ï phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng
cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng. Vì vậy, nội dung văn hóa
phải có ý nghóa giáo dục”. ( Hồ chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb Ctqg Hà Nội

văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó, toàn bộ đời sống tinh thần của con người được
hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển. Con người không thể tồn tại nếu tách
rời đại tự nhiên, cũng như vậy, con người không thể trở thành con người nếu
tách rời môi trường văn hóa.
Thường, người ta chia văn hóa ra hai lónh vực văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần. Sự phân chia này cũng là cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn đối
với các sản phẩm văn hóa. Bên cạnh các sản phẩm tinh thần như các tác phẩm
văn học- nghệ thuật những phát minh khoa học, các phong tục tập quán vv… Tuy
vậy, sự phân chia đó cũng chỉ có ý nghóa tương đối. Cái gọi là văn hóa vật chất
hay văn hóa vật thể thật ra là vật thể hóa các giá trò tinh thần.
Như vậy, văn hóa là hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá
trò chân, thiện, mỹ. Tổng thể các hoạt động văn hóa tạo nên một thiên nhiên thứ
hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người. Chính với ý nghóa đó, văn
hóa co1 những chức năng xã hội đặc biệt. Các chức năng xã hội giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về bản chất của văn hóa và vò trí, vai trò của văn hóa trong đời sống
xã hội
Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa kiệt xuất. Nghò quyết UNESCO viết: "sự
đóng đóng góp quan trọng những mặt của Chủ tòch Hồ Chí Minh trong các lónh
vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng
ngày năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của người là hiện thân của
những khát vọng, của các dân tộc trong việc khẳng đònh bản sắc dân tộc của
mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau"
Hồ Chí Minh là biểu hiện tập trung cốt cách tâm hồn của người Việt Nam,
thể hiện cái khí thế xông lên của dân tộc, cái hùng thiêng sông núi Việt Nam. Tư
tưởng về văn hóa của Hồ Chí Minh là cách cảm, cách nghó, cách nói của người
luôn thể hiện ở cách cảm, cách nghó, cách nói của dân tộc Việt Nam. Nội dung
của các tác phong đó là lao động, chiến đấu của dân tộc Việt Nam.
"Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp.
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông.
Nay ở trong thơ nên có thép.

Với chức năng giáo dục, văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lòch sử
nhân loại và lòch sử dân tộc không bao giờ có thể cắt đứt con người với lòch sử,
nên cũng không thể tách con người ra khỏi văn hóa, vì văn hóa cũng là bản thân
lòch sử của con người là cội nguồn của mỗi con người, việc giáo dục con người
bằng văn hóa, bằng các giá trò truyền thống văn hóa có vai trò rất quan trọng
Hồ Chủ Tòch nhắc nhở, giáo dục: "dân ta phải biết sử ta cho từng gốc tích nước
nhà Việt Nam". Sức mạnh và hiệu quả của giáo dục văn hóa là ở chỗ nó huy
động được toàn bộ các năng lực tinh thần và tác động tới chỗ sâu kín nhất của
đời sống tinh thần của con người.
Văn hóa là hoạt động tinh thần để hướng tới chân, thiện, mỹ, mỗi hình thức
hoạt động tinh thần phát huy các chức năng xã hội khá nhau
Trước tiên là chức năng nhận thức. Nói đến chức năng này không thể quên
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Từ những kinh nghiệm đúc kết trong
lòch sử dân tộc và thế giới Đại Hội VIII Đảng ta đã chỉ rõ: “ giáo dục và đào tạo
phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Bằng nhiều hình thức đa dạng bảo
đảm cho mọi người được học, nhất là người nghèo và con em các gia đình chính
sách” (VKĐH Đ B TQ lần THỨ VIII, Nxb CTQG hà nội 1996 tr 29).
Nâng cao nhận thức của con người là phát huy những tiềm năng của con
người. Bước đầu hoàn thiện con người hoàn thiện xã hội.
Cùng với chức năng nhận thức là chức năng thẩm mỹ, chức năng này gắn
liền với văn học nghệ thuật. Vì lẽ con người luôn luôn hướng tới cái đẹp. Mác
nói: “ bản chất con người là biết nhào nặn hiện thực theo qui luật của cái đẹp”.
Biết rung động trước cái đẹp, ở một mức độ nào đó tạo nên phẩm chất đao5 đức
của con người. Vươn tới cái đẹp là một trong những động lực quan trọng tạo nên
những tiến bộ về vật chất và tinh thần của cuô5c sống con người. Do đó, chức
năng thẩm mỹ không thể tách rời chức năng nhận thức.
Người ta còn nói đến chức năng dự báo. Văn hóa là tổng thể những hoạt
động về tinh thần và trí tuệ, là sự phát hiện dần dần những qui luật tự nhiên của
xã hội và của con người, nhằm mở rộng sự hiểu biết sức tưởng tượng khám phá
và sáng tạo của con người.

Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo: "đẩy mạnh việc thực hiện Nghò quyết
Trung ương 2 Khóa 8 về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ. Coi trọng giáo
dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghóa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu
chủ nghóa XH, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, lòch sử dân tộc và bản sắc
dân tộc ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đề của đất nước, bồi
dưỡng ý thức và năng lực phát huy giá trò văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại…" (Nghò quyết Trung ương 5 Khóa 8 - Trang 63).
Phải xây dựng con người Việt Nam trong tương lai có đời sống mới, có lối
sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần, kiệm, trung thực, nhân nghóa, tôn
trọng kỷ cương phép nước, qui ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện
môi trường sinh thái". Và "giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình
Việt Nam.Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha, mẹ. Coi trọng xây dựng
gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khắng khích giữa gia đình, nhà trường
và XH. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao
tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn
minh…" (Nghò quyết Trung ương 5 khóa 8 - trang 60)
Như vậy,Văn Hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc
nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng. Nội dung văn hóa phải
có ý nghóa giáo dục”, có vậy, văn hóa mới phát huy hết giá trò tinh thần của
mình.Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay /.
Câu hỏi 18: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 có ghi: “Văn
hóa là nền tảng tinh thần của XH vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
phát triển KT XH. Mọi hoạt động văn hóa văn nghệ phải nhằm xây dựng và
phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con
người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm sống, xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh cho sự nghiệp phát triển XH”.
Bằng lý luận văn hóa, đồng chí hãy phân tích nhận đònh trên.

Tinh thần đó đã được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua cứu quốc
ngày 25/11/1946 gốc “văn hóa và dân tộc”.

Như vậy cái “gốc văn hóa là dân tộc” được thể hiện như thế nào? Ta thấy
rằng bản chất văn hóa gồm nhiều thuộc tính. Thuộc tính nhân loại, thuộc tính
giai cấp nhưng tập trung nhất vào thuộc tính dân tộc bởi vì không một dân tộc
nào tồn tại biệt lập với nhân loại và tồn tại với chỉ 1 giai cấp.
Bản chất của văn hóa là nhằm để phát triển XH, dân tộc và con người, sức
mạnh của dân tộc cuối cùng được qui đònh bởi con người của dân tộc bởi đời
sống tinh thần của dân tộc là giá trò của nền văn hóa dân tộc.
Trong sự phát triển nền văn hóa dân tộc thì cuối cùng con người quyết đònh
bởi vì chính con người dân tộc duy trì sự sống văn hóa của dân tộc, là lực lượng
tiếp nhận giá trò quá khứ và tạo ra giá trò mới, chính con người dân tộc giữ lấy
tiếng nói thuần phong mỹ tục và phát triển ý thức dân tộc, con người không có ý
thức dân tộc là người mang ý thức nô lệ dễ làm điều xấu và không dám được.
Con người tồn tại thế hệ và kế tục những giá trò tốt đẹp của thế hệ sau đối
với thế hệ trước là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển dân tộc. Nước ta trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa cần phải quan tâm đến con người
đặt con người vào vò trí trung tâm vì con người là yếu tố sống động nhất trong
cuộc sống để phát triển văn hóa XH. Do đó, giữa văn hóa và dân tộc có mối
quan hệ mật thiết với nhau.
Vậy dân tộc là gì?
Dân tộc là 1 hình thái 1 vận động của lao động XH loài người. Sự vận động
ấy đưa đến tính cộng đồng trên các mặt: lãnh thổ, quốc gia, KT XH văn hóa ( có
ngôn ngữ, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng, nghệ thuật).
Lãnh thổ là 1 yếu tố đầu tiên của mỗi dân tộc mang tính đặc trưng, qui đònh
nền văn hóa của dân tộc đó, quốc gia là lãnh thổ có chủ quyền ở đó có Nhà
nước.
KT XH mang tính nhân loại. Văn hóa mang tính dân tộc tính đặc thù riêng
có của dân tộc.Có thể nói dân tộc là nền tảng là cội nguồn là cái gốc của văn
hóa. Còn văn hóa là bộ mặt tinh thần của dân tộc nó được hình thành và phát
triển dân tộc. Vì lẻ đó Bác Hồ nói “gốc văn hóa là dân tộc”. Tại sao nói gốc văn
hóa là dân tộc?

Thứ 2 lao động con người ứng xử với cộng đồng nó phản ánh trên nền tảng
lao động thứ nhất là bằng một quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Lao động phát triển của XH qui đònh công nghệ văn hóa, công nghệ vận
động là sự chuyển giao văn hóa từ thời đại sang thời đại khác từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Sự vận động của các thế hệ ấy quyết đònh sự chuyển giao XH giữa
các thế hệ đây là qt > bc.
Chất lượng phát triển văn hóa của mỗi dân tộc được thể hiện tập trung
trong công nghệ, chuyển giao văn hóa phát triển qt thay đổi công nghệ và suy
cho tận cùng nếu nó phát huy được những tiềm năng dân tộc đã tạo ra trong lao
động thì dân tộc sẽ phát triển và vững chắc. Nếu ngược lại sẽ rơi vào hậu quả
mất bản sắc dân tộc hoặc làm cho nền văn hóa ngưng trệ không phát triển đây
ch1nh là 1 vấn đề có tính lý luận vá thực tiễn đối với nước ta hiện nay. Lao động
của dân tộc mang tính đặc thù nó qui đònh đặc thù văn hóa. Dân tộc ta liên tục
chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc nên hệ giá trò cao nhất là chủ nghóa
yêu nước chủ nghóa anh hùng CM, chủ nghóa nhân văn.
Ở nước ta văn hào Nguyễn Du và Đồ Chiểu góp phần tạo nên nến văn hóa
dân tộc Việt Nam. Bản thân văn hóa cũng có lao động của nó. Mỗi 1 nền văn hóa
không bao giờ tự khép kín mà nó phát triển trong giao lưu kế thừa.
Quốc tế giao lưu kế thừa phong phú hóa nền văn hóa dân tộc mình đồng thời
cũng góp phần làm phong phú nền văn hóa nhân loại. Ở đây tính nhân văn, hiện
đại được thể hiện thực hiện như vậy không có sự mâu thuẫn đối lập giữa tính dân
tộc của văn hóa với tính nhân văn.
Như vậy tính dân tộc của văn hóa thể hiện ở những điểm nào?
Tính dân tộc được thể hiện trong truyền thống văn hóa dân tộc, đó là những
giá trò văn hóa của thời đại sau gìn giữ và phát triển. Truyền thống là cái không
thấy được nó như một dòng chảy liên tục khi nhìn vào chò Dậu có bóng dáng
nàng Kiều. Truyền thống trừu tượng nhưng cũng được thể hiện trong những hình
tượng giá trò cụ thể. Không phải toàn bộ những giá trò để lại đều là truyền thống
chỉ có những giá trò nào được thế hệ sau tiếp nhận làm sống lại mới trở thành
truyền thống.

cá nhân.
Nhân cách là sản phẩm của nhân loại Lênin nói “ cùng với dòng sửa mẹ con
người hấp thu tâm lý đạo đức của XH mà nó là thành viên nhân cách con người
sinh ra và lớn lên phát triển theo con đường từ bên ngoài vào nội tâm, tứ các
quan hệ phát triển tự nhiên với XH với thế giới động vật và tinh thần”.
Như vậy bản sắc văn hóa thể hiện 1 cách toàn diện trong cộng đồng và
trong cuộc sống con người. Khi ứng xử với tự nhiên, với XH với bản thân mình.
Đường lối xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với đặc
trưng: dân tộc hiện đại và nhân văn vừa mang tính thực tiễn là sự đònh hướng
phát triển nền văn hóa dân tộc để xây dựng 1 nền văn hóa mới vấn đề kế thừa
giá trò truyền thống Việt Nam phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề có ý
nghóa chiến lược nhằm phát triển KT XH dân tộc con người, nhằm tạo điều kiện
cho nhân dân lao động thật sự là chủ nhân của nền văn hóa dân tộc qt quốc tế
hóa toàn cầu hóa sinh hoạt loài người tăng lên bao nhiêu thì quốc tế dân tộc ý
thức về cội nguồn, ý thức về độc lập tự chủ của quốc gia dân tộc càng tăng lên
bấy nhiêu. Nền văn hóa phát triển đậm đà về bản sắc bấy nhiêu thì càng phong
phú gần gủi và thống nhất với nền văn hóa chung toàn nhân loại.
Để có 1 nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc kế thừa và phát huy
các giá trò truyền thống văn hóa dân tộc. Mặt khác phải tiếp thu văn hóa nhân
loại 2 mặt ấy diễn ra đồng thời có mang bản chất tiếp thu văn hóa nhân loại trên
nền tảng “gốc văn hóa là dân tộc” nhằm làm phong phú và nâng cao văn hóa
dân tộc để thích ứng với thời đại trên con đường phát triển.
16
Trong công cuộc đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
XH công bằng, dân chủ, văn minh kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân
tộc là 1 việc trọng đại có ý nghóa chiến lược của sự kết hợp 1 nền văn hóa mới “
đi vào KT thò trường mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, tiếp thu không tinh hoa của nhân loại, không phải coi trọng những giá trò
truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không để tự mình đánh mất mình.
Trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác” VKĐH8./.

Với tinh thần trên, chủ nghóa Mác gắn lối sống phương thức sx và hình thái
KT - XH. Tuy nhiên khi đònh nghóa về lối sống còn có những điểm khác nhau, ở
chỗ mỗi người thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của lối sống. Việt
Nam, các Nghò quyết của Đại hội Đảng đã nêu lên nguyên lý cơ bản của chủ
nghóa Mác - Lê nin về XH và con người, vạch ra bức tranh chung của XH Việt
Nam, nhấn mạnh những đặc trưng của con người và lối sống mới. Từ những
phạm vi rộng lớn của lối sống, có thể đònh nghóa lối sống như sau: lối sống na
một phạm trù XH học khái quát toàn bộ hoạt động sống của dân tộc, các giai
cấp, các nhóm XH, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH
nhất đònh, và biểu hiện trên tất cả các lónh vực của đời sống: trong lao động và
hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn
hóa:
II/- Những đặc trưng cơ bản của lối sống lành mạnh:
Lối sống là dấu hiệu phân biệt khác nhau giữa cộng đồng này với cộng
đồng khác, là một tổng thể những hình thái hoạt động của con người, phản ánh
những đặc điểm về sinh hoạt vật chất, tinh thần và XH của cộng đồng người đã
tạo nên lối sống đó. Lối sống XH là một sản phẩm tất yếu của một hình thái KT -
XH, nó góp phần củng cố và phát triển hình thái KT - XH đó. Lối sống mới có
những đặc trưng cơ bản của con người đi lên chủ nghóa XH. Nó được xây dựng
trên cơ sở có yếu tố sau:
Chế độ sở hữu đa dạng trong đó sở hữu Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.
Nguyên tắc của lối sống mới là nguyên tắc phân phối theo lao động.
Lối sống mới dựa trên nền tảng chính trò vững chắc. Đó là Nhà nước XHCN
là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Lấy chủ nghóa Mác - Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm hệ tư tưởng chỉ đạo.
Xóa bỏ các bất bình đẳng về chủng tộc, dân tộc, giới tính, thực hiện tự do
tinh thần, công bằng dân chủ và nhân ái trong mối quan hệ XH.
Mọi XH muốn ổn đònh phải xây dựng được một lẻ sống phù hợp đạo lý. Lẻ
sống là bộ phận cốt lõi nhất của lối sống, vai trò của nó giống như chiếc hoa tiêu
chỉ đường tiến tới. Chúng ta chọn lẻ sống "mỗi người vì mọi người, mọi người vì

Lối sống mới Việt Nam còn là lối sống đạo đức, thể hiện ở chủ nghóa nhân
đạo, tình thương yêu và tôn trọng con người. Đó là cái thiện, cái ác lương tâm,
danh dự, nghóa vụ đều phải dựa trên cái đúng, cái đẹp. Xa rời chuẩn mực của cái
đúng và cái đẹp, các quan hệ đạo đức chưa đủ vươn mình ra khỏi những gía trò
cũ. Lòng nhân ái Việt Nam vốn bắt nguồn từ tình cảm cộng đồng đã có từ lâu đời
như "thương người như thể thương thân" là nguyên tắc luân lý cao đẹp từ xưa, nay
cần nâng lên tầm cao mới. Lòng nhân ái Việt Nam được tôi luyện trong phong
trào đấu tranh CM gỉai phóng dân tộc và được nâng lên thành tinh thần quốc tế
chân chính. Đây chính là gía trò truyền thống nên phong hóa ngàn xưa của dân
tộc và của cộng đồng, cũng là một phẩm chất mới của lối sống mới. Vì vậy, phải
kế thừa nền phong hóa tiến bộ và tính had của dân tộc.
Một mặt quan trọng của lối sống mới là các giao tiếp văn hóa. Lời ăn, tiếng
nói, cách thức chào hỏi đều dựa trên nền tảng văn minh, lòch sự và tôn trọng lẫn
nhau. Các thủ tục về cưới xin, ma chay, giỗ chạp đều chứa đựng những giá trò
văn hóa lâu đời. Chúng ta không được coi nhẹ việc kế thừa và đổi mới những gía
trò q báu đó.
Một trong những mặt cơ bản của lối sống là đời sống hàng ngày. Nó bao
gồm toàn bộ lónh vực sinh hoạt sau giờ lao động, học tập, công tác. Những hoạt
động này chiếm khoảnh 2/3 lượng thời gian của một ngày, nhằm bảo đảm cho
người lao động phục hồi thể lực, thỏa mãn những nhu cầu về đời sống như: ăn, ở,
học hành, nghỉ ngơi, giải trí, giao tiếp XH, sinh hoạt gia đình. Thời gian qua,
chúng ta thật sự chưa quan tâm đến ý nghóa tích cực này của thời gian ngoài lao
động.
nước ta lối sống XHCN được hình thành là do kết quả những cải cách cơ
bản của Đảng Cộng sản được tiến hành trên tất cả các lónh vực của đời sống XH,
trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu SX chủ yếu, sự thống nhất về các thành
phần chính trò, văn hóa của XH và hệ tư tưởng của chủ nghóa Mác - Lê nin. Lối
sống XHCN được xây dựng trên cơ sở sự phát triển cao của lực lượng SX và các
quan hệ SX XHCN dựa trên một nền tảng chính trò vững chắc là Nhà nước
XHCN, trên một nhận thức XH mới của nhân dân và được hình thành dưới ảnh

bước. Nhiều nét mới trong gía trò văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình
thành. Tính năng động và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và
năng lực cá nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong XH tăng lên. Thế
17
hệ tiếp thu những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp và xây
dựng bảo vệ Tổ quốc.
Những việc làm thiết thực hướng về cội nguồn, về CM và kháng chiến, tưởng
nhớ các anh hùng dân tộc, q trọng các danh nh6an văn hóa, các chương trình
đền ơn đáp nghóa đối với những người có công CM và hoạn nạn đã trở thành
phong trào quần chúng. Tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng được tôn trọng.
Những mặt yếu kém:
Trước những biến động chính trò trên thế giới, một số người dao động, hoài
nghi về con đường đi lên chủ nghóa XH, phủ nhận những thành ủa của chủ nghóa
XH hiện thực trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên chủ nghóa XH ở nước ta,
phủ nhận lòch sử CM Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó không ít
người còn mơ hồ bàng quan mất cảnh giác trước những luận điệu thù đòch, xuyên
tạc, bôi nhọ chế độ ta.
Dưới sự tác động của nền KT theo cơ chế thò trường, tệ sùng bái nước ngoài,
coi thường gía trò văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng các, cá nhân vò
kỷ… gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng
tiền, đòa vò na chà đạp lên tình nghóa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí đồng
nghiệp.
Một bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức
có quyền, suy thoái về đạo đức lối sống, nạn tham nhũng, dùng tiền của Nhà
nước tiêu xài phung phí, ăn chơi sa đọa, chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Hiện
tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa đòa vò,cục bộ đòa
phương, bè phái mất đoàn kết khá phổ biến. Những hiện tượng yếu kém về tư
tưởng đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ Đảng viên đã làm giảm năng
lực sức mạnh của Đảng trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa vì sự nghiệp
phát triển toàn diện con người, vi hạnh phúc của con người.

Lối sống xây dựng trên cơ sở bảo đảm sự liên kết cộng đồng. Vì bất cứ cộng
đồng nào cũng có nền tảng của lối sống, phương thức của lối sống, chuẩn mực
của lối sống và chỉ có thông qua cộng đồng như một điều kiện tự nhiên, con
người mới là sản phẩm của văn hóa. Vì vậy, trên cơ sở cấu trúc của lối sống mà
siết chặt mối quan hệ liên kết với cộng đồng.
Lối sống là một văn hóa cuộc sống của con người. Các gía trò văn hóa tác
động vào con người bắt nguồn nhiều con đường nhưng quan trọng là phải được
thông qua cộng đồng mà cá nhân tồn tại. Lối sống của con người được thông qua
giáo dục trực tiếp, thông qua việc ảnh hưởng của các cá nhân khác, thông qua
quá trình hình thành truyền thống lòch sử và văn hóa trong bản thân, nhờ giáo
dục và ảnh hưởng của các cá nhân khác, thông qua phong tục tập quán, lễ hội,
tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ với quan niệm về nghệ thuật.
Lối sống văn hóa biểu hiện trong lối sống vật chất và trong những gía trò
tinh thần. Khi đã hình thành nhân cách văn hóa thì mỗi con người, cá nhân luôn
soi mình vào trong cộng đồng (dân tộc) để gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa
dân tộc trong mình, tiếp nhận và giữ gìn gien văn hóa ấy.
Lối sống như là văn bản văn hóa duy trì sự phát triển tinh thần XH. Trong
lối sống thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Quá khứ trình độ văn hóa chưa phát
triển thì thông qua lối sống để giáo dục con người toàn diện từ SX đến lòch sử
truyền đạt kinh nghiệm, giáo dục con người giữ được truyền thống lòch sử.
Nhờ có lối sống mà những tư tưởng chính trò, triết học quan điểm thẩm mỹ
mới được hiện thực hóa. Đồng thời lối sống tạo ra không gian hết sức rộng lớn,
cởi mở, tự do để cho mọi cá nhân phát triển trong khuôn khổ của cộng đồng.
3- Những vấn đề chung về xây dựng lối sống mới ở nước ta hiện nay:
Nội dung lối sống mới rất phong phú, nó có quan hệ đến con người, đến
phương thức SX, đến hình thái KT - XH, đến nhận thức tư tưởng, tình cảm, thái
độ, động cơ hoạt động của con người. Do vậy xây dựng lối sống mới phải xây
dựng một cách toàn diện.
Xây dựng lối sống mới phải trên cơ sở giải quyết tốt mối quan hệ giữa cái
chung và cái riêng giữa cái phổ biến và cái đặc thù, giữa cá nhân và tập thể một

hợp pháp.
Những nhiệm vụ cần lưu ý xây dựng lối sống mới ở nước ta hiện nay là:
Tiếp tục phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là khôi phục
những thuần phong mỹ tục và xây dựng nền văn hóa mới. Dân tộc ta tự hào về
nên văn hiến của mình, về những qui tắc trong nếp sống được coi là thuần phong
mỹ tục. Các phong tục thể hiện nếp sống và lối sống nghóa là nó chòu sự qui đònh
của KT, chòu sự chi phối của hệ tư tưởng của XH, của chính trò, của pháp luật,
của tôn giáo. Do đó trong điều kiện hiện nay với những phong tục không còn phù
hợp thì chúng ta phải loại bỏ mà chỉ giữ lấy những phong tục còn phù hợp yêu
cầu đổi mới của đất nước.
Xây dựng lối sống phù hợp với XH hiện đại: công nghiệp hóa hiện đại hóa,
lối sống chính trò, lối sống dân chủ, nhân đạo, lòch sử và tiến bộ … việc cải tạo
lối sống cũ lạc hậu và xây dựng lối sống mới phải tiến hành trên cơ sở phát triển
KT, phát triển XH, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
nâng cao mức sống mọi mặt của nhân dân. Bên cạnh đó giáo dục chủ nghóa Mác
- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết và phổ biến rõ ràng trong
nhân dân. Ngoài ra, phải quan tâm nâng cao trình độ học vấn, sự hiểu biết của
nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu của việc xây dựng lối sống phù hợp XH hiện đại
và góp phần thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước.
Trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa quốc tế hóa ngày càng cao đòi hỏi
xây dựng lối sống phải thống nhất được cái phổ biến và cái đặc thù, hòa nhập
cái cá tính cái bản sắc dân tộc. Có nghóa là chọn lọc tiếp thu lối sống tiến bộ,
những nhân tố của lối sống tiến bộ của nhân loại, ra sức ngăn chặn mặt tiêu cực
của đời sống hợp tác không phù hợp với lối sống văn hóa của dân tộc như: lối
sống đi vào mù quáng, lối sống tiêu dùng hàng hóa, lối sống cô đơn, lối sống ích
kỷ nhiều chiều, có nghóa là vừa không thấy đồng loại vừa hủy hoại chính mình.
Phát động phong trào cho lối sống Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc. Vì lối sống nó có phạm vi rộng lớn bao quát nhiều lónh vực đời sống văn hóa
XH và cá nhân. Bên cạnh đó xây dựng đời sống văn hóa với liên quan đến nhiều

thống TT Hồ Chí Minh.
Văn kiện HNTW4 K7 đã xác đònh hoàn toàn đúng đắn rằng: chủ chủ nghóa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của nền VĂN HÓA
Việt Nam, nền VĂN HÓA mà chúng ta chủ trương XÂY DỰNG làm nền VĂN
HÓA đậm đà BSDT với ba đặc trưng cơ bản là dân tộc, hiện đại và nhân văn.
Chính vì vậy sự nghiên cứu, tìm hiểu và học tập các giá trò tư tưởng về VHNT
của Hồ Chí Minh luôn là những vấn đề cần thiết đặt ra.Hồ Chí Minh đã từng
nêu trong tư tưởng rất sâu sắc : “VHNT cũng là một mặt trận, anh chò em là
chiến só trên mặt trận ấy”. Tư tưởng đó thể hiện ý nghóa, tầm quan trọng của Hồ
Chí Minh nhằm tập hợp cả dân tộc thành một sức mạnh kháng chiến, đặc biệt là
các văn nghệ só. Tư tưởng đó của Người đã đặt nền móng cho việc xây dựng
nền VĂN HÓA NT mới, khẳng đònh tầm quan trọng của ý chí VĂN HÓA NT
trong đời sống XÃ HỘI và khẳng đònh văn nghệ só đối với XÃ HỘI .
Từ pp tiếp cận theo quan niệm giá trò, chúng ta có thể nêu khái niệm
VHNT như sau:VHNT là một hệ các tư tưởng – thẩm mỹ – nghệ thuật được thực
tại hóa trong quá trình phát triển năng lực NT của các cá nhân và cộng đồng
(nghệ só, công chúng, giai cấp , dân tộc, nhân loại) thông qua các hoạt động
sáng tạo, bảo quản, phổ biến, đánh giá và tiêu thụ các giá trò nghệ thuật.
Qua đó cho thấy : chủ thể giá trò là hệ thống quan niệm tư tưởng- thẩm mỹ
– nghệ thuật. Hệ thống này gồm có : lý tưởng thẩm mỹ, thò hiếu thẩm mỹ, tình
cảm thẩm mỹ. Khách thể giá trò là hệ thống hình tượng nghệ thuật bao
gồm:Kiến trúc điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, văn chương, sân khấu, điện
ảnh…Nói chung là các loại hình nghệ thuật và các gía trò gắn liền với chúng, tức
các tác phẩm nghệ thuật, các hình tượng nghệ thuật.
Như vậy chúng ta có thể nói gía trò VHNT góp phần gía trò Văn hóa nói chung, là sự
thật tại hóa tư tưởng-thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo tác phẩm NT, bằng hình tượng NT sinh
động , cụ thể , trực tiếp và độc đáo.Ca1c giá trò VHNT đặc sắc tồn tại như một sinh mệnh, có
sức lan tỏa lớn, tạo sự hài hào cuộc sống con người.
Như vậy VHNT có những đặc trưng gì?
Một là, giá trò VHNT thể hiện một cách tập trung nhất, tinh tế nhất, các

HÓA mới “gốc của VĂN HÓA là dân tộc”. Điều này có ý nghóa khi chúng ta
tiến hành sự nghiệp đổi mới, mở cửa giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thò
trường. Người vẫn thường nhấn mạnh đến sự mở cửa giao lưu học tập tiếp thu
các giá trò VĂN HÓA của thế giới, đặc biệt đề cao sứ mệnh lòch sử vai trò trách
nhiệm của bản thân VHNT đối với dân tộc, đối với nhân dân .
Mặt khác, VHNT góp phần nâng cao nhận thức của con người về tự nhiên,
XÃ HỘI và nội tâm. Thông qua NT để truyền tải đến con người làm cho đời
sống con người phong phú. Góp phần hình thành nhân cách con người, đònh
hướng con người chân, thiện, mỹ, con đường tình cảm, tự giác hoàn thiện nhân
cách. Vì vậy nó tạo được ấn tượng sâu sắc khó phai mờ. Góp phần giáo dục con
người hướng tới cái đẹp, lý tưởng thẩm mỹ…và góp phần thảo mãn cho nhu cầu
giải trí của con người.
VHNT có khả năng liên kết cộng đồng, hình thành một tình cảm, tinh thần,
xu hướng vươn lên dân chủ,tự do, là nhân văn. Đồng thời hướng tới những giá trò
cao đẹp, tác động sâu sắc vào tâm hồn tình cảm của con người. Để thực hiện tốt
vai trò của VHNT là một cộng đồng, VHNT phải là vũ khí sắc bén, phải hướng
tới đấu tranh cho độc lập, tự do của tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, cho sự
phát triển toàn diện của con người, đấu tranh bảo vệ VHDT bảo vệ đường lối
quan điểm của Đảng. Đồng thời đấu tranh lên án cái sai, cái ác, đấu tranh cho
hòa bình hữu nghò giữ các DT. Muốn làm được điều âấy đòi hỏi VHNT phải tiến
đậm đà bản sắc DT, đa dạng phong phú, phải dựa trên nền tảng lý luận tiên
tiến. Sáng tác cho hay cho nhiều để cổ động nhân dân tuyên truyền ra thế giới
và lưu lại cho đời sau. VĂN HÓA phải có sức mạnh riêng của nó tác động đến
tâm hồn tình cảm của con người một cách sâu sắc, NT phải tôn trọng sự thật đề
cao chính nghóa như lời Bác hồ nói: “các nhà văn, nhà thơ, nghệ só cần miêu tả
cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn”.
Chính vì vậy, Người nhiều lần nhấn mạnh VHNT là một mặt trận “có mặt
nhiều trận,như mặt trận KINH TẾ, mặt trận CHÍNH TRỊ, mặt trận văn hóa. Mà
mặt trận văn hóa này liên kết với các thành viên hoạt động văn hóa NT, tổ chức
thành một lực lượng thống nhất hướng tới phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc.

cấp khốc liệt đương thời. Giá trò thẩm mỹ ấy ta lại tiếp tục được phát triển trong
các nhà văn hậu thế, thấy nàng Kiều của Nguyễn Du, trong hình ảnh chò Dậu
của Ngô Tất Tố.
Bác cũng nói rằng chúng ta học tập để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đó
là một mặt trận văn hóa dân tộc mà “phương Đông hay Phương Tây có cái gì tốt
ta học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam . Nghóa là lấy kinh nghiệm tốtcu3a
văn hóa xưa và nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật sự có tinh thần thuần
túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ…
VHNT phải là mặt trận, nhưng để làm được việc đó VHNT phải hấp dẫn,
phải hay, phải phong phú đa dạng, Bác “ chưa xem là muốn xem, xem rồi là bổ
ích”. Như vậy NT cũng là sức mạnh riêng của việc tác động đến tình cảm, tư
tưởng con người một cách sâu sắc, phải tôn trọng sự thật, hư cấu nhưng không
làm biến chất sự thật.
Muốn có mặt trận Văn hóa vững chắc, làm thế nào để phát huy vò trí đó
của VHNT trong sự nghiệp phát triển con người, phát triển dân tộc:
-Phải là 1 nền văn hóa tiên tiến, tức là 1 nền văn hóa lấy hệ tư tưởng của
giai cấp tiên tiến mà liên kết các gía trò, nhìn nhận và phân tích xã hội, cuộc
sống . Đó là hệ tư tưởng của giai cấp CÔNG NHÂN và chủ nghóa Mác Lê nin
làm nền tảng
- Phải là 1 nền văn hóa mang tính dân chủ và mang tính nhân dân Hồ Chí
Minh “ nghóa là người dân phải làm chủ các giá trò văn hóa “ người dân phải
19
góp phần sáng tạo gía trò văn hóa chứ không chỉ là người tiêu thụ các giá trò văn
hóa
- Phải là nền văn hóa lấy dân tộc làm gốc, phải bảo vệ và phát huy truyền
thống dân tộc.
Hồ Chí Minh “kế thừa truyền thống dân tộc là phải sáng tạo chứ
không phục cổ”
-Phải là nền văn hóa giàu tính nhân văn, đề cao giá trò con người, lòng tin đối với người
dân lao động, của người nghệ só VHNT phải làm đẹp con người. Hồ Chí Minh “người ta ai cũng

nhân dân, cùng chiến đấu và cùng sống với nhân dân , lấy cuộc sống của nhân
dân làm đối tượng phản ánh và hướng tới phụng vụ đông đảo quần chúng nhân
dân .
Vì sao người nghệ só là chiến só trên mặt trận ấy? Phải chăng vì sự nghiệp
của người nghệ só là dùng nghệ thuật văn hóa để đấu tranh, xem VHNT là 1 thứ
vũ khí tinh thần chống lại mọi lực cản cho sự phát triển xã hội, phát triển con
người.
Một nền văn hóa NT tiên tiến của thời đại nay, khi công cuộc đấu tranh
giai cấp là 1 hiện thực nổi bật , chi phối toàn bộ đời sống xã hội , thì nền văn
hóa NT ấy phải lấy tư tưởng chính trò của giai cấp tiên tiến, tức giai cấp công
nhân hiện đại làm nền tảng lý luận và phục vụ sự nghiệp chính trò giải phóng
dân tộc, giải phóng nhân dân lao động.
Quan hệ giữa văn hóa và chính trò, theo Hồ Chí Minh là chính trò lãnh đạo
văn nghệ và văn nghệ phục vụ cho đường lối chính trò của giai cấp tiên tiến,
của Đảng tiên phong cho giai cấp ấy. Nhưng nghệ thuật phục vụ chính trò theo
nói bằng tiếng nói chung của nó.
Hồ Chí Minh đánh giá cao sức mạnh của nghệ thuật, coi VHNT là một mặt
trận, Người khẳng đònh:
“cũng như các chiến só khác, chiến só nghệ thuật có nhiệm vụ nhất đònh ,
tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân …”
Hồ Chí Minh hơn ai hết là người hiểu rõ sức mạnh của nghệ thuật” văn
nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng “ như vậy ngừơi chiến só hẳn
nhiên là người chiến só!
Người nghệ só muốn trở thành người chiến só phải đạt những phẩm chất sau:
+Có quan điểm lập trường đúng đắn.
+Luôn luôn đứng vững trên quan điểm “gốc của văn hóa là dân tộc” và
“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm chính trò lý luận của chủ nghóa Mác – Lênin.
+Phải có tư tưởng nghệ thuật tiến bộ, biết phân tích cuộc sống và biết phản
ánh cuộc sống với tư tưởng thẩm mỹ tốt đẹp.

Khái niệm văn hóa:
Thuật ngữ Văn hóa xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và cho
đến nay văn hóa vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác đònh.
Song, có thể đònh nghóa văn hóa như sau: văn hóa là hoạt động nhằm phát huy
những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người, vươn tới cái chân, thiện,
mỹ. Là hoạt động nhằm tạo ra những gía trò, những chuẩn mực XH - là môi
trường thứ hai cái nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người".
Theo đònh nghóa của UNESCO: "Văn hóa là tổng hòa sống động các hoạt
động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện
tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các gía trò,
các truyền thống và thể hiện những yếu tố xác đònh đặc tính riêng của mỗi dân
tộc"
Với ý nghóa đó thì văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con
người, dù đó là hoạt động SX vật chất và SX tinh thần, hay trong quan hệ giao
tiếp XH, trong thái độ ứng xử với thiên nhiên. Vì vậy, nói đến văn hóa là nói tới
con người, là nói đến việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm
hoàn thiện con người, hoàn thiện XH. Cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát
vọng hướng tới chân, thiện, mỹ và có thể coi đó là ba trụ cột vónh hằng của sự
phát triển văn hóa nhân loại. Như vậy, khi nào chân, thiện, mỹ bò xem nhẹ hay
lãng quên chừng đó văn hóa sẽ xuống dốc. Sự xuất hiện các trường phái nghệ
thuật suy đồi, lối sống ích kỷ, tàn bạo, việc cổ vũ cho chiến tranh xâm lược, việc
tuyên truyền cho chủ nghóa thực dụng … đều là biểu hiện cho sự suy thoái văn
hóa của con người.
II/- Chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, động lực của văn hóa hướng về phát
triển, xây dựng nền văn hóa tiên tiến.
1- Chức năng của văn hóa:
A/- Chức năng nhận thức:
Văn hóa có vai trò trong việc phát triển năng lực nhận thức của con người,
nâng cao khả năng hiểu biết của con người về tự nhiên, XH, tư duy. Hiệu quả
hoạt động của con người phụ thuộc rất lớn vào năng lực nhận thức, năng lực

với con vật. Cảm xúc thẩm mỹ, tức khả năng biết rung động trước cái đẹp ở một
mức độ nào đó tạo nên gía trò đạo đức của con người.
Lòch sử ghi nhận rằng: bao đời nay người dân sống giữa cảnh sương mù
nhưng mấy ai nhận ra vẽ đẹp của nó, đến thế kỷ 19 một họa só tài ba bằng tài
năng nghệ thuật của mình đã vẽ ra bức tranh sương mù của Luân Đôn với sự hài
hòa của nhiều màu sắc khi đó người Luân Đôn mới cảm nhận về vẽ đẹp cảnh
sương mù của mình. Con người luôn sáng tạo theo qui luật của cái đẹp và gọi là
năng lực bản chất người, nó có tính phổ cập toàn diện trong toàn nhân loại, có
nghóa cái đẹp được thể hiện toàn diện trong cuộc sống của con người. Điều đó
được ghi nhận rằng công cụ lao động lúc đầu SX ra trên cơ sở tính ích dụng của
nó, về sau con người luôn hướng tới tạo dáng cho vẽ đẹp của nó, làm cho con
người thích thú khi sử dụng công cụ lao động do chính mình sáng tạo ra.
D/- Chức năng dự báo là nắm bắt được qui luật khách quan của tự nhiên,
XH và tư duy tạo ra những vấn đề có tính chất dự báo. Dự báo càng chính xác
bao nhiêu thì có ý nghóa bấy nhiêu đối với XH. Văn hóa có thể đưa ra những dự
báo cần thiết về tự nhiên, XH và con người. Lòch sử đã chứng minh cách đây 4
thế kỷ, lúc mà CNTB mới manh nha, nhà viết kòch SECHXPIA trong các vở kòch
của mình đã từng dự báo về vai trò tác oai tác oái của đồng tiền trong chế độ tư
bản, và cũng trong mấy thập kỷ gần đây trước sự phát triển ồ ạt con người
TBCN, nhiều nhà văn hóa đã dự báo thảm cảnh sẽ xảy ra đối với nhân loại như:
sự cân bằng sinh thái bò phá vỡ, sự ô nhiễm bầu khí quyển và sự hài hòa của con
người và tự nhiên bò mất đi… và ngày nay đã trở thành sự thật hiển nhiên của
cuộc sống
E/- Chức năng giải trí:
Là đáp ứng nhu cầu giải trí của con người. Giải trí là hoạt động sống là nhu
cầu của con người, nó tồn tại từ xưa đến nay trong quá trình phát triển của XH
loài người, nó cũng là hình thức con người thỏa mãn nhu cầu sáng tạo, nhu cầu
nghỉ ngơi, nhu cầu tạo sự quân bình trong đời sống. Vì vậy, giải trí đúng nghóa là
nhu cầu rất cần thiết của con người.
2/- Nhiệm vụ của văn hóa: để xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến

A/- Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển KT - XH:
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển nghóa là phát triển phải hướng tới
một nên văn hóa cao là nâng cao trình độ phát triển về ý thức, trí tuệ năng lực
sáng tạo của con người. Chăm lo phát triển văn hóa chính là chăm lo phát triển
cho con người, là điều kiện tạo cho con người phát triển toàn diện.
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển KT, nghóa là phát triển KT phải nhằm
mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tạo cơ sở vật chất cho sự
phát triển lành mạnh về đời sống tinh thần là điều kiện để thực hiện công bằng
XH.
B/- Văn hóa là động lực phát triển KT - XH:
Bài học đã từng nói: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cùng
phải chú ý đến, cùng coi là quan trọng ngang nhau: chính trò, KT, XH, văn hóa"
và "văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Các nhân tố văn hóa phải gắn kết
chặt chẽ với đời sống và hoạt động XH trên mọi phương diện. Biến văn hóa
thành một nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển. Vì vậy, văn hóa
có vai trò to lớn trong việc khơi dậy nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con
người.
Ngày nay, nói đến phát triển KT phải giải quyết 2 vấn đề cơ bản đó là: phải
giải quyết tốt vấn đề con người và giải quyết tốt cơ sở vật chất kỹ thuật của XH.
Hai mặt đó không thể tách rời nhau, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển đến đâu
thì con người phát triển đến đó và con người phát triển đến trình độ nào thì cơ sở
vật chất kỹ thuật mới trang bò đến trình độ đó. Song, con người là yếu tố quan
trọng bậc nhất của văn hóa vì suy cho cùng mọi hoạt động của con người là vì
con người.
C/- Văn hóa với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước:
Đảng ta khẳng đònh phát triển đất nước theo đònh hình XHCN, khẳng đònh
này đã chi phối lónh vực đời sống chính trò, KT, văn hóa, con người quan hệ dân
tộc, quan hệ quốc tế … nghóa là các hoạt động đó phải theo đònh hướng XHCN.
Mục tiêu đònh hướng XHCN là dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ,
văn minh; công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vậy những vấn đề đặt ra của văn hóa

ta đó là:
* Những thành tựu:
Chủ nghóa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển
sáng tạo làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và CM
nước ta là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời sống tinh thần của XH phát triển
đứng hướng.
thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghóa XH, năng lực thực tiễn
của cán bộ Đảng viên được nâng lên một bước. Khẩu hiệu hành động vì mục tiêu
"dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh" được nhân dân ta ủng
hộ mạnh mẽ.
Những nét mới trong gía trò văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước được
hình thành tính tích cực công dân được phát huy, không khí dân chủ trong XH
được tăng lên, thế hệ trẻ Việt Nam tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới và
có ý chí vươn lên. Nhiều việc làm thiết thực mang bản sắc văn hóa dân tộc đang
trở thành phong trào quần chúng rộng rãi được quần chúng tích cực tham gia.
B/- Những tồn tại:
Trước những biến động của thế giới một số người dao động, hoài nghi về
con đường XHCN, phủ nhận chủ nghóa XH hiện thực trên thế giới, phủ nhận con
đường đi chủ nghóa XH ở nước ta, phủ nhận lòch sử Việt Nam được sự lãnh đạo
của Đảng. Không ít người mơ hồ mất cảnh giác hoặc bàng quan trước những
luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của kẻ đòch.
Tệ sùng bái nước ngoài coi thường gía trò văn hóa dân tộc, chạy theo lối
sống thực dụng, vò kỷ gây tác hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, nạn buôn
lậu và tham nhũng phát triển, các tệ nạn XH gia tăng, nạn mê tín dò đoan và
nhiều hủ tục cũ đang lan tràn và phổ biến.
Nghiêm trọng là sự suy thoái về đạo đức lối sống ở một số bộ phận không
nhỏ ở cán bộ Đảng viên. Trong đó có cán bộ có chức, có quyền. Nạn tham nhũng
dùng tiền của Nhà nước để ăn chơi sa đọa. Hiện tượng quan liêu cửa quyền sách
nhiễu nhân dân, cục bộ đòa phương, bè phái mất đoàn kết khá phổ biến làm tổn
thương thanh danh và uy tín của Đảng gây bất bình trong quần chúng.

Xây dựng môi trường văn hóa trong sạch và lành mạnh bao gồm cả sinh thái
tự nhiên và sinh thái XH. Ngày nay, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình
trạng suy thoái môi trường tự nhiên và môi trường XH vẫn còn phổ biến. Suy
thoái môi trường tự nhiên là sự ô nhiễm môi trường sống như: ô nhiễm nguồn
nước, không khí do các chất thải con người và sự phá hoại rừng… Suy thoái môi
trường XH là các tệ nạn XH như tham nhũng, quan liêu, buôn bán hàng giả, xì
ke, ma túy, mại dâm… ngoài ra, trong lónh vực văn hóa đang tồn tại sự xuống cấp
về tư tưởng đạo đức, lối sống ảnh hưởng đến môi trường văn hóa lành mạnh và
sự phát triển bền vững của đất nước.
Vì vậy, xây dựng nền văn hóa tiên tiến phải đối mặt với môi trường tự nhiên
và môi trường XH. Nghò quyết Trung ương 5 xác đònh nhiệm vụ xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh bao gồm các nhiệm vụ cơ bản sau:
Tạo ra ở các đơn vò cơ sở, các vùng dân cư đời sống văn hóa lành mạnh,
đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân
dân.
Đặc biệt giữ gìn và phát huy những đạo lợi ích tốt đẹp của gia đình truyền
thống của Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha, mẹ; coi trọng
xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan hệ khắng khít giữa gia đình, nhà
trường và XH.
Đẩy mạnh xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa; nâng cao tính tự quản
của cộng đồng dân cư trong việc xây dựng nếp sống văn minh, thu hẹp khoảng
cách đời sống văn hóa giữa thành thò và nông thôn; giữa vùng KT phát triển và
vùng sâu vùng xa, biên giới và hải đảo và giữa các tầng lớp nhân dân.
Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ
sở, đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia, tăng
cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển
phong trào quần chúng hoạt động văn hóa nghệ thuật.
KẾT LUẬN: sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa ở nước ta hiện
nay có nhiều thời cơ thuận lợi, song cũng đứng trước những thách thức to lớn:
"Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là

chính bản thân của con người giá trò ẩn chứa những nhu cầu của cá nhân và cộng
đồng, thực tế của giá trò lá sức lao động sáng tạo của con người.
Người ta có thể nhận thấy ở giá trò những quan niệm thầm kín, những khát
vọng cao với riêng của mỗi cá nhân hay mỗi cộng đồng. Chính những quan
điểm ấy tạo ra chuẩn mực chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và
mục đích khả thi của hành và ứng xử và hoạt động của họ.
Nhưng suy cho đến cùng, những quan niệm, khát vọng, ao ước ấy là thể
hiện n/cầu của con người trong quá trình tồn tại, phát triển và n/cầu sản phẩm
của hoạt động thực tiển của con người .Về điểm này Mác chỉ rõ “không phái chỉ
sản xuất mới cung cấp cho vất liệu nhu cầu, mà còn cung cấp n/cầu cho vật liệu.
Khi tiêu dùng thoát ra khỏi tính chất thô bạo tự nhiên nguyên thủy của nó và
mất tính chất trực tiếp của nó vá bàn thân việc tiêu dùng ngừng lại lâu ở giai
đoạn này cũng có kết quả của một nền sản xuất bò ngừng trệ lại trong sự thô bạo
của thiên nhiên, thì bản thân tiêu dùng, với tư cách là kích thích, lại được vật
phẩm làm môi giới. Nhu cầu mà tiêu dùng cảm thấy đối với các vật phẩm đó, là
do sự tự giác đối với vật phẩm tạo ra. Một tác phẩm mỹ thuật cũng như mọi sản
phẩm khác tạo ra một công chúng hiểu biết nghệ thuật và có khả năng thưởng
thức cái đẹp. Vì vậy sản xuất không chỉ sản xuất ra một vật phẩm cho chủ thể
mà còn sản xuất một chủ thể cho vật phẩm”.
Trong đời sống xã hội có rất nhiều nhu cầu có cái chính, cái phụ, có cái
mang ý nghóa trọng đại đối với con người, cũng có cái mang ý nghóa phổ cập, rất
bình thường nhưng không thể thiếu đối với cuộc sống con người . Vì vậy giá trò
xã hội thành một hệ, được sắp xếp theo thang bật khác nhau. Người ta gọi đó là
hệ giá trò xã hội hoặc thang giá trò xã hội, thang giá trò văn hóa.
Giá trò đònh hướng cho sự lựa chọn về hoạt động, hành vi ứng xử của con
người để thực hiện và thỏa mãn những n/cầu của đời sống. Giá trò là cái để tập
hợp mọi người trong cộng đồng thành một khối vững chắc, thống hất theo mục
tiêu đã được lựa chọn, bởi nó mang tính tự nguyện.
Có nhiều cách phân chức, thiết lập hay thay giá trò. Châu âu, theo truyền
tjhô1ng có từ thời cổ đại Hy lạp - La mã, người ta quy giá trò vào 3 phạm trù:

chuẩn mực và giá trò không nên rơi vào tình trang cực đoan.
Giá trò văn hóa chính là biểu hiện trình độ phát triển của các cộng đồng, là
đỉnh cao trí tuệ của các cộng đồng trong tiến trình lòch sử. Bản chất đặc trưng
của văn hóa trí tuệ, năng lực sáng tạo khác vọng nhân văn, thể hiện trong hoạt
động sống của cá nhân và cộng đồng đều vương tới hoàn thiện nhân cách hướng
tới nhân bản, thể hiện trong giá trò văn hóa.
Tóm lại, giá trò văn hóa là sự hiện hữu của mỗi cá nhân và cộng đồng, là
hệ thống các quan niệm xác lậy ý nghóa của hoạt động văn hóa được cá nhân và
cộng đồng thừ nhận, bảo vệ, phát triển và truyền đạt cho thế hệ sau. Giá trò văn
hóa được kết tinh trong các sản phẩm văn hóa, bao gồm cả con người thể hiện
khác vọng nhân văn và trí tuệ. Ngừng hoàn thiện các quan hệ nhân tính theo
hướng chân – thiện – mỹ.
Hệ giá trò văn hóa mang tính khác quan, tính dân tộc giai cấp, tính nhân
loại phổ biến. Hệ giá trò văn hóa bao chứa trong nó chức năng đònh hướng, chức
năng nhận thức, chức năng đánh giá và điều chính hoạt động của cá nhân và
cộng đồng. Như vậy hệ giá trò văn hóa thường mang tính chất đa năng. Tuyệt
đối hóa một tính chất hay một chức năng nào đó hay tuyệt đối hóa sự khác nhau
giữa các tính chất các chức năng của giá trò văn hóa để gây ra ……… và sai lầm.
Giá trò văn hóa tồn tại thành hệ thống là do chính nhu cầu của sự tồn tại
của con người của loài người. Con người, loài người có n/cầu vật chất và tinh
thần. Con người và loài người tồn tại, phát triển thống nhất trong 2 thực thể, thực
22
thể cá nhân và thực thể cộng đồng xã hội. Vì vậy hệ giá trò văn hóa tồn tại trên
3 dạng: dạng vật thể, chử yếu là những sản phẩm văn hóa những công nghệ văn
hóa. Dạng phi vật thể, chúng tồn tại trong ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật,
tính ngưỡng, lý tưởng và niềm tin giữ vò trí rất quan trọng. Thứ ba là từng con
người và cộng đồng xã hội cũng là một dạng tồn tại của văn hóa. Văn hóa tích
lũy và kết tinh trong từng con người. Trong cộng đồng xã hội, nhằm hoàn thiện
con người và xã hội hình thành và phát triển nhân cách. Nhân cách là trung tâm
thống nhất hệ giá trò tinh thần của cá nhân và cộng đồng. Nhân cách biểu hiện

biểu tượng (thế giới trung đầu oc chúng ta) và những hồi ức về quá khứ, những
ác mộng về tương lai.
Thông qua việc sống lại của quá khứ của thế giới biểu tương nó giúp cho
con người sáng tạo hương tới tương lai những truyền thống văn hóa,những di sản
văn hóa của dân tộc không chỉ là cái để chiêm ngưỡng, để tự hào mà nó còn
tạo ra niềm cảm hứng hết sức sáng tạo. Vd: Thánh gióng, Quan Trung … đến
ngày nay ta có thể sáng taọ giá trò mới về nghệ thuật Hồ Chí Minh là người mẫu
mực cho việc coi trọng các di sản văn hóa, việc kế thừa truyền thống văn hóa và
phát huy các di sản văn hóa của dân tộc để sáng tạo các giá trò mới để phục
hưng dân tộc.
Di sản văn hóa là hiện thân cụ thể của truyền thống văn hóa và bản sắc
văn hóa dân tộc. Truyền thống văn hóa dân tộc là sự nối tiếp liên tục của các
giá trò văn hóa và cũng chính là các giá trò văn hóa do lòch sử để lại. Nhưng
không phải hoàn toàn là giá trò do lòch sử để lại đều trở thành truyền thống, chỉ
có những giá trò nào được thế hệ sau tiếp nhận làm sống lại mới trở thành truyền
thống. Quy luật tồn tại và phát triển nên truyền thống dựa vào thuộc tính năng
động nhất của nó là chọn lọc, biến đổi sáng tạo. Trong đó di sản là nguyên liệu
cho sự sáng tạo. Không có di sản, không có quá trình chọn lọc biến đổi và sáng
tạo, không có truyền thống văn hóa.
Bản sắc văn hóa dân tộc là những yếu tố tạo ra sức sống của nền văn hóa
dân tộc, duy trì và phát triển nền văn hóa dân tộc trong tiến trình lòch sử. Bản
sắc văn hóa dân tộc là những yếu tố tạo thành bản lónh của cộng đồng và con
người dân tộc. Bản sắc văn hóa là “bộ gien xã hội” di truyền nòi giống về mặt
tinh thần, là cái nhận diện dân tộc giữa cộng đồng nhân loại. Bản sắc văn hóa là
quá trình dân tộc tự ý thức để giữ lấy và tạo ra tiềm năng phát triển. V/vậy nó là
cơ sở để ta có thể đi lên CNH-HĐH đất nước.
Giá trò văn hóa tiêu biểu nhất, sâu sắc nhất, bền vững nhất của dân tộc là:
truyền thống yêu nước, chủ nghóa yêu nước Việt nam. Chủ tòch Hồ Chí Minh đã
viết “nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàng. Đó là truyền thống quý báo
của dân tộc ta”. Hội nghò BCH TW Đảng lần thứ V khóa 8 khẳng đònh: Chủ

văn hóa độc hại, những khuynh hướng hàng ngoại coi thường các giá trò nhân
văn.
Câu h ỏ i 23: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Đảng ta xác đònh văn hóa là nền tảng tinh thần của XH, là tầm cao chiều sâu
về trình độ phát triển của dân tộc, kết tinh những gía trò tốt đẹp nhất trong quan
hệ giữa người với người, người với XH, với thiên nhiên. Văn hóa là động lực, mục
tiêu của sự nghiệp CM. Trong các tư tưởng chủ đạo xây dựng nên văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghóa XH là tư
tưởng chỉ đạo hàng đầu. Những vấn đề trên đã kế thừa từ tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa. Và chúng ta rất tự hào về người sáng lập và lãnh đạo rèn luyện
Đảng ta đó là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Người được ghi nhận trong Nghò quyết
UNESCO vừa là anh hùng gỉai phóng dân tộc vừa là nhà văn hóa lớn.
Thậy vậy, Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa kiệt xuất. Nghò quyết UNESCO
viết: "sự đóng đóng góp quan trọng những mặt của Chủ tòch Hồ Chí Minh trong
các lónh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn
hóa hàng ngày năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của người là hiện
thân của những khát vọng, của các dân tộc trong việc khẳng đònh bản sắc dân
tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau"
Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa chúng ta có thể khẳng đònh: Hồ Chí
Minh kết tinh sự hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. ta biết
rằng Hồ Chí Minh là biểu hiện cao nhất của chủ nghóa yêu nước Việt Nam, là thể
hiện tập trung cốt cách tâm hồn Việt Nam: "tôi cố ý` đònh đến ngày đó (thống
nhất đất nước) tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ
và chiến só anh hùng,thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng
yêu q của chúng ta" (di chúc của Hồ Chí Minh) - NXB CTQG 1999-trang50.
Có thể nói trước lúc đi xa Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến sự nghiệp CM
mai sau, và có được những tư tưởng ấy không phải ngẫu nhiên mà là tất yếu tinh
23
thần dân tộc, yêu quê hương đất nước luôn luôn kết tinh trong cuộc đời của
người, Hồ Chí Minh là biểu hiện tập trung cốt cách tâm hồn của người Việt Nam,

tờ báo Thanh niên 1929, Công Nông (1926), Lính Cách Mệnh (1927), tờ báo Việ
lập (1941), nhân dân (1951). Hồ Chí Minh là nhà báo vó đại, người đã viết nhiều
thể loại báo chí: Bình luận, tiểu phẩm, tùy bút. Hồ Chí Minh nói: "Về nội dung
viết mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề
tài al chống độc quyền, chống PK đòa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ
nghóa XH".
Hồ Chí Minh còn là hoạt động nghệ thuật, một nhà giáo dục vó đại. Trước hết
Hồ Chí Minh là nhà thơ vó đại trong cuộc đời hoạt động của mình, người đã viết
hàng trăm bài thơ chữ Hán, tiếng Việt. Hồ Chí Minh còn là nhà văn vó đại, văn
thơ của người nhằm mục đích tuyên truyền vận động CM, nhà phê bình điện ảnh,
hội họa, điêu khắc.
Cuộc đời của Hồ Chí Minh từ Thầy giáo Nguyễn Tất Thành (trường Dục
Thanh Phản ánh Thiết) cho đến giảng viên Lý Thụy (giảng viên chính trò ở
Qang Châu Trung Quốc), người đã trở thành người Thầy vó đại của CM Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành
một Đảng CM chân chính, al người Thầy người Cha thân yêu của lực lượng vũ
trang. Người đã dẫn tới nhiều thế hệ CM xả thân vì độc lập dân tộc, tự do hạnh
phúc cho nhân dân, đã tạo ra nhiều nhà hoạt động chính trò lỗi lạc, nhiều nhà
chính trò tài ba. Hồ Chí Minh là người đặt nền tảng cho nền giáo dục mới Việt
Nam , đưa nó đi theo phương châm dân tộc khoa học và đại chúng, kết hợp khoa
học với thực tiễn. Người đã mang lại gía trò tích cực cho nền văn hóa Việt Nam,
qua Hồ Chí Minh thế giới biết đích thực về văn hóa Việt Nam , cốt cách văn
nghệ Việt Nam và là người đặt nền móng cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt
Nam , chính Hồ Chí Minh đã đưa văn hóa Việt Nam hội nhập với văn hóa thế
giới , thúc đẩy sự phát triển của văn hóa nhân loại: "không có gì q hơn độc lập
tự do" đã phản ánh khát vọng của các dân tộc trên thế giới. Đồng thời nền văn
hóa nhân văn thể hiện lòng yêu thương con người, tin tưởng vào con người, nền
văn hóa Việt Nam khi hòa nhập nhân loại sẽ thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau giữa các
dân tộc.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, vò trí văn hóa có tầm quan trọng trong cuộc

XH trước hết cần có những con người XHCN". Đặc trưng con người mới XHCN là
kế thừa được những truyền thống của dân tộc , đỉnh cao của lòng yêu nước, con
người phải có năng lực làm chủ về trình độ mọi mặt, thể lực dồi dào , đạo đức
trong sáng, "XH ta là XH dân làm chủ , đã là chủ thì phải tự xoay xở lấy , đồng
thời cũng đặt vò trí quan trọng của sự nghiệp giáo dục đào tạo con người , "bồi
dưỡng thế hệ CM cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết". Cho nên
con người có đạo đức , trí tuệ , văn hóa, sức khỏe là động lực xây dựng chủ nghóa
XH , là mục tiêu của sự nghiệp CM.
Bên cạnh nội của một nền văn hóa mới có tính chất dân tộc, khoa học và đại
chúng. Nói tổng quát và ngắn gọn nền văn hóa mới là xác lập gía trò mới trên
nền tảng và kế tục gía trò truyền thống , bù đắp thiếu hụt những gía trò truyền
thống và tạo tiền đề hình thành gía trò tương lai. Bên cạnh phải cơ cấu lại nền
văn hóa , kết hợp chủ nghóa dân tộc với chủ nghóa quốc tế , đưa khoa học kỹ
thuật cơ cấu lại nền văn hóa "khoa học hiện đại , văn hóa tiên tiến", và xây dựng
văn hóa pháp lý, đưa phương châm sống và làm việc theo pháp luật vào trong đời
sống của mọi người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh con thể hiện: văn hóa là một mặt trận , văn nghệ só là
chiến só trên mặt trận ấy. Văn hóa là một mặt trận rất quan trọng như những mặt
trận khác , văn hóa văn nghệ có tính phức tạp nên phải có chiến lược , sách lược
rõ ràng. Vngh là chiến só trên mặt trận văn hóa cho nên vò trí của họ rất cao - là
một chiến só CM. Vậy họ phải sử dụng ngòi bút của mình , tài năng nghệ thuật
của mình để đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghóa XH. Muốn vậy phải giáo
dục, xây dựng đạo đức cho họ để họ có đạo đức CM. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "dân
tộc bò áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn có tự do thì phải tham
gia CM". Trong thời kỳ quá độ "văn nghệ cần phải phê bình rất nghiêm khắc
những thói xấu tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu và cũng phải ca tụng
chân thật những người mới việc mới , để làm gương cho chúng ta ngày nay và
giáo dục cho con cháu đời sau"
Hồ Chí Minh là thể hiện văn hóa Việt Nam phải mang nội dung XHCN và tính
dân tộc sâu sắc. Văn hóa Việt Nam XHCN là nền văn hóa xây dựng trên cơ sở

Trung ương 2 Khóa 8 về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ. Coi trọng giáo
dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm , nghóa vụ công dân , lòng yêu nước,
yêu chủ nghóa XH, đạo đức , lối sống , nếp sống văn hóa, lòch sử dân tộc và bản
sắc dân tộc ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đề của đất nước ,
bồi dưỡng ý thức và năng lực phát huy gía trò văn hóa dân tộc , tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại…" (Nghò quyết Trung ương 5 Khóa 8 - Trang 63).
Phải xây dựng con người Việt Nam trong tương lai có đời sống mới , có lối
sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần, kiệm, trung thực, nhân nghóa, tôn trọng
kỷ cương phép nước, qui ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái". Và "giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt
Nam.Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha, mẹ. Coi trọng xây dựng gia
đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khắn khích giữa gia đình, nhà trường và
XH. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa , nâng cao tính
tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh…"
(Nghò quyết Trung ương 5 khóa 8 - trang 60).
Tóm lại, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với ý nghóa sâu xa và
rộng lớn của khái niệm văn hóa.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status