Đề cương ôn tập kiểm tra học kỳ I môn văn 8 - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN HKI
A. PHẦN TIẾNG VIỆT
I.Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ:
1.Từ nghĩa rộng, từ nghĩa hẹp:
- Nghĩa của từ có mức độ rộng hẹp khác nhau. Từ có nghĩa rộng mang tính khái quát cao. Từ có nghĩa rộng
chỉ một phạm vi, một lĩnh vực rộng trong thực tế khách quan. Nghĩa của từ đó bao hàm nghĩa của một số từ
ngữ khác.
Ví dụ: - Nghĩa của từ cá rộng hơn từ cá chép, cá rô, cá chim …
- Từ có nghĩa hẹp là từ mà nghĩa của nó được bao hàm trong phạm vi nghĩa của từ khác. Ví dụ: Các từ đỏ,
xanh, lam, chàm, tím… có nghĩa hẹp so với từ màu vì nghĩa của nó được bao hàm trong nghĩa của từ màu.
- Tính khái quát trong nghĩa của từ có những cấp độ khác nhau. Một từ có mức độ rộng hơn về nghĩa so với
từ này nhưng nhưng lại có nghĩa hẹp so với từ khác.
Ví dụ:
màu đỏ
vàng
trắng
đen
xanh xanh lơ
xanh lè
xanh biếc
xanh nhạt

II. Trường từ vựng:
1.Khái niệm: Là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa
Ví dụ:
- gương mặt, nước da, gò má, cánh tay, đùi đều có nét nghĩa chung là chỉ bộ phận cơ thể con người.
- soong, nồi, chảo dụng cụ nấu nướng
- một, hai, ba, trăm. ngàn, triệu trường số
2: Lưu ý:
a/ Một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn.
* Các từ trong các trường thuộc trường “mắt”:

-Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ , trạng thái của sự vật.
Ví dụ: móm mém, xồng xộc, vật vã, rũ rượi, sòng sọc ….
-Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người
Ví dụ: hu hu, ha ha, hô hố, chan chát, cồm cộp ….
2. Công dụng:
- Từ tượng hình, tượng thanh gợi được hình ảnh, âm thanh cụ thể sinh động, có giá trị biểu cảm cao; thường
được sử dụng trong văn miêu tả, tự sự.
IV. Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội:
1. Khái niệm:
a.Từ ngữ toàn dân: là từ ngữ được sử dụng phổ biến trong cả nước
Ví dụ:
- bắp, bẹ: là từ ngữ địa phương.
- ngô : là từ ngữ toàn dân.
b. Từ ngữ địa phương là từ ngữ chỉ sử dụng ở một (hoặc một số) địa phương nhất định.
Ví dụ:
- răng, rứa, chừ, mô ( từ ngữ địa phương Huế)
- sao, thế, lúc này, đâu (từ ngữ toàn dân)
c. Biệt ngữ xã hội: Là những từ ngữ chỉ được dùng trong một lớp xã hội nhất định
Ví dụ:
Mẹ và mợ là hai từ đồng nghĩa. Ở xã hội ta trước Cách mạng tháng Tám, trong tầng lớp trung lưu, thượng
lựu, con gọi mẹ là mợ, cha được gọi là cậu. => Mẹ là từ ngữ toàn dân. Mợ là từ ngữ tầng lớp trung lưu,
thường dùng để gọi mẹ.
-Các từ ngữ ngỗng, có nghĩa là hai điểm, gậy một điểm, trúng tủ trúng vấn đề đã học chắc (do đoán mò),
chồn học Đó là các từ ngữ dùng hạn chế trong tầng lớp học sinh hiện nay.
2. Cách sử dụng từ ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội:
- Phải phù hợp tình huống giao tiếp
- Trong văn học, các tác giả sử dụng hai lớp từ này để tô đậm màu sắc địa phương, màu sắc giai tầng xã hội
của ngôn ngữ , tính cách nhân vật.
- Tránh việc lạm dụng từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội vì sẽ làm lời nói khó hiểu đối với người đọc,
người nghe.

Khéo thay mang lấy sắc tài làm chi 1
Nếu không có từ thay thì không tạo lập được câu cảm thán.
- Em chào thầy ạ ! Từ ạ làm cho câu chào có tính lễ phép hơn. Khác với các ví dụ trên, từ ạ ở đây không
có chức năng tạo câu, chỉ có tác dụng bổ sung sắc thái tình cảm
Các ví dụ khác:
- Bạn chưa về à ? (hỏi,thân mật)
- Thầy mệt ạ ? (hỏi, kính trọng)
- Bạn giúp tôi một tay nhé! (Cầu khiến, thân mật)
- Bác giúp cháu một tay ạ'! ( Cầu khiến, kính trọng)
2.Phân loại tình thái từ:
- Tình thái từ nghi vấn : à, ư, hả, hử, chứ, chăng …
- Tình thái từ cầu khiến: đi, nào, với
- Tình thái từ cảm thán: thay
- Tình thái từ biểu thị sắc thái tình cảm: ạ, nhé , cơ , mà …
3.Lưu ý :
- Khi nói, khi viết, cần chú ý sử dụng tình thái từ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp (quan hệ tuổi tác, thứ bậc
xã hội, tình cảm, )
VII. Phân biệt trợ từ , tình thái từ, thán từ:
Trợ từ Tình thái từ Thán từ
-Thường được đặt ở trước từ
ngữ nói về sự vật, sự việc để
nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ
đánh giá sự vật, sự việc được nói
đến ở từ ngữ đó.
Ví dụ: những, có, chính, đích,
ngay …
- Nó ăn những hai bát cơm.( ăn
nhiều)
- Nó ăn có hai bát cơm.( ăn ít)
- Ngay cả anh cũng không thích

3
Nói quá 1.Là cách nói phóng đại mức độ, quy mô, tính
chất của sự vật, sự việc, hiện tượng để nhấn mạnh,
gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.
Lưu ý :
- Thận trọng khi dùng phép nói quá trong văn bản
hành chính, văn bản khoa học và trong giao tiếp với
người trên, người lớn tuổi.
- Biện pháp nói quá thường dùng kèm với biện
pháp tu từ so sánh,ẩn dụ, hoán dụ.
VD: rẻ như bèo , nhanh như cắt
2.Biện pháp nói quá còn được gọi là phóng đại,
cường điệu , thậm xưng hay ngoa dụ.
Thường sử dụng trong thành ngữ, tục
ngữ, ca dao…. và trong lời nói hàng
ngày.
VD:
- Khóc như mưa như gió, ruột để ngoài
da…
- Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
- Nói thét ra lửa: kẻ có quyền sinh,
quyền sát đối với người khác.
- Nàng có vẻ đẹp nghiêng nước
nghiêng thành.
-Đoàn kết là sức mạnh dời non lấp
biển.
- Công việc lấp biển vá trời ấy là công
việc của nhiều đời.
-Những chiến sĩ mình đồng da sắt đã
chiến thắng.

- Thôi rồi, Lượm ơi.
- học chưa giỏi
- nói năng chưa lịch sự.
- học chưa chăm lắm
- Bác đã lên đường theo tổ tiên.
“Bác đã đi rồi sao Bác ơi,
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm thấy Bác cười”.
Biện pháp tu từ: nói giảm nói tránh +
hoán dụ Miền Nam nhân dân Miền
Nam
Tác dụng: giảm sự đau buồn, sự mong
nhớ Bác của nhân dân Miền Nam.
Nói giảm nói tránh thể hiện cách nói
lịch sự, biểu hiện của người có văn hoá.
4
Câu ghép 1.Là những câu do hai hoặc nhiều vế câu tạo thành.
Mỗi vế câu có cấu tạo là một cụm C-V. Các cụm
C-V làm vế câu trong một câu ghép không bao
nhau.
Câu đơn Do một cụm C-V tạo
thành
Hai hoặc nhiều cụm C-
V tạo thành, trong đó
một cụm C-V bao các
cụm C-V còn lại.
VD:
Tôi biết nó rất ham
chơi.
Ngôi trường tôi học

(Giải thích)

*Giữa các vế câu ghép luôn luôn có
quan hệ ý nghĩa khá chặt chẽ. Các kiểu
câu ghép:
- Câu ghép chính phụ
- Câu ghép liên hợp/đẳng lập
*Câu ghép chính phụ: Gồm hai vế
chính phụ bổ sung ý nghĩa cho nhau
bằng quan hệ từ.
Phân loại:
+ Nguyên nhân- kết quả:
VD: Vì không nghe lời bố mẹ nên nó
không thi đậu.
+Điều kiện:
VD: Hễ còn một tên xâm lược nào thì
chúng ta phải quét sạch chúng đi.
+ Bổ sung- tăng tiến:
VD:Nó không những thông minh mà
nó còn chăm chỉ nữa.
+ Mục đích:
VD: Chúng ta phải học thật tốt để cha
mẹ vui lòng.
*Câu ghép liên hợp: Là câu ghép các
vế bình đẳng với nhau về mặt ngữ
pháp, thường nối với nhau bằng dấu
phẩy hay các quan hệ từ liên hợp.
Phân loại:
- Câu ghép liên hợp không dùng quan
hệ từ

Văn bản Tác giả T.Loại-
PTBĐ
Nghệ thuật Nội dung
1.Tôi đi
học (In
trong”Quê
mẹ”-1941)
Thanh Tịnh (1911-
1988)-Trần Văn
Ninh-Gia Lạc –
Huế .Văn đằm
thắm, trong sáng .
Truyện ngắn.
Tự sự (kết
hợp miêu tả,
biểu cảm)
-Viết theo dòng hồi tưởng,
cảm nghĩ chân thực .
-Kết hợp hài hoà giữa kể, tả,
bộc lộ cảm xúc .
-Hình ảnh so sánh gợi cảm .
Kỉ niệm trong sáng của
buổi tựu trường đầu tiên
của tuổi học trò với những
rung động tinh tế .
2.Trong
lòng mẹ
(Trích
“Những
ngày thơ

(?)
(?!)
Dấu chấm than, dấu chấm hỏi (hoặc cả hai
dấu câu này) đặt trong dấu ngoặc đơn.
Biểu thị ý nghi ngờ hay châm biếm trong
nội dung câu, được biểu hiện ở những từ
ngữ đứng trước dấu câu đó.
(,) Đặt bên trong câu. Báo chỗ ngắt nghỉ, tách rời hai bộ phận đi
liền nhau trong câu (giữa thành phần phụ
với chủ ngữ - vị ngữ, giữa các thành phần
phụ, giữa các vế của câu ghép, …).
(;) Dấu chấm phẩy đặt bên trong câu. Biểu thị chỗ ngắt nghỉ, tách hai vế của một
câu ghép, hoặc tách các bộ phận liệt kê đi
liền nhau.
(…) Dấu chấm lửng có thể đặt trước, đặt bên
trong câu hay cuối câu.
Biểu thị chỗ lược đi, chỗ chưa liệt kê hết ra;
hoặc chỗ bỏ dở do ngập ngừng, không kể ra
hết; hoặc dùng báo trước điều bất ngờ bằng
cách làm dãn câu văn khi sắp có từ ngữ nêu
nội dung đó xuất hiện.
( - ) Dấu gạch ngang đặt trước câu hoặc trong
câu.
Đánh dấu bộ phận đứng sau gạch ngang là
lời dẫn trực tiếp( lời nhân vật); hoặc bộ
phận giải thích, chú thích ; hoặc bộ phận liệt
kê; nối các từ trong một liên danh.
( ) Dấu ngoặc đơn đặt bên trong câu hoặc đặt
trước hay sau các từ ngữ làm thành phần
câu.

uyên bác .
Tiểu thuyết .
Tự sự .
-Khắc hoạ tính cách nhân
vật rõ nét .
-Miêu tả linh động ,sống
động .
-Ngôn ngữ kể chuyện của
tác giả, ngôn ngữ đối thoại
của nhân vật đặc sắc .
-Vạch trần bộ mặt tàn ác,
bất nhân của xã hội thực
dân PK đương thời .
-Vẻ đẹp tâm hồn của
người phụ nữ nông dân
vừa giàu tình yêu thương
vừa có sức sống tiềm tàng
mạnh mẽ .
4.Lão Hạc
(1943)
Nam Cao –Trần
Hữu Tri (1915-
1951)-Lí Nhân-
Hà Nam .Văn kết
hợp chất hiện thực
với trữ tình .
Truyện ngắn .
Tự sự xen trữ
tình .
-Kể chuyện tự nhiên, sinh

-Đó là một người lạnh lùng, độc ác, thâm hiểm, ích kỉ, tâm địa hẹp, rắp tâm tanh bẩn, chia cắt tình mẫu tử
của mẹ con Hồng .Bà tiêu biểu cho định kiến cổ hủ phi nhân đạo trong xã hội đương thời
b/ Tình yêu thương mẹ của bé Hồng :
- Được thể hiện qua những ý nghĩ , cảm xúc khi trả lời người cô :
+Khi nghe bà cô hỏi, Hồng đã “ cúi đầu không đáp” ,”cười đáp lại”, thể hiện tấm lòng luôn tin yêu mẹ .
+Khi tiếp tục nghe bà cô hỏi, nhục mạ mẹ, Hồng không nén nỗi đau đớn, “nước mắt ròng ròng, chan hoà,
đầm đìa ở cằm và ở cổ “; “cười dài trong tiếng khóc”. Đó là sự đau đớn, phẫn uất khi thấy bà cô chà đạp xúc
phạm mẹ .
+Hồng căm tức tột cùng những gì đày đoạ mẹ “giá những cổ tục . . . kì nát vụn mới thôi “
Qua đó, Hồng là đứa con luôn hiểu, cảm thông, nhận ra nổi đau của mẹ .Vì vậy Hồng càng nhớ thương và
kính trọng mẹ .
-Được thể hiện qua những cảm giác khi ở trong lòng mẹ :
+ Hồng khao khát gặp mẹ như người bộ hành khát khao gặp nước và bóng râm .
+Những giọt nước mắt khi gặp mẹ dỗi hờn mà hạnh phúc, tức tưởi mà mãn nguyện .
+Niềm hạnh phúc lớn lao, sung sướng cực điểm khi ở trong lòng mẹ (Cảm nhận được những cảm giác ấm
áp, mơn man, cảm nhận được sự êm dịu của người mẹ )
3.Tức nước vỡ bờ :
a/ Tính cách nhân vật cai lệ :
7
- Hành động mất tính người (sầm sập, trợn ngược hai mắt, đùng đùng giật phắc dây thừng, sấn tới trói
anh Dậu , bịch vào ngực, tát chị Dậu ). Ngôn ngữ vô học (quát, thét ,hầm hè , nham nhảm )
- Là tên tay sai chuyên nghiệp, hung bạo,dã thú , sẵn sàng gây tội ác ; Là hiện thân của bộ mặt tàn ác ,
bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời .
b/ Tính cách nhân vật chị Dậu :
-Chị chăm sóc chồng chu đáo (nấu cháo cho chồng ăn, rón rén , ân cần mời mọc, ngồi chờ chồng ăn có ngon
miệng không ), thương yêu chồng ( sẵn sàng đánh trả bọn cai lệ để bảo vệ chồng )
-Để bảo vệ chồng, thái độ ban đầu của chị là một mực van xin với lời lẽ an phận cam chịu (bẩm ông, xưng
cháu, chỉ dám đỡ lấy tay ). Sau đó tên cai lệ bịch vào ngực chị, chị đã “liều mạng cự lại “.Chị cự lại bằng lí
“Chồng tôi đau ốm, các ông không được phép hành hạ “.Lời nói cảnh cáo với tư thế ngang hàng qua cách
xưng hô “tôi- các ông”. Tên cai lệ tát vào mặt chi và cứ sấn sổ đến trói anh Dậu , chị Dậu đã cự lại bằng

- Đều mang tính nhân đạo. Yêu thương, trân trọng tình cảm, phẩm chất đẹp đẽ của con người; tố cáo chế độ
cũ xấu xa tàn ác
-Đều có lối viết chân thực, gần đời sống, sinh động
* Điểm khác nhau: Như bảng thống kê.
2.Văn học nước ngoài :
a.Những điều cần lưu ý :
Văn bản Tác giả T.Loại-
PTBĐ
Nghệ thuật Nội dung
1.Cô bé
bán diêm
An-Dec-
Xen (1805-
1875) –Đan
Mạch .
Truyện ngắn.
Tự sự .
Kể chuyện hấp dẫn , đan xen
giữa hiện thực và mộng
tưởng, tình tiết diễn biến hợp
lí .
Lòng thương cảm sâu sắc đối
với em bé bất hạnh .
2.Đánh
nhau với
Xec-Van-
Tet (1547- Tiểu thuyết. Tương phản .
*Đôn-Ki-Hô-Tê nực cười
nhưng cơ bản có những phẩm
8

Tự sự .
Miêu tả sinh động bằng ngòi
bút đậm chất hội hoạ .
Tình yêu quê hương da diết và
lòng xúc động đặc biệt vì đấy
là hai cây phong gắn với câu
chuyện về thầy Đuy-Sen, người
đã vun trồng ước mơ hi vọng
cho những học trò nhỏ của
mình .
II.Phân tích những chi tiết đặc sắc :
1.Cô bé bán diêm :
a/ Hình ảnh em bé trong đêm giao thừa : * Gia cảnh bất hạnh đáng thương :
+Mẹ, bà lần lượt qua đời, người bố khó tính hay đánh đập .
+Gia sản tiêu tán, phải đi bán diêm (đầu trần, chân đất, áo quần mỏng manh, bụng đói ) trong một
bối cảnh khắc nghiệt (đêm giao thừa, rét buốt, gió bấc thổi vun vút, đường xá vắng teo ) để kiếm sống .
+Đói, rét không dám về nhà .
b/ Thực tế và mộng tưởng :
-Khi các que diêm cháy sáng , cô bé lần lượt có những mộng tưởng : Lò sưởi, bàn ăn thịnh soạn có ngỗng
quay, cây thông Noel đẹp, được gặp và trò chụyyên cùng bà, cùng bà bay lên trời .Những mộng tưởng của
cô bé đẹp đẽ, hạnh phúc, rực rỡ và huy hoàng .Đó là những khát khao của một tâm hồn trong sáng , hướng
thiện về một mái ấm gia đình .
-Khi ánh sáng của các que diêm vụt tắt, cô bé phải đối mặt với những thực tế đau khổ : Không dám về nhà vì
sợ bố đánh ; bức tường thì lạnh lẽo, lòng người thì vô cảm ; nghĩ đến cái chết ; tất cả ảo ảnh đều biến mất ;
em bé đã chết . Đó là những thực tế đau lòng, phũ phàng và lạnh lùng mà cô bé phải chịu trong một xã hội
thiếu tình thương .
c/ Một cảnh thương tâm :
-Cô bé chết vì đói ,rét và thiếu tình thương (Người cha hay đánh đập , không yêu thương ; Khi em còn sống,
người đời qúa lạnh lạnh lùng, chẳng đoái hoài ; Khi em bé chết, họ vẫn lạnh lùng vô cảm (chắc nó muốn
sưởi cho ấm !)

b/ Hình ảnh hai cây phong :
• Với kí ức tuổi thơ trong mạch kể “chúng tôi” :
Nghệ thuật miêu tả đậm chất hội hoạ, chỉ qua những nét phác thảo, đoạn trích đã miêu tả hình ảnh hai
cây phong “ khổng lồ, mắc mấu, cành cao vút “ và bức tranh thiên nhiên “ bí ẩn, đầy sức quyến rũ “ của
những miền đất lạ
*Trong mạch kể của “tôi” :
Hai cây phong gắn với tình yêu quê hương da diết với những kỉ niệm tuổi học trò .
*Với thầy Đuy-Sen :
Là nhân chứng về câu chuyện xúc động của thầy Đuy-Sen , người đã trồng và gửi gắm những ước mơ
vào chúng .
3.Văn bản nhật dụng:
a.Thông tin về ngày trái đất năm 2000 :
+Tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông : Gây ô nhiễm môi trường , ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người . => Là vấn đề nan giải đối với nhân loại .
+Lời kêu gọi : “Một ngày không dùng bao bì ni lông “ => Thiết thực để bảo vệ trái đất .
*Nghệ thuật : Lời kêu gọi bình thường được truyền đạt bằng hình thức trang trọng , giải thích đơn giản .
*Nội dung : tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông , lợi ích của việc giảm bớt chất thải ni lông , cải thiện
môi trường sống , bảo vệ trái đất – ngôi nhà chung của chúng ta .
b.Ôn dịch thuốc lá
a- Nghệ thuật:
- Kết hợp chặt chẽ giữa nghị luận và thuyết minh
b- Nội dung:
- Nạn nghiện thuốc lá dễ lây lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khoẻ và tính mạng con người
- Cần phải có quyết tâm cao hơn và biện pháp triệt để hơn là phòng chống ôn dịch
c. Bài toán dân số
a- Nghệ thuật:
- Phương thức biểu đạt: nghị luận
- Nêu vấn đề tự nhiên, nhẹ nhàng mà hấp dẫn, lập luận chặt chẽ, số liệu rõ ràng, giàu sức thuyết phục
b- Nội dung:
- Nguy cơ của việc gia tăng dân số trên thé giới

*Bốn câu đầu : Khẩu khí ngang tàng, ngạo nghễ, bút pháp khoa trương, dùng động từ mạnh (Xách ,đánh
tan, đập bể . . . ) => Dựng nên bức tượng đài uy nghi về con người anh hùng với khí phách hiên ngang lẫm
liệt , coi thường mọi thử thách gian nan .
*Bốn câu cuối : Bút pháp đối lập => Khẩu khí ngang tàng của người anh hùng không chịu khuất phục hoàn
cảnh , giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu sắt son .
C. PHẦN TẬP LÀM VĂN:
Đề 1 : Kể về một việc làm của em khiến thầy (cô) buồn lòng .
I.Xác định yêu cầu :
*Thể loại : Văn tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm .
*Nội dung : Kể lỗi lầm khiến thầy (cô) buồn lòng .
*Yêu cầu /Giới hạn : Có thể lỗi lầm trong đời học sinh – Xưng “tôi” .
II.Dàn ý :
1.Mở bài : (Dẫn dắt vào sự việc sẽ kể )
-Nhiều năm trôi qua , tôi không sao quên được một việc làm vô ý thức của tôi khi còn học lớp 6 .
-Việc làm ấy đã khiến thầy cô buồn lòng và tôi cứ ân hận mãi .
2.Thân bài : a/ Giới thiệu sự việc, nhân vật và tình huống phát sinh câu chuyện (kết hợp MT, BC )
-Tôi là HS mới được chuyển trường vì theo ba mẹ công tác .
-Sau 3 tuần học , tôi đã được GVCN quan tâm đặc biệt (vì có tiếng là nghịch phá và lém lỉnh )
-GVCN bố trí chỗ ngồi ? (gần một bạn nữ học giỏi , chăm nhưng ít nói và nghiêm nghị quá ; lại
thường xuyên dò bài tôi lúc 15 phút đầu giờ ! )
-Sắp xếp tôi ngồi như vậy, có lẽ để tôi hạn chế những thói hư tật xấu của tôi chăng ?
-Thái độ học ở trường ? (làm kiểm tra thường quay cóp ; GVCN đã nhiều lần nhắc nhở và phân công
“bạn ấy “ theo dõi báo cáo lại .
-Suy nghĩ lúc đó ? (tự ái khi bị kìm kẹp bởi một đứa con gái ; càng tức giận hơn khi bạn ấy cứ lằn
nhằn bên tai tôi những lời góp ý khuyên can về việc học hành . . .)
b/ Diễn biến sự việc gây nên lỗi lầm :
-Tìm cách trả thù ? (phải tìm cách nào cho “bạn ấy “ sợ không dám báo cáo với GVCN mà còn thành
khẩn cho tôi xem bài khi làm kiểm tra )
-Thời cơ đã đến ? (Hôm ấy , có tiết kiểm tra Văn . Cả lớp chuẩn bị lấy giấy làm bài .Bỗng một tiếng
thét thất thanh vang lên, liền sau đó một thân người ngã quị .”Người bạn nữ “ ngồi cạnh tôi bất tỉnh .Dưới

khí như ngày hội, ai cũng mặc quần áo đẹp. Giá như mọi ngày em sẽ gấp chiếc thuyền giấy thả trôi sông.
Nhưng hôm nay, em đứng thật nghiêm chỉnh trên đò.
e, Ấn tượng của buổi học đầu tiên là hình ảnh cô giáo của em. Cô rất dịu dàng và đặc biệt có hai bím
tóc dài tới tận khoeo chân. Lời nói của cô: “con đưa mũ để cô cất nào” và nụ cười của cô- đến tận bây giờ
em vẫn không quên.
Hướng 2:
a. Hôm em sang trường dự khai giảng năm học lớp Tám, em đã tự đi xe đạp một mình. Em bỗng mỉm
cười nhớ lại cái ngày đầu tiên ở lớp Một mẹ đưa em đến lớp
b. Từ nhà em ở phố Mai Hắc Đế, đi qua phố Tô Hiến Thành, đi thẳng rất lâu mới đến trường cấp I, II
Vân Hồ. Em rất ghét mấy chị lớn hơn em một chút, thấy em lũn cũn cắp cặp đi học, cứ đùa doạ bắt trói em
và đem nhốt. Cái năm “ngớ ngẩn” ấy, em rất sợ các chị.
c. Vào lớp học, cô giáo đi thu mũ nón của các bạn trong lớp để gọn gàng một góc lớp. Em đã thật thà
hỏi cô: “lát nữa con về, cô có trả mũ nón không ạ?”. Cô giáo bật cười, xoa đầu em và bảo: “Có chứ, con!”
d, Cô giáo em có giọng nói rất hay, cô viết chữ mẫu trên bảng rất đẹp, nhưng cô lại có tên không hay.
Em nghe các bạn gọi là cô Chưng
e, Khi về nhà, sau buổi học đầu tiên, em đã hãnh diện nói với bố mẹ và chị của em là em học lớp cô
Chưng. Lập tức em đã bị chị em cười rất to và giễu: “Đó là cô Hưng. Thật là ngớ ngẩn. Tên cô giáo cũng
nghe nhầm” (Chị em học lớp ba cùng trường mà). Thật là ngượng nhớ đời!
Theo em, hai hướng triển khai của hai bạn học sinh trên về đề văn đã cho, bạn nào đúng, bạn
nào sai? Vì sao? Có điểm nào ai bạn cùng giống nhau không ? Em thích khai triển theo hướng nào?
Hãy trình bày hướng triển khai đề văn của riêng em và viết thành bài cụ thể.
Gợi ý: Cả hai hướng triển khai của hai bạn học sinh đều đúng. Vì các sự việc, các chi tiết nêu ra đều
hướng tới làm rõ ý cơ bản của đề bài là về kỉ niệm buổi đi học đầu tiên của em (tức là bài văn đã xác định
được sự thống nhất của chủ đề văn bản)
Đề 3 : Bài văn tự sự
1. Mở bài:
Có thể giới thiệu nhân vật và tình huống xẩy ra câu chuyện Cũng có lúc người ta bắt đầu từ một sự cố
nào đó, hoặc kết cục câu chuyện, số phận nhân vật rồi ngược lên kể lại từ đầu.
2. Thân bài: Kể các tình tiết làm nên câu chuyện. Nếu tác phẩm truyện có nhiều nhân vật thì tình tiết
lồng vào nhau, đan xen nhau theo diễn biến của câu chuyện

Lão Hạc ra về rồi. Nước mắt ứa ra nơi hai hõm mắt. Như một kẻ mất hồn. Thương lão quá. Cảnh già
cô đơn chỉ có con chó làm bạn sớm khuya, giờ lại bán đi. Cảnh cậu Vàng bị thằng Xiên, thằng Mục bất ngờ
túm lấy hai chân sau dốc ngược lên rồi trói lại, đôi mắt đờ ra, dại đi, rên ư ử như khóc như van… cứ hiện
ra trước mắt tôi. Và hình ảnh lão Hạc, sau khi báo tin “cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!, “Mặt co rúm lại,
cái đầu ngọeo về một bên, cái miệng móm mém cất tiếng khóc hu hu của lão làm cho tôi đau đớn và xúc
động vô cùng. Tôi nghĩ về kiếp chó, kiếp cậu Vàng, nghĩ về kiếp người. Câu nói của lão Hạc làm tôi day dứt
và thảng thốt mãi: “thì ra tôi già bằng ngần này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi
nỡ tâm lừa nó!”.
Đề :Văn thuyết minh
I. Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
1.Thuyết minh là gì?
- Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu
- Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng
2. Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức
về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, trong xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.
VD: -Giới thiệu về một nhân vật lịch sử
- Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lý
- Giới thiệu một đặc sản, một món ăn
- Giới thiệu một vị thuốc
- Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú…
3. Văn bản thuyết minh có tính chất khách quan, thực dụng, là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức
xác thực, hữu ích cho con người.
4. Một văn bản thuyết minh hay, có giá trị là một văn bản trình bày rõ ràng hấp dẫn những đặc điểm cơ
bản của đối tượng thuyết minh.
5. Văn bản thuyết minh sử dụng ngôn ngữ chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động.
Bài tập 1: Hai văn bản sau có phải là văn bản thuyết minh không? Hãy đặt tên cho các văn bản ấy?
Văn bản 1: Ở nước ta, tiền giấy được phát hành lần đầu tiên dưới thời nhà Hồ (1400 – 1407) nhưng
chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn. Sau khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, ngân hàng Đông Dương ra đời năm
1875 và tiền giấy bắt đầu được phát hành ở Nam Kì và Hải Phòng vào khoảng những năm 1891 – 1892. Sau
khi nước VNDCH ra đời, ngày 31-1 -1946, Chính Phủ đã kí nghị định phát hành tiền giấy VN và đến ngày

Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều
phương pháp thuyết minh như : nêu định nghĩa, mô tả sự vật, sự việc, nêu ví dụ, liệt kê, so sánh, đối chiếu
phân tích, phân loại, dùng số liệu, nói vừa phải, tránh đại ngôn…
14


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status