Tổng hợp câu hỏi và đáp án ôn thi môn Chính trị học - Pdf 25

Câu 1: Phân tích giá trị lịch sử tư
tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ
đại và cận đại. Những giá trị đó có tác
dụng gì với việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở nước ta hiện nay.
Bài làm
Thời cổ đại ở phương Tây, với những
cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nô
dân chủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của
nó là những cuộc cải cách dân chủ ở các
thành bang là đặc trưng cơ bản nổi bật của
hệ tư tưởng lúc bấy giờ. Thời trung cổ là sự
kết hợp và xuyên thấu lẫn nhau giữa thần
quyền và thế quyền để thống trị thần dân mà
biểu hiện cơ bản là sự thống trị của thiên
chúa giáo đối với tinh thần của nông nô. Sang
thời cận đại, đặc trưng cơ bản là sự phát triển
mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ
của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản với
sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân
dân lao động đấu tranh cho các quyền cơ bản
của con người. Đó là những nét tổng thể dệt
nên nội dung cơ bản của lịch sử phát triển tư
tưởng chính trị ở các nước phương Tây thời
kỳ trước Mác.
Việc làm rõ những giá trị phổ biến trong
sự phát triển chính trị của nhân loại qua sự
phát triển tư tưởng chính trị phương tây từ cổ
đại đến cận đại sẽ có ý nghĩa rất quan trọng
trong tổ chức thực thi quyền lực chính trị của
nhân dân lao động ở nước ta.

PLATON: yêu cầu thủ lĩnh chính trị
phải thực sự có khoa học chính trị, có tính khí
phù hợp với nhiệm vụ đảm đương. Ông xem
tiêu chuẩn chính trị là tiêu chuẩn của mọi tiêu
chuẩn. Ông quan niệm người lãnh đạo trong
xã hội không được có quyền tư hữu (sở hữu
về tài sản) bởi vì tư hữu sẽ làm mất công
tâm. Lực lượng võ sĩ bảo vệ thì không được
có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽ
không thể chiến đấu dũng cảm được. Theo
ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích
cá nhân vì những giá trị chung. Tuy có những
quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm
khi cho rằng một thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ
có ở tầng lớp chủ nô quý tộc.
ARISTOTE: xem thủ lĩnh chính trị là
người sung túc, là người ở tầng lớp trung lưu
không phải giàu cũng không phải nghèo, họ
là người phải biết uốn mình theo lới khuyên
của các bên (vì quan điểm của ông theo nhị
nguyên luận).
CICÉRON: như là một sự tổng kết về
của những tư tưởng về người thủ lĩnh chính
trị trước đó. Oâng nêu ra rằng người thủ lĩnh
chính trị phải có sự thông thái, có trách
nhiệm, có sự cao thượng về phẩm hạnh, phải
thống nhất trong minh giữa tài năng và quyền
uy. Có uy thế tinh thần, có tinh thần cao
thượng, biết hy sinh vì lợi ích chung, bỏ qua
các lợi ích tiền bạc không chính đáng. Quan

xã hội cũng là một trạng thái tự nhiên. Nó
xuất phát từ gia đình, quyền của cha đối với
con, chồng đối với vợ, anh đối em; xuất phát
từ quyền lực đối với xã hội. Trong xã hội có
nhiều gia đình, gia đình này có sự xâm hại
đối với gia đình khác. Do đó mỗi gia đình phải
nhượng lại quyền lực của từng gia đình thành
quyền lực chung. Người nắm quyền lực
chung là nhà nước. Vì vậy, quyền lực nhà
nước là tự nhiên, pháp luật là những nguyên
tắc khách quan, vô tư, xuất phát vì lợi ích của
xã hội, của từng công dân.
CICÉRON cho rằng quyền lực nhà
nước hình thành trong quá trình lịch sử lâu
dài. Quyền lực bắt nguồn từ bản chất của con
người chạy trốn sự cô đơn, tìm cuộc sống
của cộng đồng. Cho nên quyền lực là của
chung chứ không riêng của một ai, dù đó là
người tài giỏi nhất cũng không sinh ra quyền
lực được.
Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các
quan điểm lớn bao gồm :
HÉRODOT : là người đầu tiên trong
lịch sử nhân loại đã phân biệt và so sánh các
thể chế của nhà nước khác nhau. Theo ông
có 3 hình thức cơ bản:
+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế
cầm quyền của một người-đó là vua. Thể chế
này có 2 mặt : Ưu điểm: là thể chế ra đời
thường là do những người có công khai quốc,

những ưu của từng thể chế trên.
DEMOCRIT: ông ủng hộ chế độ dân
chủ cộng hoà chủ nô.
SOCRAT: ông là người ủng hộ chế độ
chuyên chế độc tài. Ông cho rằng dân chủ là
sai lầm. Dân chủ là chính quyền của người
ngu dốt, ông gọi đó là chính quyền “bình
dân”.
ARISTOTE: ông cho rằng thể chế nhà
nước dân chủ là thể chế người giàu, người
nghèo không bên nào số lượng tuyệt đối. Ông
cho rằng mọi thể chế đều có nguy cơ biến
chất, thay đổi bằng cuộc cách mạng. Ông là
người đầu tiên phân loại quyền lực nhà nước:
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Người đứng
đầu nhà nước là giai cấp trung lưu, ông đề
cao vai trò của pháp luật đối với việc ổn định
xã hội. Nhà nước có chức năng bảo đảm cho
xã hội được sống hạnh phúc. Ông quan niệm
công bằng rất tiến bộ, phân phối công bằng
có nghĩa là người đáng được hưởng nhiều
1
hơn thì được nhiều hơn, người đáng được
hưởng ít hơn thì được ít hơn. Ông cũng đề
cập đến vấn đề hài hòa giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội và cho rằng đạo đức phải
phục vụ cho pháp luật
POLYBE : kế thừa tư tưởng trước đó
vào thể chế nhà nước, ông cho rằng thể chế
nhà nước là phải kết hợp những ưu điểm các

thực hiện bằng thi cử. “dòng đầu tiên của một
bộ luật là hạn chế quyền lực của người cầm
quyền”. (Diderot). Về phương pháp thay đổi
chế độ xã hội, ông không tán thành phương
pháp cách mạng và cho tằng tiến bộ về lý trí
sẽ làm thay đổi xã hội. Ông phủ nhận vai trò
của tôn giáo: nhà thờ không thể dung hoà với
chân lý được.
- VOLTAIRE: ) là lãnh tụ của phong trào
khai sáng, ông chống chế độ chủ nô, đấu
tranh cho sự bình đẳng của công dân nước
Pháp. Ông phê phán nhà thờ và chuyên chế,
mọi tội ác trong xã hội là do nhà thờ mà ra.
Ông chủ trương tự do tín ngưỡng, báo chí,
ngôn luận và sở hữu. Ông kịch liệt chống
chiến tranh. Theo ông, chiến tranh còn kinh
khủng hơn dịch hạch và điên khùng. Theo
ông bất bình đẳng về tài sản là tất yếu.
- MONTESQUIEU: phê phán chế độ
chuyên chế phong kiến và cho rằng chuyên
chế về bản chất là đối lập với tự do. Theo ông
chế độ chuyên chế là bạo chúa, vua pháp là
một gã phù thuỷ. Bàn về nhà thờ, ông cho
rằng nhà thờ là nguồn gốc của tội lỗi, ông giải
thích sở dĩ La Mã cường thịnh là do ghét
chuyên chế và yêu tự do. Sở dĩ La mã bị huỷ
diệt cũng vì tự do bị huỷ diệt và đạo đức bị
suy đồi; song ông cũng giành cho tôn giáo
một vị trí nhất định trong việc duy trì đạo đức
xã hội. Về nguồn gốc của nhà nước, theo

sách pháp luật phải xét đến những điều kiện
địa lí cụ thể đó. Về thể chế nhà nước: ông
phân ra bản chất và nguyên tắc hoạt động
của các loại chính phủ đó là chính phủ cộng
hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc, quân chủ.
- ROUSSEAU: là đại biểu của tầng lớp
dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt quan
hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên
chế. Về chính trị: quan điềm về chính trị của
ông cấp tiến hơn Montesquieu (vì
Montesquieu bảo vệ tư tưởng quân chủ lập
hiến), quan điểm của ông tiến xa hơn ở chỗ
đề cao tư tưởng chủ quyền nhân dân, ông
không chỉ phê phán chế độ phong kiến mà
đòi bác bỏ hoàn toàn chế độ đó. Ông cho
rằng trong xã hội mọi người phải được tự do
bình đẳng đó là trạng thái tự nhiên vốn có, là
phúc lợi cao nhất của con người, quyền lực
trong xã hội phải thuộc về nhân dân. Nhà
nước lập ra qua các khế ước xã hội phải thể
hiện ý chí quyền lực của nhân dân nếu không
thể hiện được điều đó thì bộ phận cầm quyền
phải bị đào thải, thay thế. Ông chủ trương
quyền lực phải tập trung cao nhất, ông chống
lại tư tưởng phân quyền của Montesquieu,
theo ông nếu quyền lực phân chia ra các cơ
quan nắm giữ các nhiệm vụ khác nhau thì
phải coi các cơ quan đó là công cụ của chủ
thể nhân dân và lệ thuộc vào chủ quyền nhân
dân. Ông cho rằng ý chí chung phải được rút

đạo luật cơ bản…
- Nhà nước thực chất là khế ước của
xã hội, trong đó công dân nhường một phần
quyền của mình mà hình thành quyền lực
chung, quyền lực nhà nước điều hành và
quản lý XH để bảo vệ quyền tự nhiên của con
người.
- Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá
nhân con người, đó cũng là tiêu chí căn bản
nhất để xem xét tính hợp lý hay không hợp lý
của nhà nước, đó là giới hạn căn bản của
nhà nước. Đi quá giới hạn này, chính quyền
sẽ là chuyên chế , thành kẻ thù của quyền lực
tự nhiên và là đối tượng cách mạng.
Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế
độ dân chủ hiện đại. Lốccơ chia nhà nước
làm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:
- Quyền lập pháp : là sự biểu hiện ý
chí chung của quốc gia và thuộc về toàn dân.
Nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu
nhân dân (nghị viện) do nhân dân bầu ra và
phải là những người hiểu rõ về luật.
- Quyền hành pháp : là quyền thực
hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan lập
pháp, phải có cơ cơ quan riêng và tách ra
khỏi quốc hội.
- Quyền tư pháp : là quyền xét xử tội
phạm và giải quyết tranh chấp giữa cá nhân
được thực hiện bởi thẩm phán do nhân dân
bầu ra.

của tư tưởng chính trị của 2 ông là bước
ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng
chính trị nhân loại. Với 2 ông chính trị lớn
nhất là giải phóng con người mà muốn giải
phóng con người thì phải giải quyết vấn đề
giai cấp, phải giành lấy các nguồn lực chính
trị, đó là con đường giải phóng một cách khoa
học và như vậy chủ nghĩa Mác chính là chủ
nghĩa nhân đạo hiện thực chứ không phải là
chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng chỉ dựa vào
đạo đức và lòng thương người. Trong quá
trình đấu tranh, giai cấp công nhân và nông
dân, các dân tộc bị áp bức, tư tưởng chính trị
Macxit đã trở thành ngọn cờ chủ đạo.
Ngày nay, CNXH đang đứng trước những
thử thách to lớn nhưng chúng ta tin vào bản
chất cách mạng và khoa học vốn có của nó,
CNXH khoa học nói riêng và tư tưởng chính
trị Macxit nói chung sẽ tiếp thu được những
tri thức mới của thời đại, tiếp tục làm kim chỉ
nam cho phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động trên thế
giới.
II. Giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay:
Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của các
thời đại lịch sử Tây, chúng ta không được
quên tính giai cấp của nó, mặt khác không vì
thế mà phủ nhận toàn bộ nội dung, tri thức
khách quan trong các học thuyết chính trị mà

cần thiết và bổ ích. Đó chính là quan điểm kết
hợp hài hoà những giá trị đạo đức tiến bộ của
nhân loại với giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc.
- Trong công cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay, để tiếp tục hoàn thiện nhà nước,
phát huy dân chủ và tăng cường pháp chế
XHCN, phải xây dựng nhà nước CH XHCN
VN thực sự là trụ cột của hệ thống chính trị
và là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân. Đó là nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân, nhà nước
ta dưa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn
dân thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của
nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp (không phân
quyền). Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công
chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành
hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, công chức
nhà nước phải là đầy tớ trung thành của dân,
tận tuỵ phục vụ nhân dân.
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà
nước thể hiện ở việc đề ra đường lối, chủ
trương và các chính sách định hướng cho sự
phát triển trong từng thời kì, lãnh đạo nhà
nước định ra và thực thi hiến pháp và pháp
luật. Các cơ quan nhà nước phải liên hệ chặt

đạo đức, trong sạch về lói sống, có trí tuệ
kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn
sáng tạo, gắn bó với nhân dân. Đảng và nhà
nước có cơ chế và chính sách phát hiện
tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, đào tạo và
bồi dưỡng, trọng dụng những người có đức,
có tài ở trong và ngoài Đảng.
Tóm lại: việc xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCNVN thực sự vững mạnh đồng
thời nâng cao hiệu quả và chất lượng lãnh
đạo của Đảng đối với nhà nước đã trở một
đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của sự
nghiệp đổi mới, sự nghiệp cách mạng của
dân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà nước pháp
quyền đủ mạnh mới có thể bảo vệ và phát
huy những thành quả trong quá trình đổi mới
về mọi mặt (chính trị, kinh tế,văn hoá, quan
hệ quốc tế…), mới có đủ khả năng giải quyết
vấn đề mới nảy sinh do mặt trái của cơ chế
thị trường, của kinh tế nhiều thành phần
mang lại, và mới có khả năng đương đầu và
đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” mà
các thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành .
Để làm được điều đó nhà nước phải thực
hiện đồng thời các giải pháp sau :
- Tiến hành cải cách, hoàn thiện các
cơ quan lập pháp, hành pháp vàtư pháp mà
trước mắt là cải cách một bước nền hành
chính.
- Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện

của CN Mác-Lênin “quyền lực chính trị theo
đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của
một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác”.
Với khái niệm này, ta thấy rằng quyền lực
chính trị luôn gắn liền với giai cấp, gắn liền
với bản chất nhà nước. “Quyền lực chính trị
trong CNXH cơ bản thuộc về nhân dân lao
động”. Bằng lý luận về quyền lực chính trị và
thực tiễn cách mạng ở nước ta, chúng ta phải
phân tích làm rõ luận điểm trên.
1. Khái niệm và đặc trưng của quyền lực
chính trị :
a. Khái niệm :
Trong XH có giai cấp, các giai cấp thể hiện
ý chí của giai cấp mình đối với XH. Ý chí đó
chỉ thực sự có hiệu lực khi giai cấp nắm lấy
được quyền điều hành quyền lực công, họ sử
dụng quyền lực công cho mục đích giai cấp,
biến quyền lực công thành quyền lực giai
cấp, đồng thời biến ý chí của giai cấp thành
quyền lực công. Cả 2 quyền lực ấy hợp thành
một chỉnh thể quyền lực chính trị của giai cấp
cầm quyền để trấn áp giai cấp đối lập. Vậy,
“Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó
là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn
áp một giai cấp khác”.
Kế thừa và phát huy khái niệm về quyền
lực chính trị như trên, Hồ Chí Minh khẳng
định “nhân dân ta phải giành lấy chính quyền,
là vấn đề tiên quyết, là phải xây dựng một

quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là
quyền lực của giai cấp thống trị (giai cấp cầm
quyền). Là một bộ phận quyền lực chính trị,
quyền lực nhà nước cũng mang đầy đủ tính
chất và đặc trưng của quyền lực chính trị.
Nhà nước không chỉ biểu hiện tập trung và
mạnh mẽ nhất, quyền lực của giai cấp cầm
quyền mà còn nhân danh quyền lực công,
quyền lực XH đối với mọi giai cấp và tầng lớp
khác Ngoài ra, quyền lực nhà nước cũng có
tính đặc thù riêng. Điểm khác nhau căn bản
giữa quyền lực nhà nước với quyền lực chính
trị là quyền lực nhà nước có khả năng vận
dụng các công cụ, các lực lượng, các
phương tiện nhà nước để buộc các giai cấp,
các tầng lớp phải phục tùng ý chí của giai cấp
thống trị. Còn quyền lực chính trị không chỉ là
quyền lực nhà nước mà còn bao gồm các
yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng chính
trị như : quyền lực của Đảng cầm quyền, của
các tổ chức chính trị nhân dân phi nhà nước
Quyền lực của nhà nước có 2 chức
năng :
- Chức năng thống trị giai cấp để đảm
bảo sự thống trị về mặt chính trị của giai cấp
cầm quyền đối với các giai cấp và các tầng
lớp khác trong xã hội nhằm bảo vệ và phát
triển nền kinh tế mà giai cấp cầm quyền là
người đại diện cho quan hệ sản xuất thống
trị; bảo đảm sự xác lập hệ tư tưởng cùa giai

ngược lại.
2. Hình thức của quyền lực chính trị:
Điều kiện kinh tế chính trị xã hội khác nhau
luôn qui định hình thức biểu hiện của quyền
lực chính trị khác nhau. Ở thời cổ đại, theo
ông Arixtốt quyền lực chính trị phải được tổ
chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất; ở
thời cận đại theo ông Môngtexkiơ, quyền lực
chính trị được tổ chức theo kiểu phân lập
quyền lực, mà cụ thể thành 3 quyền chính:
quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành
pháp. Ở cuối thế kỷ 18, Rútxô lại nêu lên hình
thức biểu hiện của quyền lực chính trị là tập
trung thống nhất. Ngày nay hình thức biểu
hiện của quyền lực chính trị được thể hiện 2
hình thức sau: Một là : Tuyệt đại bộ phận của
các nước tư bản, hình thức biểu hiện của
quyền lực chính trị được tổ chức theo 2 kiểu
phân lập quyền lực, gắn liền với chế độ đang
đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Hai là : Các
nhà nước XHCN và một số nước tư bản hình
thức biểu hiện của quyền lực chính trị lại
được tổ chức theo kiểu tập trung thống nhất,
gắn liền với chế độ nhất nguyên chính trị.
Dù quyền lực nhà nước tổ chức dưới
hình thức “tập quyền”, “tản quyền” hay “phân
quyền” hay hỗn hợp các hình thức ấy thì
quyền lực nhà nước vẫn mang bản chất của
giai cấp cầm quyền và là sự thống trị của giai
cấp đối với toàn xã hội.

giai cấp tư sản nắm giữ tư liệu sản xuất chủ
yếu). Do giai cấp tư sản chiếm giữ tư liệu sản
xuất nên giai cấp tư sản nắm quyền lực
chính trị. Vì thế trong chế độ TBCN quyền lực
chính trị không thuộc về nhân dân lao động.
4
Đặc biệt để duy trì bản chất bóc lột, CNTB sử
dụng quyền lực chính trị bảo vệ giai cấp tư
sản là thiểu số và trấn áp đa số nhân dân lao
động. Vậy trong chủ nghĩa TB quyền lực
chính trị thuộc vê một số ít người (giai cấp tư
sản) chứ không thuộc về đa số nhân dân lao
động. Quan niệm quyền lực chính trị ”thuộc
về nhân dân lao động “ đã xuất hiện từ thời
cổ đại và được tuyên bố, ghi nhận một cách
phổ biến trong hiến pháp của các nước cộng
hoà dân chủ tư sản nhưng trên thực tế cũng
chỉ là hình thức rất hạn chế.
Xét chung cho các chế độ XH có giai
cấp đối kháng thì giai cấp bóc lột không
ngừng củng cố và xây dựng quyền lực nhà
nước để quyền lực nhà nước có đầy đủ sức
mạnh trấn áp các giai cấp khác. Do vậy, trong
các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng,
quyền lực chính trị cơ bản thuộc về giai cấp
bóc lột, còn nhân dân lao động về cơ bản
không nắm được quyền lực chính trị.
Khác với các chế độ XH nói trên,
trong CHXH xét về mặt lợi ích thì quyền lực
chính trị cơ bản thuộc về giai cấp công nhân,

chứng minh rõ ràng quyền lực chính trị thuộc
về giai cấp tư sản chứ không phải thuộc về
nhân dân lao động
5. Quyền lực chính trị của nhân dân lao
động ở nước ta:
- Ở nước ta, quyền lực chính trị của nhân
dân mang tính đặc trưng được bắt nguồn từ
tính lịch sử. Nhân dân là tập hợp động đảo
những bộ phận người thuộc các giai cấp,
tầng lớp XH khác nhau, chủ yếu là những
người lao động. Những biểu hiện cụ thể về
nội dung thực hiện quyền lực chính trị của
nhân dân lao động ở nước ta hiện nay có 4
biểu hiện sau đây:
+ Mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật.
+ Mọi công dân có quyền tự do
ứng củ, bầu cử vào cơ quan lãnh đạo nhà
nước các cấp (đối với Đảng viên phải chấp
hành theo điều lệ Đảng).
+ Mọi công dân có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí nhưng phải trong
khuôn khổ của của pháp luật hiện hành.
+ Mọi công dân có nghĩa vụ và
quyền lợi trong việc xây dựng và bảo vệ tổ
quốc
- Nhân dân thực hiện quyền lực chính trị
của mình cũng như quyền làm chủ không
phải với tư cách riêng lẻ, từng nhóm rời rạc
mà là trong các tổ chức chính trị, cao nhất là

trước hết là nói quyền lực của Nhà nước
thuộc về toàn dân mà nòng cốt là bộ phận
nhân dân trung tâm. Việc xây dựng bộ máy
đến cơ chế hoạt động, việc ban hành hiến
pháp, pháp luật đến các kế hoạch phát triển
KT-XH, văn hóa, giáo dục, các chủ trương,
chính sách đều phải nhằm đem lại lợi ích cho
nhân dân. Nói về vấn đề quyền lực trong chế
độ mới, Bác đã nhiều lần khẳng định : “Tất
cả quyền lực trong nhà nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân.” “Nhà
nước là nhà nước dân chủ, địa vị cao nhất là
dân, vì dân là chủ”. Hiến pháp năm 1946 đã
ghi rõ nhà nước ta “Nhà nước là nhà nước
dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao
nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền
từ xã đến chính phủ, trung ương đều do dân
bầu ra”. Trung thành với tư tưởng đó, Đảng ta
luôn coi Nhà nước ta là của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Hiến pháp 1992
xác định : Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc
về nhân dân. Cơ quan nhà nước, các cấp chỉ
là người chấp hành mệnh lệnh của quốc dân,
chấp hành ý chí của nhân dân. Bộ máy chính
quyền nhà nước là do nhân dân bầu ra, vì
vậy phải do nhân dân kiểm soát. Cũng như
Lênin, Chủ tịch HCM khẳng định “Nhà nước
phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung
dân chủ thì nhân dân mới làm chủ được
quyền lực của mình”. Bên cạnh bản chất vừa

nước và bầu ra các cơ quan nhà nước. Mặt
trận và các đoàn thể tham gia xây dựng chỉnh
đốn Đảng. Thực hiện giám sát xã hội đối với
sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của nhà
nước, giám sát đối với công tác, đạo đức, lối
sống của cán bộ, công chức đại biểu dân cử
và các cơ quan nhà nước, đồng thời giải
quyết những mâu thuẩn trong nội bộ nhân
dân.
Tóm lại, trong chế độ xã hội chủ nghĩa,
bằng những cơ sở kinh tế – chính trị - xã hội
và việc bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân
với những dẫn chứng thực tiễn ở các nước
và cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng
chỉ có chủ nghĩa xã hội thì quyền lực chính trị
mới thuộc về nhân dân lao động.
* Thực trạng việc thực thi quyền lực
chính trị ở nước ta :
Trong giai đoạn hiện nay, việc thực hiện
quyền lực chính trị của nhân dân thông qua
cơ chế và hệ thống chính trị ở nước ta đã đạt
được một số thành tựu như : đã từng bước
xây dựng mối khối đại đoàn kết dân tộc, xóa
bỏ dần những mặc cảm do chiến tranh để lại,
giữ vững chính quyền nhân dân trên cơ sở
đổi mới, bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất
của Đảng, dân chủ hóa một bước trong đời
sống xã hội. Bên cạnh đó, việc thực hiện cơ
chế quyền lực chính trị cũng còn một số hạn
chế về năng lực và hiệu quả lãnh đạo của

nước là quan hệ qua lại trên cơ sở khoa học.
- Về Nhà nước, phải quản lý mọi mặt xã
hội bằng pháp luật, đưa pháp luật trở thành
công cụ chủ yếu để điều hành các quan hệ xã
hội, nhà nước phải thể chế hoá quyền công
dân và quyền con người.
- Về các tổ chức chính trị - xã hội của công
dân, phải đa dạng hoá hơn nữa các hình thức
tổ chức để làm cho mọi nhân tố xã hội đều có
tổ chức đại diện cho mình. Đổi mới nhận
thức, xác định rõ chức năng của các tổ chức
chính trị xã hội của nhân dân. Phải xem chức
năng bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành
viên trong tổ chức mình là một trong những
chức năng quan trọng nhất.
Đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn
hiện nay là điều kiện để thực hiện quyền lực
chính trị của nhân dân lao động. Mặt khác,
quyền lực chính trị của nhân dân lao động
từng bước phát huy là cơ sở đảm bảo vững
chắc cho việc củng cố và đổi mới hệ thống
chính trị, đó cũng là mối quan hệ phổ biến
giữa việc củng cố tăng cường cơ chế thực
hiện, nhằm thực thi quyền lực chính trị của
giai cấp cầm quyền trong chế độ XHCN.
* Phương hướng đổi mới hoàn thiện
các nhân tố trong hệ thống chính trị của
Đảng ta bao gồm 3 yếu tố sau:
Một là : Đảng phải đổi mới Đảng theo
những nội dung sau :

của Đảng.
Hai là: Về nhà nước phải quán triệt các
quan điểm sau:
- Xây dựng nước XHCN của dân, do dân
và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nha,
nông dân, tầng lớp trí thức là nền tảng, do
Đảng cộng sản lãnh đạo.
- Quyền lực nhà nước thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong tổ chức và hoạt của nhà nước.
- Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng
nhà nước pháp quyền VN. Quản lý XH bằng
pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục và
nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai trò lãng đạo của Đảng
đối với nhà nươc.
Từ những quan điểm trên đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu lên 5 nội
dung cải cách chức năng và hoạt động của
nhà nước trong tình hình hiện nay là:. Xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự
lãng đạo của Đảng; Cải cách thể chế và
phướng thức hoạt động của nhà nước; Phát
huy dân chủ giữ vững kỷ luật kỷ cương tăng
cường pháp chế, xây dựng đội ngũ cán bộ
công chức có năng lực; . Đấu tranh chống
tham nhũng.

BÀI LÀM
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi
mới toàn diện (1986-1996) , đất nước ta đã vượt
qua một giai đoạn thử thách, gay go, khủng
hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội. Trong những
hoàn cảnh hết sức khó khăn phức tạp đó, nhân
dân ta không những đứng vững, kiên trì tiến lên
CNXH mà còn vươn lên đạt thắng lợi nổi bật
trên nhiều mặt. Để tổng kết chặng đường đổi
mới những năm qua, trong văn kiện ĐH Đảng
lần VIII đã đánh giá và rút ra một số bài học chủ
yếu. Một trong những bài học đó là: “kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,
đồng thời từng bước đổi mới chính trị”. Để nắm
vững mối quan hệ biện chứng giữa chính trị với
kinh tế theo quan điểm CN Mác-Lênin và hiểu rõ
sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa chính
trị với chính trị của Đảng ta trong công cuộc đổi
mới đất nước hiện nay, góp phần đấu trung thực
phê phán những quan điểm tư tưởng và hành
động lệch lạc như : tuyệt đối hoá sức mạnh
chính trị, hoặc khuynh hướng tuyệt đối hoá tự
do kinh tế, buông lỏng, xem nhẹ sự lãnh đạo
của đảng và sự quản lý của nhà nước đối với
quá trình xây dựng và phát triển kinh tế; chúng
ta hãy phân tích làm rõ mối quan hệ giữa chính
trị với kinh tế .
1. Khái niệm chính trị, kinh tế:
Chính trị là những công việc nhà nước hay

cần thiết và sâu xa nhất của xã hội loài người,
gần như toàn bộ các mối quan hệ khác trong xã
hội đều được quy định bởi lĩnh vực kinh tế, vì
vậy nó quyết định chế độ chính trị và quyết định
quyền lực nhà nước.
2. Mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế :
a. Vai trò của kinh tế với chính trị :
Quan hệ chính trị với kinh tế là mối quan hệ
biện chứng luôn có sự tác động qua lại lẫn
nhau. Trong quá trình đổi mới đất nước, khi xác
định đường lối phát triển giữa chính trị và kinh
tế, Đảng ta khẳng định “lấy đổi mới kinh tế làm
trọng tâm”. Điều này xuất phát từ quan điểm
kinh tế là nền tảng của chính trị, kinh tế bao giờ
cũng quyết định chính trị và điều này được
khẳng định hoàn toàn trong lý luận cũng như
trong thực tiễn.
Về mặt lý luận, theo chủ nghĩa Mác - Lênin
thì cơ sở hạ tầng quy định cấu trúc, tính chất
của kiến trúc thượng tầng và tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội. Kinh tế là nhân tố cơ bản
thuộc cơ sở hạ tầng, trong khi chính trị là nhân
tố chủ yếu của kiến trúc thượng tầng, vì vậy các
quan hệ kinh tế là quy định các quan hệ chính
trị. Về mặt thực tiễn: ở hình thái kinh tế xã hội
chiếm hữu nô lệ thì với quan hệ sản xuất của
chế độ chiếm hữu nô lệ, thể chế chính trị thuộc
về giai cấp chủ nô, ở hình thái kinh tế xã hội
TBCN thì với quan hệ sản xuất của chế độ tư
bản chủ nghĩa, thể chế chính trị thuộc về giai

và các hình thức, hoạt động chính trị là kết quả
tất yếu của sự vận động của kinh tế và chính trị
phải mang trong nó những quy luật kinh tế
khách quan. Điều đó có nghĩa là : nó phải phản
ánh được lợi ích kinh tế của giai cấp và phản
ánh được bản chất của một chế độ kinh tế, nó
phản ánh cái cốt lõi (cơ bản), bền vững trong
kinh tế. Bên cạnh đó chính trị phải phản ánh
một cách khái quát tất cả các khuynh hướng
kinh tế nhưng nó phải làm nổi bật khuynh
hướng chủ đạo. Đồng thời chính trị cũng phải
phản ánh được ý chí sức mạnh, sự đoàn kết
của một giai cấp để thực hiện được lợi ích kinh
tế của chính giai cấp mình.
- “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh
tế”, điều đó đòi hỏi chính trị và hệ thống chính trị
phải mang trong mình nó những quy định kinh tế
khách quan, có nghĩa là chính trị phản ánh
những yêu cầu, điều kiện của kinh tế khách
quan, sự phản ánh đó thể hiện trong cấu trúc hệ
thống chính trị, trong phương thức hoạt động
của các thành tố hệ thống chính trị, trong các
quyết sách chính trị.
Kinh tế là gốc của chính trị, ở góc độ nào đó
nó là sự thể hiện tính ưu việt của chính trị cũng
như sự phù hợp của chính trị với kinh tế. Với ý
nghĩa đó, ở mọi thời đại, nếu không giải quyết
thỏa đáng các quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế,
không phát triển được kinh tế thì sự vận động
của chính trị có thể sẽ gặp trở ngại, thậm chí đi

Biểu hiện sự tác động của chính trị đối với
kinh tế : Một là chính trị định hướng cho kinh tế
phát triển dựa trên quy luật khách quan, lựa
chọn mô hình chiến lược phát triển kinh tế, tham
gia vào việc điều tiết, lựa chọn tốc độ phát triển
kinh tế. Hai là vai trò tác động của chính trị tác
động đến các chủ thể kinh tế : mỗi chủ thể kinh
tế có vai trò, địa vị, lợi ích riêng, vì vậy, chính trị
phải có sự kiểm soát, tạo điều kiện tác động cho
các chủ thể kinh tế phát triển và tạo điều kiện
cho họ góp phần vào việc thực hiện lợi ích
chung. Ba là vai trò của cơ cấu tổ chức và
phương thức tổ chức, quản lý con người-xã hội
đối với kinh tế để phát huy được vai trò của
nhân tố con người
Từ những tác động trên của chính trị đến
kinh tế, Lênin cho rằng “Chính trị không thể
không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế”. Luận
điểm này khẳng định tính ưu tiên cho chính trị so
với kinh tế, tức là kết quả đạt được về phát triển
kinh tế phải tính đến việc bảo vệ củng cố và
phát triển thành quả chính trị đạt được (củng cố
và phát triển hệ thống chính trị). Khi giải quyết
các vấn đề kinh tế thì phải góp phần duy trì củng
cố quyền lực chính trị. Mặt khác, trong kinh tế dù
cải tổ hay đổi mới như thế nào cũng phải luôn
giữ vững hệ tư tưởng chính trị vì hệ tư tưởng
chính trị quy định phương hướng mục tiêu, bản
chất của chế độ xã hội. Trong điều kiện cách
mạng XHCN, sự ưu tiên của chính trị so với kinh

phải có cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động,
thiết chế vận hành phù hợp với cơ sở kinh tế.
3. Vận dụng của Đảng ta :
Nhìn lại quá trình Đảng lãnh đạo đất nước từ
trước năm 1986, chúng ta thấy rằng tình hình
nước ta nói riêng và các nước XHCN nói chung
đã có thời gian khá dài do tuyệt đối hóa vai trò
của đường lối chính trị, duy trì quá lâu cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp đã dẫn đến sự kiềm
hãm sự phát triển kinh tế và dẫn đến khủng
hoảng trầm trọng. Chúng ta đã hành động trái
quy luật “kinh tế quyết định chính trị” khi cho
rằng mâu thuẫn nổi lên ở đầu thời kỳ quá độ là
mâu thuẫn giữa chế độ chính trị tiên tiến với
quan hệ sản xuất lạc hậu, do đó phải đẩy mạnh
cải tạo quan hệ sản xuất (mà trong đó chủ yếu
là cải tạo xóa bỏ các thành phần kinh tế phi
XHCN) nhằm làm cho quan hệ sản xuất phù
hợp với chế độ chính trị tiên tiến. Từ đó nảy sinh
ra mâu thuẩn chủ yếu giữa quan hệ sản xuất với
lực lượng sản xuất , nhiệm vụ công nghiệp hóa
được đẩy lên một cách duy ý chí trong khi chưa
có đủ các tiền đề cần thiết. Từ những sai lầm về
đường lối chỉ đạo này, dẫn đến nền kinh tế chậm
phát triển, xã hội rơi vào khủng hoảng.
Rút kinh nghiệm từ những thất bại ấy, bắt
đầu từ Đại hội Đảng lần VI, Đảng ta đã vận dụng
7
sáng tạo hài hòa giữa 2 khuynh hướng tác động
của chính trị với kinh tế để đề ra công cuộc đổi

đổi mới khác. Song Đảng ta đã đúng khi tập
trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng
hoảng kinh tế xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật
chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị,
xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo
thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống
xã hội. Bởi vì do tính chất kinh tế quy định chính
trị nên xây dựng và duy trì quyền lực chính trị
của Đảng, chế độ XHCN trước hết phải xây
dựng từ cơ sở nền tảng của nó, tức là xây dựng
một chế độ kinh tế XHCN vững mạnh.
Để chính trị phản ánh tập trung kinh tế,
Đảng và nhà nước ta đã xác định phải nhận
thức một cách khoa học thực trạng kinh tế và
những quy luật kinh tế, lựa chọn hình thức tổ
chức, chính sách phù hợp bảo đảm phát huy tối
ưu tác dụng của các quy luật kinh tế và đang tập
trung xây dựng tri thức khoa học để giác ngộ
quần chúng hành động phù hợp quy luật. Với
luận điểm đó, Đảng ta đã xác định lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm và tuỳ theo yêu cầu đổi
mới kinh tế mà từng bước đổi mới về chính trị.
Chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng trong
suốt thời kỳ quá độ là một bước đột phá về đổi
mới cơ cấu sở hữu từ một thành phần kinh tế,
một chế độ sở hữu sang nhiều thành phần kinh

mục tiêu XHCN, vì mục tiêu ấy chỉ có thể thực
hiện trên cơ sở sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Nước ta hiện nay sự lãnh đạo duy nhất của
Đảng ta là hoàn toàn hợp lý. Một Đảng, nhất
nguyên chính trị là điều kiện đảm bảo sự ổn định
chính trị để phát triển kinh tế. Song, để lãnh đạo
tốt kinh tế cũng như các lĩnh vực khác của đời
sống XH, Đảng phải tự đổi mới vươn lên ngang
tầm nhiệm vụ. NQ TW6 (lần 2) khoá VIII chủ
trương tăng cường công tác phê bình, tự phê
bình, chỉnh đốn Đảng là nhằm làm trong sạch
phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, Đảng
viên để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của
Đảng. Đây là yêu cầu bắt buộc của Đảng trong
tình hình mới hiện nay
Từ chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, đã có ý kiến cho rằng : kinh tế nhiều
thành phần có đối lập, đối kháng thì chính trị với
tư cách là sự phản ánh của kinh tế thì chính trị
cũng phải đa nguyên, đa đảng. Thực tế đây là
một quan điểm không đúng bởi 2 lý do : một là
nền kinh tế nhiều thành phần không chỉ có ở
nước ta (một nước đang theo chế độ nhất
nguyên) mà nó còn tồn tại phổ biến ở nhiều
nước với nhiều chế độ chính trị khác nhau (nhất
nguyên chính trị như Xingapo, Trung quốc, đa
nguyên chính trị như Mỹ), như vậy việc đa
nguyên về kinh tế không nhất thiết phải đa
nguyên về chính trị. Hơn nữa, ở một nước có rất
nhiều Đảng phái chính trị như Mỹ thì mặc dù

nhập giữa các tầng lớp, trước hết là thu nhập
kinh tế, phải làm cho mọi người hiểu hết nến
kinh tế thị trường
2. Khi xác định chủ trương “từng bước
đổi mới về chính trị”, Đảng đã nhận thức rõ :
chính trị có ổn định thì kinh tế mới phát triển, hệ
thống chính trị phải phù hợp đổi mới kinh tế .
Mọi chủ trương phát triển kinh tế của đảng và
nhà nước ngoài việc thúc đẩy kinh tế xã hội phát
triển còn phải góp phần bảo vệ thành quả cách
mạng đã đạt được như : độc lập, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ và những thành quả đổi mới
của nước ta. Mặt khác sự đổi mới về chính trị là
cần thiết bởi vì phải có quan điểm chính trị đúng
đắn và phù hợp với thời đại khi xử lý các vấn đề
kinh tế như : vấn đề dân tộc và giai cấp, quan hệ
làm ăn với nước ngoài phải vì lợi ích của dân
tộc.
Để đảm bảo chính trị là động lực, là mở
đường cho kinh tế phát triển, thì hệ thống chính
trị phải tiến hành đổi mới. Không làm được điều
đó hệ thống chính trị sẽ không thể định hướng
cho kinh tế và như thế nguy cơ chệch hướng
kinh tế hoàn toàn có thể xảy ra. Nghị quyết Đại
hội VII đã chỉ rõ nguy cơ chệch hướng kinh tế có
thể bắt đều từ chính hình thái chính trị, bắt đầu
bằng chính những sa sút về đạo đức, yếu kém
về năng lực của cán bộ trong bộ máy chính trị,
bằng nạn quan liêu, tham nhũng, trì trệ trong hệ
thống chính trị. Vì vậy, đổi mới nâng cao hiệu

dựng nền dân chủ XHCN. Dân chủ là quy luật
hình thành, phát triển và tự hoàn thiện hệ thống
chính trị XHCN. Làm tốt việc này chính là góp
phần tạo ra động lực tổng hợp cho sự nghiệp
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ở nước
ta
Tóm lại, nắm vững mối quan hệ biện chứng
giữa chính trị với kinh tế và vận dụng đúng đắn
mối quan hệ đó là một trong những vấn đề có ý
nghĩa quan trọng trong công cuộc đổi mới của
nước ta hiện nay. Từ những phân tích trên ta
thấy rằng bài học do Đảng ta nêu “Kết hợp chặt
chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị” đó chính là
nắm vững và vận dụng đúng đắn mối quan hệ
biện chứng giữa chính trị với kinh tế theo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào trong thực tiễn.Chính từ
sự định hướng đúng đắn ấy cho nên sau hơn 15
năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và giữ vững sự ổn định chính trị, tạo
đà cho kinh tế phát triển nhanh, đúng hơn
Câu 4: Vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ chính trị với
kinh tế để phân tích luận điểm sau: “không
có lập trường chính trị đúng đắn thì một giai
cấp nhất định nào đó không thể giữ được sự
thống trị của mình và do đó cũng không thể
hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong
lĩnh vực sản xuất”.

ích (trước hết và cơ bản là lợi ích kinh tế) giữa
các giai cấp, các lực lượng XH, các quốc gia,
dân tộc mà việc thực hiện lợi ích đó phải thông
qua quyền lực nhà nước. Trong chính trị, vấn đề
quyền lực chính trị (mà trọng tâm là quyền lực
nhà nước) luôn là mục tiêu của các giai cấp. Khi
nắm được quyền lực chính trị, quyền lực nhà
nước tức là nắm được công cụ cơ bản nhất để
giải quyết các vấn đề lợi ích của các giai cấp.
Do vậy, xét từ góc độ quan hệ với kinh tế thì vấn
đề chính trị thực chất cũng chính là vấn đề kinh
tế bởi vì giải quyết vấn đề quyền lực chính trị sẽ
trực tiếp tác động đến động lực của sự phát
triển kinh tế. Mác Lênin đã rút ra kết luận : quan
hệ chính trị xét về bản chất là do quan hệ kinh
tế, chính sự ra đời và tồn tại của giai cấp, chính
nhu cầu của các giai cấp quyết định nội dung
của các lợi ích chính trị.
Kinh tế được hiểu là toàn bộ các lĩnh vực,
các ngành khác nhau của một nền kinh tế quốc
dân, mà cơ sở của nó là các quan hệ cơ bản :
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ
chức và quản lý lao động XH, quan hệ phân
phối sản phẩm làm ra. Phạm vi kinh tế là cơ sở
cần thiết và sâu xa nhất của xã hội loài người,
gần như toàn bộ các mối quan hệ khác trong xã
hội đều được quy định bởi lĩnh vực kinh tế, vì
vậy nó quyết định chế độ chính trị và quyết định
quyền lực nhà nước
2. Mối quan hệ chính trị với kinh tế:

quyền lực chính trị mà không xây dựng và giữ
được địa vị chủ đạo về kinh tế thì sớm muộn
cũng sẽ không thể duy trì được quyền lực chính
trị. Chính vì vậy, Lênin viết “Chính trị là sự biểu
hiện tập trung của kinh tế”. Luận điểm này chỉ rõ
nguồn gốc chính trị là từ kinh tế, chính trị chỉ
hình thành tồn tại và phát triển trên cơ sở đòi hỏi
khách quan bởi sự phát triển kinh tế. Từ thực
trạng kinh tế, kết cấu giai cấp xã hội, mà hình
thành nên một chế độ tương ứng. Nền chính trị
của một nước bao giờ cũng là sản phẩm trực
tiếp của khuynh hướng kinh tế chủ đạo , quan
hệ sản xuất thống trị. Tính quy định của kinh tế
đối với chính trị còn thể hiện ở chỗ nền chính trị
của một nước tuy là phản ánh tổng thể các xu
hướng kinh tế nhưng bao giờ cũng là sản phẩm
trực tiếp của xu hướng kinh tế chủ đạo.
Khẳng định tính quyết định của kinh tế đối
với chính trị, chúng ta càng nhận thức rõ rằng
trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay đang
tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần, trong
đó có cả thành phần kinh tế XHCN lẫn TBCN và
nền kinh tế này sẽ duy trì suốt thời kỳ quá độ;
nếu như trong nền kinh tế nhiều thành phần đó
chúng ta không củng cố, xây dựng thành phần
kinh tế XHCN trở thành một thành phần kinh tế
mạnh, chủ đạo, có khả năng chi phối các thành
phần kinh tế khác thì khó đảm bảo được định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là vấn đề
nguyên tắc trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta

kinh tế có thể khái quát một số nội dung sau:
Thứ nhất: Chính trị định hướng cho kinh tế
phát triển dựa trên quy luật khách quan, nhận
thức được quy luật khách quan. Bất cứ một nền
kinh tế nào cũng đều có sự định hướng chính trị,
bởi nếu không định hướng thì mục tiêu kinh tế,
lợi ích kinh tế của giai cấp sẽ không được thực
hiện, cũng như kinh tế sẽ phát triển tự do, vô tổ
chức sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã
hội. Do đó, bất cứ chính trị của giai cấp cầm
quyền nào cũng phải làm nhiệm vụ định hướng
kinh tế.Tuy nhiên, muốn định hướng thì chủ thể
chính trị phải có kiến thức, tri thức, trình độ nhất
định để nhận thức đúng quy luật, để định hướng
đạt mục tiêu kinh tế phục vụ cho giai cấp
Thứ hai: Chính trị lựa chọn mô hình phát
triển kinh tế. Một mô hình kinh tế được xác định
đúng, phù hợp là điều kiện hết sức quan trọng
cho sự phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế,
phù hợp với lợi ích của giai cấp. Chính trị có khả
năng nhận thức đầy đủ điều kiện thực trạng kinh
tế, tài nguyên, con người lao động và các điều
kiện chính trị, xã hội, lịch sử có khả năng xây
dựng một mô hình kinh tế thích hợp.
Thứ ba: Chính trị điều tiết tốc độ phát triển
kinh tế : Tốc độ phát triển kinh tế phù hợp là
điều hết sức cần thiết cho sự phát triển chung
của một chế độ XH. Nếu kinh tế trì trệ, chậm
phát triển, chính trị phải tác động thông qua
9

kiện tốt nhất để kinh tế phát triển. Đặc biệt, đối
với nền kinh tế nhiều thành phần trong điều kiện
đổi mới ở nước ta hiện nay, mà hệ thống chính
trị của chúng ta không thể không chi phối, kiểm
soát đến tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt
là các thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Vì vậy,
để quản lý xã hội, quản lý con người của nước
ta hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước hoặc
doanh nghiệp tư nhân phải có tổ chức Đảng,
các tổ chức quần chúng trong các doanh nghiệp
để phát huy được vai trò của nhân tố con người.
Sự tác động của chính trị đối với kinh tế có
thể theo hai hướng : một là nếu chính trị tác
động cùng chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó
chính trị có vai trò tích cực, thúc đẩy phát triển
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hóa.
Hai là nếu chính trị tác động ngược chiều với sự
phát triển kinh tế, khi đó chính trị là vật cản đối
với sự phát triển kinh tế
Từ những tác động trên của chính trị đến
kinh tế, Lênin cho rằng “Chính trị không thể
không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế”. Luận
điểm này khẳng định tính ưu tiên cho chính trị so
với kinh tế, là hợp lý vì ưu tiên cho chính trị là
ưu tiên cho vấn đề cơ bản nhất, quyết định đến
sự phát triển của bản thân kinh tế. Theo luận
điểm này, kết quả đạt được về phát triển kinh tế
phải tính đến việc bảo vệ củng cố và phát triển
thành quả chính trị đạt được (củng cố và phát

Lênin viết ““Không có lập trường chính trị đúng
đắn thì một giai cấp nhất định nào đó không thể
giữ được sự thống trị của mình và do đó cũng
không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình
trong lĩnh vực sản xuất”. Mặt khác, trong kinh tế
dù cải tổ hay đổi mới như thế nào cũng phải
luôn giữ vững hệ tư tưởng chính trị vì hệ tư
tưởng chính trị quy định phương hướng mục
tiêu, bản chất của chế độ xã hội. Trong điều kiện
cách mạng XHCN, sự ưu tiên của chính trị so
với kinh tế là tất yếu để xây dựng CNXH : đó
chính là giành, giữ và sử dụng quyền lực chính
trị và xây dựng nền kinh tê mới.
Cần lưu ý rằng trong mối quan hệ chính trị
với kinh tế, nhiều trường hợp đã có chính sách
chính trị đúng đắn nhưng trình độ năng lực, tổ
chức, chỉ đạo thực tiễn, phương thức hoạt động
hệ thống chính trị không vươn tới ngang tầm
nhiệm vụ chính trị đề ra, thì chính trị vẫn có thể
cản trở kinh tế hoặc để kinh tế phát triển chệch
hướng, trái với đường lối chính trị đã lựa chọn.
Vì thế chính trị phải tự đổi mới, phải có cơ cấu
tổ chức, phương thức hoạt động, thiết chế vận
hành phù hợp với cơ sở kinh tế. Từ những phân
tích trên cho thấy rằng các Đảng chính trị không
thể sai lầm về đường lối chính trị. Trong những
điều kiện nhất định, có thể hy sinh kinh tế cục bộ
để đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững lâu
dài theo sự định hướng của chính trị.
3. Chính trị với kinh tế trong công cuộc

mới toàn diện tất cả các lãnh vực của đời sống
KT-XH, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng và
phát triển ngày càng vững chắc. Để tiếp tục đưa
công cuộc đổi mới tiến lên, làm cho đất nước ta
phát triển nhanh, vững bền theo định hướng
XHCN trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi phải nâng
cao hơn nữa tính tự giác trong sự lãng đạo
chính trị đối với kinh tế. Xử lý mối quan hệ chính
trị với kinh tế trong công cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay, cần chú ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất : Xác định mối quan tương
quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính
trị. Chủ trương của Đảng là lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm. Thực hiện quan điểm đó, chúng
ta chuyển từng bước nền kinh tế tự nhiên sang
nền kinh tế tự cấp, tự túc, ưu tiên công ngiệp
nặng sang nền kinh tế hàng hoá và hình thành
một hệ thống kinh tế mở. Trên cơ sở của những
thành tựu mà Đảng ta thực hiện từng bước đổi
mới về chính trị, để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo;
Nhà nước đổi mới để đảm bảo vai trò quản lý
nền kinh tế có hiệu quả nhất. Các tổ chức chính
trị-xã hội của quần chúng nhân dân từng bước
hoàn thiện để góp phần tích cực vào công việc
quản lý Nhà nước, quản lý XH,
Thứ hai : Định hướng XHCN với nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ “Đảng và Nhà
nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu
dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều

chính trị. Hai trong kinh tế có đối kháng giữa các
thành phần kinh tế nhưng nếu có một thành
phần kinh tế chủ đạo, đủ mạnh chi phối các
thành phần kinh tế khác thì sự đối kháng đối lập
về kinh tế - xã hội sẽ không trở thành sự đối
kháng ở quy mô giai cấp. Ở nước ta, mặc dù
10
kinh tế nhiều thành phần nhưng kinh tế nhà
nước là chủ đạo thì sẽ không dẫn đến đối kháng
giai cấp. Như vậy, vịêc duy trì một Đảng, nhất
nguyên chính trị là tất yếu khách quan, là điều
kiện đảm bảo sự ổn định chính trị để phát triển
kinh tế. Song, để lãnh đạo tốt kinh tế cũng như
các lĩnh vực khác của đời sống XH, Đảng phải
tự đổi mới vươn lên ngang tầm nhiệm vụ. NQ
TW6 (lần 2) khoá VIII chủ trương tăng cường
công tác phê bình, tự phê bình, chỉnh đốn Đảng
là nhằm làm trong sạch phẩm chất, đạo đức, lối
sống của cán bộ, Đảng viên để nâng cao năng
lực và sức chiến đấu của Đảng. Đây là yêu cầu
bắt buộc của Đảng trong tình hình mới hiện nay.
Thứ tư: Kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước. Kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần bao giờ cũng có hai mặt: tích cực và
tiêu cực. Mặt trái của cơ chế thị trường là
khoảng cách giàu nghèo trong nội bộ nhân dân
có xu hướng ngày càng lớn, tình trạng thất
nghiệp khá lớn, tính chất bóc lột theo kiểu TBCN
đang có xu hướng trở thành phổ biến trong các

quản lý , còn không quan tâm đời sống của
nhân dân như thế nào. Tình trạng trên nói dưới
không nghe, hiện tượng làm láu báo cáo hay,
hiện tượng quên lãng nghị quyết, quên lãng
pháp luật. Việc cải cách hành chính mà nhất là
hành chính về kinh tế còn chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển nền kinh tế. Vì vậy, tăng cường
sự lãnh đạo chính trị đối với nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN ngày càng trở
nên vấn đề trọng yếu trong sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước
Thứ năm: Đổi mới hệ thống chính trị cho
phù hợp với đổi mới kinh tế. Trong thời kỳ quá
độ tiến lên CNXH ở nước ta hệ thống chính trị
XHCN do ĐCS VN lãnh đạo. Để đảm bảo chính
trị là động lực, là mở đường cho kinh tế phát
triển, thì hệ thống chính trị phải tiến hành đổi
mới,. Không làm được điều đó hệ thống chính trị
sẽ không thể định hướng cho kinh tế và như thế
nguy cơ chệch hướng kinh tế hoàn toàn có thể
xảy ra. Nghị quyết Đại hội VII đã chỉ rõ nguy cơ
chệch hướng kinh tế có thể bắt đều từ chính
hình thái chính trị. Đổi mới nâng cao hiệu lực
hoạt động của hệ thống chính trị. Chính là yếu tố
quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới ở nước ta. Đổi mới hệ thống chính trị và
từng bước xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ
XHCN có quan hệ biện chứng với nhau. Thực
chất đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở
nước ta là xây dựng nền dân chủ XHCN. Dân

thức, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Hai là chính trị phải làm cho kinh tế nâng
cao hiệu quả KTXH : chính trị phải đảm bảo tốt
phát triển KT với phát triển XH, phải là cho sự
phát triển kinh tế đem lại lợi ích cho mọi người,
làm cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng,
các miền trong địa phương cả nước. Chính trị
phải lãnh đạo việc đổi mới quan hệ, phải đảm
bảo công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện
Việt Nam, công nghệ phải đảm bảo khôi phục
tính chỉnh thể của môi trường, chỉnh thể của
người lao động. Phải lãnh đạo tốt việc phát triển
kinh tế gắn liền với bảo vệ tổ quốc, chiến lược
kinh tế gắn liền với chiến lược an ninh quốc
phòng và phòng thủ quốc gia
Ba là sự lãnh đạo của chính trị nhằm thúc
đẩy nhanh tiến trình khách quan thúc đẩy sự
phát triển của kinh tế. Chính trị phải tạo ra môi
trường cho các quy luật kinh tế phát huy tác
dụng, phải vận dụng những quy luật nhân tố
ngoài kinh tế tác động vào KT. Chính trị phải chủ
động tạo ra sự gần gũi giữa các chủ thể chính trị
với các chủ thể KT, làm cho kinh tế quán triệt
ngày càng đầy đủ hơn quan niệm, đường lối của
Đảng về kinh tế chính trị. Ngược lại các nhà
chính trị nắm vững hơn thực trạng xu hướng
phát triển của đất nước.
Bốn là chính trị phải hạn chế đến mức tối
thiểu mặt trái của kinh tế thị trường : chính trị
phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, phải trong

tế quốc tế, phát triển nhanh có hiệu quả và bền
vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển
văn hoá, từng bước cải thệin đời sống vật chất
và tinh thấn của nhân dân, thực hiện tiến bộ và
công bằng XH, bảo vệ và cải thiện môi trường;
kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường
quốc phòng an ninh”./.
Vấn đề 5: Phân tích những đặc trưng cơ bản
của VH chính trị ở Việt Nam. Liên hệ việc nâng
cao trình độ VH chính trị cho cán bộ và quần
chúng ở địa phương mình.
Bài làm
Trong đời sống chính trị hiện đại, văn hóa
chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng góp
phần thúc đẩy hoạt động chính trị của mọi công
dân. Sự phát triển của xã hội hiện đại cũng ngày
càng minh chứng văn hóa chính trị là mặt quan
trọng của văn hóa nói chung. Điều này xuất phát từ
ý nghĩa của vấn đề chính trị. Bởi lẽ, chính trị là mối
quan hệ giữa các giai cấp và giữa các cộng đồng
quốc gia; là sự tham gia của nhân dân vào các
công việc của nhà nước và XH; là tổng hợp những
phương hướng, những mục tiêu gắn liền với lợi ích
cơ bản của giai cấp, đảng phái, quốc gia, dân tộc;
là hoạt động thực tiễn chính trị để thực hiện mục
tiêu, đường lối chính trị của từng cá nhân, tổ chức
chính trị. Đất nước ta đang tiến vào thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bên cạnh thời
cơ và thuận lợi chúng ta cũng đang đứng trước
nhiều nguy cơ thử thách. Đặc biệt qua 15 năm đổi

hơn của KH chính trị thì “Văn hóa chính trị là một
phương diện vănhóa trong xã hội có giai cấp, nói
lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động
chính trị hiện thực cùng những thiết chế chính trị
tiến bộ được lập ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ
bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự
phát triển của lịch sử. Văn hóa chính trị nói lên
phẩm chất và hình thức hoạt động chính trị của con
người cùng những thiết chế chính trị mà họ lập ra
để thực hiện lợi ích giai cấp cơ bản của chủ thể
tương ứng”.
Từ những quan niệm trên cho thấy con đường
hình thành và phát triển VH chính trị trong XH nhất
định là sự hoàn thiện chế độ XH cùng các tổ chức
thiết chế chính trị và việc nâng cao năng lực chính
trị của XH. Việc kế thừa và phát triển những giá trị
vật chất, giá trị tinh thần do hoạt động chính trị
sáng tạo ra của nhân loại, của dân tộc là yêu cầu
tất yếu trong quá trình phát triển VH chính trị ở
nước ta hiện nay.
2. Đặc trưng văn hóa chính trị.
- VH chính trị bao giờ cũng mang tính giai
cấp.
Văn hóa chính trị hình thành trong thực tiễn
đấu tranh giai cấp vì vậy nó luôn bị chi phối bởi thế
giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị
của giai cấp nhất định và phục vụ cho lợi ích của
mỗi giai cấp. Tuy rất quan trọng nhưng tính giai cấp
không phải là thuộc tính duy nhất của VH chính trị.
Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VH

đó qui định tính lịch sử của VH chính trị. Tính cụ thể
của VH chính trị dựa trên cơ sở lý tưởng chính trị,
lập trường và hành vi , cũng như trên cơ sở yếu tố
tâm lý XH. Tính lịch sử của VH chính trị thể hiện ở
trong các điều kiện lịch sử khác nhau. Mặt khác,
các giá trị VH chíng trị không phải là cái gì bất biến
mà luôn có sự vận động và phát triển.
- VH chính trị mang tính kế thừa .
Hệ tư tưởng là nhân tố cốt lõi nhất của VH
chính trị. Nhưng trong mỗi hình thái kinh tế nhất
định, kết cấu giai cấp rất phức tạp và không thuần
nhất. Do đó, trong mỗi nền chính trị, VH chính trị
không thuần nhất. VH của các giai cấp có hệ tư
tưởng độc lập chi phối VH của giai cấp khác tạo
nên bức tranh đa dạng của VH chính trị. Bên cạnh
VH chính trị của giai cấp nắm quyền lực Nhà nước,
còn có VH chính trị của các giai cấp và các giai
tầng khác nhau trong XH.
- VH chính trị là sự tổng hòa tất cả các hình
thái VH cơ bản của XH.
VH chính trị như là sự thâu thái toàn bộ các
hình thái VH khác vào trong nó và biến những giá
trị ấy thành những giá trị mang tính độc đáo riêng
của mình. Giá trị của VH chính trị luôn bao chứa
trong mình nó không chỉ là cái chính trị mà còn cả
cái đạo đức, cái khoa học, cái thẩm mỹ. Một giá trị
văn hóa khác chưa hẳn mang tính chính trị nhưng
bất kỳ một giá trị vănhóa chính trị nào cũng không
thể không mang giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ và
cả tri thức khoa học ở mức độ cần thiết. Chính vì

quốc gia; chủ nghĩa yêu nước là kết tinh những giá
trị tiêu biểu nhất của VH chính trị VN. Khắc phục
thiên tai và chống giặc ngoại xâm là hai đặc điểm
truyền thống tạo nên tính cố kết cộng đồng trong
đời sống của con người VN. Chính trong quá trình
dựng nước và giữ nước, trí tuệ, nhân cách và sức
mạnh sáng tạo của dân tộc VN được kết tinh. Tình
cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng
lớn nhất, bao trùm nhất của nhân dân, của dân tộc
VN. Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Chủ nghĩa yêu
nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua lịch sử VN biểu lộ rõ
ràng, đầy đủ, tập trung hơn bất cứ chỗ nào khác.
Yêu nước thành một triết lý xã hội và nhân sinh của
người VN và, nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa
của nó là “đường”, là hướng đi thì chủ nghĩa yêu
nước đích thực là đạo của VN”. Chủ nghĩa yêu
nước VN thể hiện qua một số nội dung cơ bản sau:
Yêu quê hương xứ sở làng sớm, gắn bó kết cấu
cộng đồng có lịch sử và VH chung, Ý thức dân tộc
và tự hào dân tộc; ý thức sâu sắc về độc lập dân
tộc, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia,
hướng về dân và lấy dân làm gốc.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
HCM là bộ phận cốt lõi nhất trong VH chính trị VN
hiện nay. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng cho mọi hoạt
động của mình. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
HCM luôn vì con người và mang những giá trị nhân
văn, luôn hướng mọi hoạt động của con người đi
đến chân, thịện, mỹ; chính vì thế mà đây là một bộ

mà Đảng ta đã kế thừa và phát huy trong giai đoạn
hiện nay.
Thứ tư, tiếp thu phê phán, chọn lọc những giá
trị VH chính trị của nhân loại để bảo tồn và phát
triển văn hóa chính trị VN.
Tóm lại, ngày nay trong sự nghiệp đổi mới
nhằm đưa đất nước đi lên theo hướng CNH-HĐH
đất nước, nhiệm vụ của các chủ thể chính trị hiện
đại, mà trên hết là các chủ thể lãnh đạo vừa phải
biết kế thừa các giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân
loại, mặt khác phải tìm cách hạn chế và khắc phục
những ảnh hưởng tiêu cực để góp phần tạo nên
một môi trường văn hóa chính trị VN tiên tiến, hiện
đại, thúc đẩy quá trình phát triển đất nước trên con
đường CNH, HĐH. Cụ thể, nhiệm vụ của văn hóa
chính trị hiện đại ở VN là văn hóa chính trị được
xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó Đảng
cộng sản VN là hạt nhân lãnh đạo toàn diện và
tuyệt đối các lĩnh vực đời sống xã hội, biết kế thừa
và phát huy một cách hợp lý những cái hay cái đẹp
trong truyền thống, đồng thời tiếp thu những cái
hay cái đẹp của văn hóa chính trị hiện đại (kể cả
của nước ngoài).
4. Thực trạng phát huy văn hóa chính trị ở nước
ta :
12
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi
xướng với mục tiêu định hướng XHCN: Xây dựng
nhà nước VN dân giàu nước mạnh, XH công bằng,

Mặc dù vậy, văn hóa chính trị nước ta
đang đứng trước những vấn đề bức xúc phải giải
quyết, những khó khăn trong công tác giáo dục
đào tạo, việc nâng cao mặt băng dân trí, nhất là ở
vùng sâu, vùng xa, miền núicòn nhiều chênh lệch
vứi đô thị, những hoạt động văn hoá không lành
mạnh và các tệ nạn xã hội vẫn phát triển… kỷ
cương kỷ luật, trật tự xã hội còn nhiều chỗ chưa
tốt. Một số hạn chế bao gồm :
Một là, sự bất cập về tri thức chính trị :
nhiều vấn đề thực tiễn bức xúc chưa được lý giải
về lý luận và chưa kịp thời đúc rút kinh nghiệm. Hệ
thống chính sách pháp luật còn chồng chéo, chưa
hoàn chỉnh, hoạt động pháp chế còn nhiều hạn chế
(tùy tiện trong hành pháp, sai sót trong tư pháp ),
thể chế chính trị chưa hoàn thiện, định chế của hệ
thống chính trị chưa cụ thể, thiết chế tổ chức còn
cồng kềnh, kém hiệu lực Một bộ phận cán bộ
nhân dân còn hạn chế trong tranh luận chính trị,
những sinh hoạt chính trị đóng góp xây dựng đảng,
xây dựng chủ trương đường lối của Đảng, của nhà
nước với khẩu hiệu: “ Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”. Môt bộ phận cán bộ, nhân dân còn
xem nhẹ định hướng chính trị trong các hoạt động
kinh tế, bên cạnh đó là vấn đề đẳng cấp văn hoá-
chính trị vẫn còn chưa có sự bình đẳng trong chính
trị.
Hai là, nguy cơ xói mòn các giá trị truyền
thống : một số giá trị có nguy cơ mai một dần, các
giá trị mới được xác lập chưa thật sự vững chắc,

trị của địa phương mình mà đề ra những giải pháp
cụ thể để nâng cao trình độ văn hóa chính trị cho
cán bộ và quần chúng ở cơ quan, đơn vị dựa trên
một số phương hướng cơ bản như sau :
- Một là : phải nâng cao trình độ học vấn,
trình độ VH nói chung cho nhân dân bởi lẽ trình độ
học vấn, trình độ VH chính là cơ sở của VH chính
trị.
+ Việc nâng cao trình độ VH chính trị cho
cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tại các
địa phương, đơn vị trước nhất phải được xem là
nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng
trên 3 mặt : chính trị, tư tưởng và tổ chức, mà cụ
thể là tiếp thu quán triệt và tổ chức thực hiện tốt
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII về một
số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng
hiện nay, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống của cán bộ, đảng viên; và thực hiện tốt
Nghị quyết TW 5, khóa VIII về xây dựng và phát
triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc.
+ Xây dựng gia đình văn hóa trong thời
kỳ CNH-HĐH cũng là một giải pháp rất quan trọng
để phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, làm
cho những giá trị đó không chỉ thuộc về quá khứ
mà còn trở thành nhân tố trực tiếp xây dựng gia
đình văn hóa mới
- Hai là phải đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục lý luận chính trị để góp phần hình
thành thế giới quan khoa học và niềm tin trong

pháp tập hợp giáo dục quần chúng theo các đoàn
thể, các hội, các hiệp hội. Sự phát triển sâu rộng
các hội của quần chúng là biểu hiện trính độ phát
triển của VH dân chủ. Đây là môi trường rất tốt để
trao đổi, giáo dục VH cho công dân trong một xã
hội đang đổi mới.
- Sáu là đặc biệt coi trọng nghiên cứu
khai thác di sản tư tưởng Hô Chí Minh về văn hóa
chính trị thông qua những bài viết, lời nói, cách ứng
xử của Hồ CHí Minh.
Ngoài ra để VH chính trị trở thành phổ
biến và thâm nhập rộng rãi vào quần chúng nhân
dân thì cần sớm tập trung lực lượng chuyên gia để
nghiên cứu và tiễn khai các đề tài về chính trị và
khoa học chính trị, trong đó có vấn đề về VH chính
trị.
Tóm lại, trên cơ sở đánh giá thực trạng
VH chính trị của nước ta hiện nay, trên cơ sở quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ trương
đường lối đúng đắn của đảng ta đã cho chúng ta
thấy được vai trò hết sức quan trọng của VH chính
trị trong yêu cầu đổi mới đó cũng là cơ sở khách
quan, khoa học để chúng ta thống nhất khẳng định
rằng giáo dục VH chính trị là nhiệm vụ hết sức
quan trọng bức thiết và cấp bách, đồng nó đòi hỏi
mọi nổ lực phấn đấu thực hiện bằng phương
hướng và biện pháp thích hợp nhằm đạt hiệu quả
cao nhất, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu chung
là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ văn minh” và vững bước đi lên chủ nghĩa xã

bầu cử để Đảng tham gia nắm chính quyền. Theo
quan niệm của CN Mác-Lênin : Đảng là một tổ
chức chính trị của một giai cấp, đại biểu lợi ích cho
giai cấp đó. Đảng ra đời nhằm mục đích đấu tranh
giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Đảng
lãnh đạo giai cấp đấu tranh giành chính quyền
bằng phương pháp cách mạng, bằng bạo lực cách
mạng. Từ quan niệm này, có định nghĩa về Đảng
như sau: “Đảng là tổ chức chính trị của những
người cùng chung hệ tư tưởng, đại biểu giác ngộ
nhất, tích cực nhất của một giai cấp, đấu tranh cho
quyền lợi của giai cấp ấy và lãnh đạo giai cấp ấy
trong cuộc đấu tranh chính trị”.
13
Đảng chính trị ra đời bắt đầu từ cuộc đấu
tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến và phát
triển mạnh mẽ trong XH hiện đại. Đảng sẽ mất ý
nghĩa tồn tại khi sứ mệnh lịch sử của giai cấp đã
hoàn thành. Mục tiêu của các đảng chính trị là
hướng tới lãnh đạo, điều hành chính quyền nhà
nước, tổ chức cho giai cấp và các lực lượng ngoài
giai cấp tiến hành đấu tranh theo đường lối chính trị
của mình. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc.
Đảng chính trị bao giờ cũng mang bản chất
giai cấp. Đảng chính trị luôn đại diện cho hệ tư
tưởng, quyền lực và lợi ích của giai cấp nhất định.
Một giai cấp có thể có nhiều đảng chính trị (điều
này là phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa)
nhưng mỗi đảng đều mang bản chất của một giai
cấp nhất định. Không thể có đảng chính trị nào là

cụ để hình thành những chủ trương, chính sách
của đảng.
Sự tác động của các đảng chính trị đến đời
sống xã hội ở những mức độ khác nhau mà đảng
cầm quyền bao giờ cũng là nhân tố quyết định sự
phát triển của đất nước. Tác động của các đảng
chính trị không chỉ ở mặt tích cực mà còn có cả
mặt tiêu cực; tác dụng tích cực hay tiêu cực đến
đâu là tùy thuộc vào sứ mệnh lịch sử và bản chất
giai cấp của đảng chính trị. Cho nên, khi đánh giá
một đảng không phải chủ yếu chỉ dựa vào cương
lĩnh, đường lối, mà cơ bản hơn là xem xét tính hiệu
quả chính trị - xã hội của nó, sự ủng hộ của nhân
dân và địa vị của đảng trong bộ máy chính quyền
nhà nước.
II. Chế độ đa nguyên và nhất nguyên chính trị :
Trong một nước có thể có nhiều đảng phái
chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
nhau cùng tồn tại, đối lập, đấu tranh với nhau đòi
chia sẻ vai trò lãnh đạo chính trị và chi phối đời
sống chính trị - xã hội của quốc gia, đó là các nước
thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập. Song cũng có những nước chỉ có duy nhất một
đảng chính trị chi phối quyền lực chính trị - xã hội;
tức là thực hiện chế độ một đảng, nhất nguyên
chính trị.
1. Chế độ đa nguyên chính trị :
Chế độ đa nguyên chính tri, đa đảng đối lập
đã trở thành phổ biến trong các nước TBCN. Sự đa
nguyên hay đa đảng chủ yếu diễn ra trong tranh

một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn không văn
minh: khủng bố, mua chuộc, hối lộ, tung nói tin xấu
lẫn nhau…
Hiện tượng đa nguyên, đa đảng trong nền dân
chủ tư sản là xuất phát từ sự ra đời của nhiều đảng
chính trị tư sản trong cuộc đấu tranh chống chế độ
phong kiến. Ngay từ khi ra đời, dù có chung mục
đích là lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng chế độ
TBCN nhưng các đảng tư sản đã có những mâu
thuẫn nội bộ, phản ánh những mâu thuẫn về lợi ích
giữa các giai tầng trong nội bộ giai cấp tư sản.
Ngày nay, những mâu thuẫn cục bộ về lợi ích giữa
các tập đoàn tư bản cũng những mâu thuẫn cơ bản
với các giai cấp và các tầng lớp khác không những
không mất đi mà còn tăng lên với cả các tầng lớp
XH mới trưởng thành. Vì thế, mà các đảng khác
nhau ấy vẫn tồn tại bên nhau, các đảng mới tiếp
tục được thành lập, chúng đấu tranh giành giựt
quyền lợi, lợi ích cá nhân
Chế độ đa nguyên về hình thức có vẻ rất dân
chủ, các đảng đều có quyền tự do cạnh tranh luận,
ứng cử và bầu cử để trở thành Đảng cầm quyền.
Nhưng thực chất chỉ có những đảng lớn, có thế lực
và có sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản lớn,
được pháp luật dành cho sự thuận lợi mới có khả
năng thắng cử và trở thành đảng cầm quyền. Các
đảng lớn thay thế nhau cầm quyền nhưng xét cho
cùng dù là đảng nào trong giai cấp tư sản giành
thắng lợi (cầm quyền) thì mục tiêu chính trị cũng là
trước hết phục vụ giai cấp tư sản. Cho nên, về thực

đầy đủ, vi phạm dân chủ thì cũng tiềm ẩn nguy cơ,
trở ngại. Đó là chủ quan duy ý chí và quan liêu
trong xác định chủ trương, đường lối Đảng dễ áp
đặt ý chí của mình vào nhà nước và xã hội, áp đặt
không hợp lý người của đảng, không đủ các tiêu
chuẩn vào các cơ quan nhà nước và đoàn thể, tự
đặt đảng lên trên nhà nước và pháp luật. Đảng bao
biện, làm thay công việc nhà nước mà không chịu
trách nhiệm pháp lý về các quyết định của mình.
Người dân khó kiểm soát, giám sát được các cơ
quan quyền lực và cán bộ trong hệ thống quyền
lực. Đảng và nhà nước không bị thúc bách, tìm tòi,
thực hiện các hình thức dân chủ linh hoạt, cởi mở
trong khi vẫn đảm bảo nguyên tắc cơ bản của chế
độ.
Các nước XHCN đều theo chế độ một Đảng
nhất nguyên chính trị là do xuất phát từ điều kiện
lịch sử. Từ khi phong trào cách mạng của giai cấp
công nhân ra đời cho đến nay, thực tế cho thấy
chưa có đảng cộng sản nào giành thắng lợi thông
qua con đường nghị trường dù đã tranh thủ tối đa
khả năng đó. Lịch sử đã chứng minh các đảng
cộng sản giành chính quyền thắng lợi chỉ bằng bạo
lực cách mạng và sau khi giành chính quyền thắng
lợi sẽ thiết lập hệ thống chính trị trong đó Đảng
công sản giữ vai trò duy nhất lãnh đạo xây dựng
chế độ mới. Trong cuộc đấu tranh giành chính
quyền cũng như trong xây dựng chế độ mới, không
có một giai cấp nào, một lực lượng nào có thực lực,
có tín nhiệm với nhân dân để có thể “đối trọng” với

cho mình, giai cấp công nhân cũng đồng thời giải
phóng cho tất cả. Cho nên đội tiền phong của nó là
14
Đảng cộng sản không chỉ đại diện cho quyền lực và
lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đại diện cho
giai cấp nông dân, cho nhân dân lao động và cả
dân tộc. Chính lẽ đó mà được nông dân và nhân
dân lao động cả dân tộc xem là Đảng của mình mà
không cần thành lập thêm Đảng nào khác. Thứ hai,
sự nhất nguyên của một đảng cầm quyền là do
thực tiễn cách mạng vô sản quy định. Các lực
lượng gọi là “đối trọng” với Đảng CS, thực chất đều
là những tổ chức chống phá sự nghiệp cách mạng
của nhân dân. Cho nên lịch sử đã đặt trọng trách
về vận mệnh của quốc gia dân tộc cho Đảng CS
phải gánh lấy. Thứ ba, sự nhất nguyên của một
Đảng CS cầm quyền còn là bài học xương máu
của nhân dân. Sự thực hiện “đa nguyên” “đa
đảng”, dân chủ theo kiểu tư sản ở Liên Xô và Đông
âu vừa qua, là một bài học đắt giá đối với các nước
XHCN, đã làm cho CNXH bị khủng hoảng và lâm
vào thoái trào. Đồng thời, thực tế cũng chứng minh
rằng, các nước thực hiện sự cải cách hay đổi mới
thu được những thắng lợi căn bản và vững bước đi
theo con đường CNXH đều đã kiên trì nguyên tắc:
nhất nguyên chính trị, giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo duy nhất, đúng đắn của Đảng CS đối với
hệ thống chính trị và toàn XH. Cả hai (sự tổn thất
và sự thành công trên) đều là bài học vô giá - về
thế nào là tự do dân chủ - không chỉ đối với người

không có một lực lượng chính trị nào đảm đương
nổi. Từ khi bước lên vũ đài chính trị, Đảng ta đã
gánh vác trách nhiệm lịch sử giao phó lãnh đạo
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Nhân dân VN đã gắn bó máu thịt với Đảng
suốt quá trình cách mạng của dân tộc hơn 70 năm
qua. Dưới sự lãnh đạo của đảng, đất nước ta đã
độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia dân tộc
được thực hiện và đang tiến hành công cuộc đổi
mới phương thức đi lên CNXH. Lịch sử từ cách
mạng tháng 8/1945, kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ đến công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước ngày nay đã chứng minh: không thể có và
cũng không cần phải có một lực lượng chính trị nào
khác có thể “đối trọng” với Đảng ta. Hơn nữa nhân
dân ta cũng không chấp nhận sự lãnh đạo của bất
kỳ ai khác ngoài Đảng ta, mà cũng không cho phép
một lực lượng chính trị nào có thể “đối lập” với
Đảng cộng sản VN. Như Bác Hồ đã khẳng định
“Đảng ta là đảng chỉ có một điều là phục vụ tổ
quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ CNXH và CNCS.
Ngoài ra không còn có lợi ích nào khác”. Bài học
kinh nghiệm quốc tế: sự sụp đổ của chế độ XHCN
ở Liên Xô và Đông Âu, cho thấy: nếu ta chấp nhận
“đa nguyên, đa Đảng” thực chất là mở đường cho
sự ra đời và tồn tại của các đảng phái phản động
trong và ngoài nước có điều kiện trỗi dậy một cách
hợp pháp chống phá sự nghiệp cách mạng, đi
ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và của
toàn dân tộc, làm cho tình hình trổ nên rối loạn,

kiến trúc thượng tầng.
- Sự duy nhất lãnh đạo của Đảng cộng sản
VN là nhằm đảm bảo nền chuyên chính của giai
cấp công nhân với toàn xã hội. Nền chính trị nào
cũng là sự chuyên chính của một giai cấp với sự
lãnh đạo bởi đội tiên phong của giai cấp đó để
thống trị toàn XH. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
VN là thực hiện sự chuyên chính của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động đối với bất cứ ai chống
lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động, dân tộc VN và con đường của nhân dân ta
đã được lựa chọn; đồng thời, cũng là điều kiện tiên
quyết để đảm bảo toàn bộ quyền lực nhà nước ta
thực sự là của nhân dân. Nếu thực hiện “đa nguyên
chính trị” “đa đảng đối lập”, thì điều này không
những trái với quy định của lịch sử cách mạng VN,
mà còn tổn hại đến lợi ích nhân dân lao động và
tiền đồ của dân tộc. Nếu tồn tại đảng đối lập với
Đảng ta thì đó là đảng gì? của ai? đem lại lợi ích
cho giai cấp nào? Chắc rằng chúng ta đều đã rõ!
IV. Những biện pháp chủ yếu để thực hiện giữ
vững chế độ một đảng, nhất nguyên chính trị .:
Ngày nay, cách mạng nước ta đã chuyển sang
thời kỳ mới: “Tiếp tục xây dựng CNXH, bảo vệ tổ
quốc XHCN và đẩy mạnh công nghiệp hoá, HĐH
đất nước”. Công cuộc CNH, HĐH đất nước theo
định hướng XHCN do Đảng khới xướng là một sự
nghiệp lớn lao; song rất khó khăn, gian khổ nhất là
trong bối cảng phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế lâm vào thoái trào, CNTB vẫn còn sức sống

cao giác ngộ vể chính trị, nắm vững, vận dụng
sáng tạo và góp phần phát triển CN Mác-Lênin, tư
tưởng HCM “làm cho thế giới quan Mác-Lênin, tư
tưởng đạo đức HCM giữ vị trí chủ đạo trong đời
sống tinh thần xã hội”. Việc vận dụng CN Mác-
Lênin, tư tưởng HCM vào hoàn cảnh cụ thể của
nước ta có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của
công cuộc đổi mới đất nước. Nghiên cứu và vận
dụng tư tưởng HCM chẳng những là yêu cầu cấp
bách đối với hoạt động lãng đạo mà còn nâng cao
năng lực vận dụng hệ tư tước Mác-xít vào Việt
Nam. Vì vậy, đổi mới công tác tư tưởng là yêu cầu
có ý nghĩa hết sức cấp bách lại vùa có ý nghĩa lâu
dài.
+ Chỉ có dựa trên hệ tưởng nhất định thì Đảng
mới có thể đoàn kết- thống nhất. Đó là thường
xuyên chăm lo, củng cố và phát triển sự đoàn kết
của Đảng, bảo đảm Đảng ta luôn luôn là một khối
thống nhất vế ý chi và hành động. Chỉ có đoàn kết
nội bộ tốt thì mới thực hiện đuợc không toàn dân,
đoàn kết quốc tế, sự suy yếu về tổ chức chẳng
những làm giảm sút sức mạnh mà còn có thể ảnh
hưởng đến vận mệnh của Đảng. Toàn Đảng phải
thực hiện cho được lời Bác dạy: “ các đồng chí từ
trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn
kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của
mắt mình”.
b- Để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng,
Đảng ta có nhiều NQ về xây dựng Đảng cụ thể là :
+ Xây dựng Đảng CS thật sự trong sạch, vững

sở, sát nhân dân nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn
lợi ích và nguyện vọng của đoàn viên, hội viên về
viếc làm, đời sống về yêu cầu phát huy dân chủ và
tính công khai; đồng thời với việc tổ chức kiện toàn
bộ máy của các đoàn thể nhân dân trên cơ sở gọn
nhẹ và hiệu quả. Đồng thời coi trọng và phát huy
vai trò to lớn của báo chí cách mạng. Đây là những
kênh rất quan trọng để bảo đảm phát huy dân chủ.
c- Trong tình hình hiện nay cần tập trung giải
quyết một số vấn đề then chốt
+ Tạo lập được phương thức lãnh đạo của
Đảng thực sự đúng đắn, linh hoạt; trong đó phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là mấu
chốt, khắc phục tình trạng Đảng bao biện làm thay
nhà nước hoặc buông lỏng sự lãnh đạo đối với nhà
nước. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chính
sách của Đảng thể hiện được tính KH, sát thực tế,
phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều này
thể hiện là làm cho mỗi cán bộ, Đảng viên tích cực
tham gia xây dựng, nghiêm chỉnh thực hiện và nêu
cao trách nhiệm bảo vệ đường lối, chính sách của
Đảng. Sai lầm đường lối, chính sách hoặc có
đường lối chính sách đúng mà thực hiện không tốt
hoặc không thực hiện, thậm chí còn làm sai thì
không giữ được lòng tion của nhân dân đối với
Đảng. Đồng thời từng bước hoàn thiện nền dân
chủ XHCN và đổi mới Đảng để Đảng ngang tầm
với vai trò, nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, thật sự đại
diện cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân
tộc. Kiện toàn một bước tổ chức, bộ máy của

thịt giữa Đảng và nhân dân. Nghĩa là mọi tổ chức
của Đảng, từng cán bộ, Đảng viênphải góp phần
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn
hoá tinh thần cho nhân dân nhất là ở những vùng
kho khăn, xa xôi. Đặc biệt coi trọng giáo dục nâng
cao giác ngộ chính trị, trình độ dân trí để nhân
dângiữ vững lòng tin đi theo Đảng thực hiện thắng
lợi nhệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc
nền độc lập tự chủ của dân tộc.
+ Thường xuyên nâng cao cảnh giác cách
mạng, kịp thời phát hiện và làm thất bại mọi mưu
toan thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,
làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của
chúng. Đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện của
chủ nghĩa cơ hội, hữu khuynh, xét lại hoặc giáo
điều, bảo thủ làm cho Đảng ta luôn luôn vững vàng,
kiên định có sức chiến đấu cao.
Ngày nay ở nước ta việc đổi mới Đảng là
nhằm tăng cường sức chiến đấu của Đảng, để
Đảng xứng đáng là lực lượng lãnh đạo xã hội, là
nhân tố có ý nghĩa sống còn bảo đảm cho sự tồn
tại bền vững của chế độ nhất nguyên chính trị và
định hướng đi lên CNXH. Đồng thời với việc đối
mới Đảng, tiếp tục đổi mới các nhân tố của hệ
thống chính trị để khắc phục những yếu kém đã trở
thành bức thiết để hệ thống chính trị góp phần tích
cực vào quá trình CNH, HĐH đất nước tăng cường
và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân là nhằm
thựchiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ và văn minh”, nền dân chủ

Vậy đường lối đúng đắn là gì và vai trò
của nó như thế nào đối với sự nghiệp đổi mới
mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành ? Vận
dụng kiến thức chính trị học và thực tiễn cách
mạng Việt Nam, chúng ta hãy phân tích làm rõ
vấn đề trên
1. Khái niệm quyết sách chính trị
Quyết sách chính trị là quyết định của
một tổ chức lãnh đạo hệ thống (hay phong trào)
chính trị vạch ra đường lối, xác định quan điểm,
đề ra chủ trương, hoạch định chính sách hoạt
động chính trị cho cả hệ thống (hay phong trào)
đó trong những cuộc vận động chính trị nhất
định dưới các hình thức cơ bản như : cương
lĩnh, đường lối, nghị quyết chính trị của Đảng.
Đối với Đảng cầm quyền là Đảng Cộng
sản, quyết sách chính trị của Đảng cộng sản
chính là đường lối, là nghị quyết chính trị của
Đảng.
Đường lối của Đảng là khoa học,nghệ
thuật lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân
trong cuộc đấu tranh nhằm từng bước cải biến
XH cũ, xây dựng XH mới.
Nghị Quyết của Đảng là sự cụ thể đường
lối của Đảng thành những mục tiêu, nhiệm vụ cụ
thể cho các lĩnh vực của đời sống XH, cho 1 địa
bàn, 1 cơ sở, đất nước.
Giữa đường lối và nghị quyết có sự đồng
nhất và khác nhau. Với ý nghĩa đường lối là sự
bao quát một hệ thống quan điểm của Đảng

Đối với Đảng chính trị, nhất là đảng cầm
quyền, việc xây dựng và tổ chức thực hiện
đường lối chính trị là hoạt động tất yếu, là nhân
tố quan trọng nhất, đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của Đảng. Tầm quan trọng của đường lối
chính trị được qui định bởi chính nội dung của
nó, thể hiện ở 3 nội dung cơ bản sau đây:
- Đường lối chính trị trước hết đó là đề ra
mục tiêu của cách mạng bằng cương lĩnh
đường lối. Trên thực tế đối với một Đảng để
hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì phải
giải quyết nhiều nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu là đề ra mục tiêu cho cách
mạng, tức là phải đề ra được cương lĩnh đường
lối đúng.
- Nội dung của đường lối chính trị còn
xác định kẻ thù, xác định bạn đồng minh để từ
đó bố trí lực lượng CM.
- Đường lối chính trị còn đề ra con
đường, biện pháp và những bước đi cụ thể cho
từng giai đoạn cách mạng để từ đó tránh được
bệnh hữu khuynh và tả khuynh.
Tính đúng đắn, độ chính xác về mặt khoa
học thực tiễn của đường lối chính trị là nhân tố
quan trọng hàng đầu góp phần tạo nên những
thắng lợi của cách mạng, thúc đẩy tiến trình lịch
sử phát triển theo xu hướng tích cực đảm bảo
vai trò lãnh đạo và sự phát triển vững mạnh của
Đảng. Quyết sách chính trị đúng thì chính là xu
hướng chính trị tiến bộ tạo điều kiện cho kinh tế

trong thực tiễn là những nhiệm vụ cơ bản của
một đảng chính trị. Nói cách khác, trách nhiệm
cao cả và nặng nề trước hết của một Đảng cầm
quyền là vạch ra cương lĩnh, đường lối đúng để
lãnh đạo đất nước, dẫn dắt cả dân tộc đi lên,
tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.
Đường lối chính trị đúng là đường lối
phản ánh đúng quy luật khách quan đáp ứng
đúng yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với nguyện
vọng của nhân dân, chỉ ra được mục tiêu,
phương hướng và giải pháp cơ bản của cách
mạng, trên cơ sở đó tập họp tổ chức động viên
quần chúng một cách có hiệu quả.
Đường lối chính trị đúng đắn không thể là
sản phẩm ý chí thuần túy chủ quan của các
nhân con người mà là sản phẩm, ý chí của giai
cấp, của Đảng chính trị, phản ánh những
khuynh hướng phát triển khách quan của XH.
Để tìm ra đường lối hợp lý đòi hỏi Đảng
chính trị phải có một sự nhìn nhận toàn diện : từ
toàn cục đến cục bộ, từ trước mắt đến lâu dài,
từ giá trị kinh tế đến hiệu quả xã hội, tìm ra vấn
đề then chốt trong mối quan hệ phức tạp tiến
hành luận chứng chặt chẽ chi tiết các phương
án, nêu ra quyết đoán có hiệu quả và khả thi.
Để xây dựng được quyết sách chính trị
đúng, các Đảng chính trị phải dựa trên 2 tiền đề
khách quan và chủ quan
a. Tiền đề khách quan :
Căn cứ khách quan được sử dụng làm

mới giúp chúng ta nhận thức được nguyên nhân
sâu xa của các hiện tượng và quá trình xã hội
một cách đầy đủ và đúng đắn, từ đó mới tạo
điều kiện cho các Đảng đưa ra được cương lĩnh
và đường lối chính trị phù hợp. Mặt khác, phép
biện chứng duy vật còn giúp ta nhận định rõ
ranh giới giữa tính nguyên tắc với chủ nghĩa
giáo điều, bệnh rập khuôn máy móc, giữa tính
linh hoạt cách mạng với chủ nghĩa cơ hội xét lại.
Chủ nghĩa Mác Lênin còn chỉ xác định những
quy luật khách quan, chân lý và cụ thể (như quy
luật QHSX phải phù hợp với trình độ của LLSX),
tính biện chứng của sự phát triển XH là "diễn ra
trong mâu thuẫn và thông qua mâu thuẫn", đây
là những căn cứ, cơ sở phương pháp luận hết
sức quan trọng đề ra đường lối chính trị đúng
đắn, khoa học phù hợp với quy luật khách quan.
Việc hoạch định đường lối chính trị phải
căn cứ trên nền tảng tinh hoa tri thức của nhân
loại và của dân tộc, song việc vận dụng đó
không phải máy móc rập khuôn mà phải phát
huy được tính chủ động, dựa trên những bài học
kinh nghiệm thực tiễn cách mạng bao gồm
những kinh nghiệm thực tiễn của phong trào
cách mạng, những kinh nghiệm hoạch định các
chính sách phát triển đất nước của các quốc gia
trên thế giới và khu vực, những bài học kinh
nghiệm thực tiễn ở nước ta.
Việc hoạch định đường lối, chính sách
đúng đắn của Đảng còn phải dựa vào những

đoàn kết nhất trí của đảng dựa trên nền tảng
của hệ tư tưởng khoa học. Đối với Đảng cộng
sản Việt Nam Đảng phải được tổ chức một cách
chặt chẽ, không ngừng đấu tranh, xây dựng rèn
luyện đảng viên của đảng có phẩm chất năng
lực đáp ứng được yêu cầu cách mạng
4. Vận dụng vào thực tế cách mạng Việt
Nam :
Một trong những nguyên nhân dẫn đến
sai lầm dẫn đến sự sụp đổ hệ thống XHCN ở
Đông Âu và Liên Xô cũ là do Đảng Cộng sản tại
các nước này đã có những sai lầm trong việc
đưa ra các đường lối chính trị không đúng với
quy luật khách quan. Đó là việc duy trì quá lâu
mô hình kinh tế quan liêu bao cấp cùng với
những sai lầm chính trị nghiêm trọng có tính
nguyên tắc trong thời kỳ cải tổ : mất phương
hướng chính trị, phiêu lưu, mạo hiểm trong
chính sách, bước đi và phương pháp cải tổ,
không có những biện pháp hữu hiệu để khắc
phục tình hình KT-XH ngày một xấu đi, khiến
mất dần lòng tin của quần chúng nhân dân dẫn
đến tan rã cả hệ thống.
Trong thực tiễn cách mạng ở nước ta 10
năm đầu sau khi thống nhất đất nước, cả nước
quá độ đi lên CNXH, chúng ta cũng đã có những
sai lầm trong việc đề ra các đường lối, chính
sách chính trị thời kỳ này. Việc đề ra quyết sách
chính trị thời kỳ này không bám sát những
nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa Mác

đường đầu tiên, những bước đi thích hợp đồng
thời chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tập
trung quan liêu, bao cấp đã lỗi thời Từ những
sai lầm về đường lối chỉ đạo này, dẫn đến nền
kinh tế chậm phát triển, xã hội rơi vào khủng
hoảng.
Tuy nhiên, Đảng đã sớm nhận thức
nguyên nhân của những sai lầm trên và khắc
phục nhanh những hậu quả ấy. Rút kinh nghiệm
từ những sai lầm về đường lối, Đảng ta đã đề
17
ra công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống KT-XH tại ĐH Đảng lần
VI, những cải cách, đổi mới được dựa trên
những tiền đề khách quan và chủ quan : “Đảng
phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và
hành động theo quy luật là điều kiện đảm
bảo sự dẫn đầu của Đảng. Năng lực nhận
thức theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng”. Từ đó đến nay,
trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng CS VN
đã đề ra được và từng bước bổ sung phát triển,
hoàn thiện dần đường lối đổi mới, hình thành
ngày càng rõ hơn con đường đi lên CNXH ở VN.
Tiếp theo những đổi mới bộ phận, đổi mới từng
bước, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, ĐH VII đã thông qua cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và các
ĐH sau đó của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển
đến nay đã hình thành một hệ thống các quan

thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN” là một chủ trương nhất quán của Đảng
ta trong suốt thời kỳ quá độ. Có thể nói đây là
những thay đổi cơ bản trong tư duy lý luận về
CNXH mà nó xuất phát từ việc vận dụng đúng
đắn và sáng tạo CN Mác Lêni và tư tưởng HCM
vào thực tiễn của công cuộc đổi mới xây dựng
đất nước. Những mục tiêu, giải pháp, bước đi
mà đường lối, cương lĩnh của Đảng đề ra vừa
phù hợp và tôn trọng nguyên tắc quan hệ SX
phải phù hợp với trình độ của lực lượng SX,
vừa kế thừa hợp lý những ưu điểm của cơ chế
kinh tế thị trường và các thành tựu của cách
mạng KHKT-CN, đồng thời nó cũng xuất phát từ
đặc điểm của thời kỳ quá độ tất yếu phải có sự
đan xen tồn tại giữa các thành phần kinh tế phi
XHCN và XHCN. Xuất phát từ tình hình hiện nay
và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ
mới, đường lối kinh tế nêu trên một lần nữa
khẳng định tư tưởng chiến lược là đẩy mạnh
công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng nền KT
độc lập tự chủ, đưa đất nước trở thành một
nước công nghiệp, đồng thời chỉ rõ những định
hướng : về phát triển lực lượng sản xuất và xây
dựng quan hệ sản xuất, về phát huy nội lực và
tranh thủ nguồn lực bên ngoài, về tăng trưởng
kinh tế và phát triển văn hóa, cải thiện đời sống
nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,
bảo vệ cải thiện môi trường, về phát triển kinh tế

dụng, phát triển sáng tạo vào tình hình thực tiễn
đất nước trong điều kiện bối cảnh mới. Đảng đã
tập trung lý giải những vấn đề về xây dựng chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội; tổng kết thực tiễn đổi mới để từng bước
phát triển lý luận và góp phần hoàn chỉnh, bổ
sung đường lối chính trị của Đảng trong điều
kiện mới; từng bước khắc phục sự chậm trễ, lạc
hậu của công tác lý luận. Sinh hoạt lý luận dân
chủ trong Đảng đã thu hút trí tuệ của toàn xã
hội, khuyến khích tranh luận, thảo luận để tìm
chân lý, lấy thực tiễn, hiệu quả xã hội làm tiêu
chuẩn đánh giá để xây dựng và phát triển lý
luận, tránh được chủ quan, duy ý chí, rập khuôn,
giáo điều. Đồng thời, chúng ta cũng đẩy mạnh
việc đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái,
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của cách
mạng, bảo vệ thành quả tư tưởng, lý luận của
Đảng và của cách mạng Việt Nam
Có thể thấy rằng trong các đường lối về
kinh tế, văn hóa, đối ngoại, Đảng luôn có ý thức
đổi mới sáng tạo, dám từ bỏ những cái cũ không
còn thích hợp, cả trên lĩnh vực kinh tế cũng như
trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, cả đối nội và đối
ngoại, giải quyết tốt mối quan hệ giữa giai cấp
và dân tộc, quốc gia và quốc tế, mở rộng khối
đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, tập trung
sức cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước. Nói cách khác, Đảng CSVN kiên trì nắm
vững nguyên tắc và phương pháp biện chức

phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ
hơn
Có thể khẳng định rằng thành công của
cuộc đổi mới ở VN thời gian qua là do Đảng CS
VN với bản lĩnh chính trị vững vàng, đã vận
dụng sáng tạo CN Mác Lênin, tư tưởng HCM và
những thành tựu, kinh nghiệm lịch sử đã được
tích lũy và từ tình hình thực tế của đất nước để
xây dựng đường lối, chủ trương chính sách đổi
mới đúng đắn. Đảng ta đang đưa đất nước ta,
dân tộc ta ngày càng đến gần mục tiêu dân giàu
nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn
minh. uôn quan tâm và chú trọng xây dựng
Đảng về chính trị, tư tưởng, tạo nên sự nhất trí
cao trong Đảng và sự đồng thuận của nhân dân.
Kết quả của đường lối chính trị đúng đắn đó là ở
chổ Đảng CS VN đã xác định rõ hơn con đường
đi lên CNXH ở VN, vừa phù hợp với thực tế của
đất nước, vừa phù hợp với nguyên lý cơ bản
của CN Mác Lênin và tư tưởng HCM.
Ngày nay, để tiếp tục đề ra những đường
lối quyết sách chính trị đúng đắn, bản thân Đảng
phải tự đổi mới tư duy, Đảng phải đấu tranh để
khắc phục bệnh giáo điều, rập khuôn, bảo thủ,
chủ quan, duy ý chí, mặc khác phải bồi dưỡng
tư duy biện chứng, tư duy độc lập, tự chủ , sáng
tạo, kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực
tiễn, xuất phát từ thực tiễn để vận dụng sáng tạo

I. Khái niệm về nhà nước pháp quyền - xã
hội công dân
1. Nhà nước pháp quyền:
Nhà nước pháp quyền là một nhà
nước dựa trên cơ sở của pháp luật, vai trò và
nhiệm vụ của Nhà nước chỉ được thực hiện
thông qua pháp luật và cũng bị hạn chế bởi
chính pháp luật. Vì vậy, nhà nước pháp
quyền hoàn toàn khác với các hình thức nhà
nước trước đó (trong chế độ chiếm hữu nô lệ
thì chỉ có một số người mới được xem là
công dân, trong chế độ phong kiến thì pháp
luật chỉ áp dụng cho tầng lớp dưới vua, còn
“vua” thì không bị chi phối bởi pháp luật,
đứng trên pháp luật).
Nhà nước pháp quyền luôn luôn
tuân thủ, bảo vệ quyền công dân và quyền
con người; giữa công dân và nhà nước, các
đơn vị kinh tế và các tổ chức xã hội luôn luôn
có mối quan hệ thông qua pháp luật, trách
nhiệm pháp lý. Có nghĩa là nhà nước và công
dân luôn luôn bình đẳng với nhau. Nhà nước
pháp quyền là tổ chức chính trị của xã hội
thông qua pháp luật để tạo các điều kiện là
nhà nước dân chủ, nói cách khác, là nhà
nước phải tạo ra thể chế, những yêu cầu để
thực hiện dân chủ.
2. Xã hội công dân:
Bất kỳ hình thức nhà nước nào cũng
có xã hội tương ứng với nó. Nhà nước pháp

chức chính trị xã hội mà biểu thị ý chí của
nhân dân buộc nhà nước phải tuân theo. Giới
hạn của quyền lực nhà nước đối với xã hội
công dân chịu sự quy định của “khế ước xã
hội". Như vậy, nhà nước pháp quyền là nhà
nước được tổ chức và hoạt động một cách
hợp pháp với ý chí và nguyện vọng của nhân
dân. Còn xã hội công dân là một xã hội mà
con người tự do phát triển cá nhân trong sự
đảm bảo của nhà nước theo ý chí của nhân
dân.
II. Nhà nước pháp quyền - xã hội công dân
ở CNXH VN
Ở chế độ tư bản, nhà nước tư sản luôn
tuyên truyền về “nhà nước nhân dân tự do”,
“nhà nước phúc lợi chung”… nhằm che giấu
bản chất giai cấp của nhà nước tư sản; đồng
thời, tìm mọi cách chứng minh nhà nước tư
sản là “công cụ phục vụ xã hội”, “đứng trên
các giai cấp” để điều hoà mâu thuẫn xã hội.
Chúng ta cũng phải thừa nhận rằng nền dân
chủ tư sản có những bước tiến bộ, nhất là
trong việc tổ chức bộ máy và phân chia
quyền lực ra thành 3 nhánh quyền lực riêng
biệt (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tạo nên
sự chuyên môn hóa cao, giúp giải quyết vấn
đề nhanh chóng và hiệu quả; nhưng về bản
chất nền dân chủ đó không phải là dân chủ
cho đông đảo nhân dân, mà quyền làm chủ
thực sự ở các nước tư bản nằm trong tay giai

nhất nhưng có sự phân định rõ 3 chức năng
lập pháp, hành pháp và tư pháp); đồng thời
phải đảm bảo trong nhà nước pháp quyền
XHCN quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó
con người phải đặt ở vị trí trung tâm, là mục
tiêu và là giá trị cao nhất. Xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN phải căn cứ vào những
vấn đề của quốc gia, dân tộc về: kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, lịch sử, truyền
thống, lý tưởng … và do vậy không có một
mô hình chung nào về nhà nước pháp quyền
cho tất cả mọi đất nước.
2. Một số đặc trưng của nhà nước
pháp quyền XHCN VN :
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
là nhà nước mà quyền lực của nó là thống
nhất thuộc về nhân dân lao động được tổ
chức và hoạt động quản lý xã hội theo pháp
luật như ý chí của nhân dân lao động được
luật hóa có cơ chế kiểm tra quyền lực nhằm
tôn trọng và đảm bảo các quyền công dân và
quyền con người do đảng của giai cấp công
nhân lãnh đạo. Các nội dung này nằm trong
thể thống nhất hữu cơ, làm tiền đề cho nhau
và phụ thuộc lẫn nhau. Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam có 3 đặc trưng cơ bản, đó
là :
- Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà
nước của dân, do dân và vì dân, nền tảng là
liên minh giai cấp công nhân, nông dân và trí

vụ quyền lợi cho ai? điều đó quyết định toàn
bộ nội dung của hiến pháp Nhà nước của ta
là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền
tảng liên minh công nông, do giai cấp công
nhân lãnh đạo”. Bản chất giai cấp công nhân
của nhà nước ta thể hiện ở chỗ nhà nước do
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, thực
hiện theo định hướng đưa đất nước quá độ đi
lên CNXH, và còn thể hiện ở nguyên tắc tổ
chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên
tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh đã khẳng
19
định “nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao
độ có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới
động viên được tất cả lực lượng của nhân
dân, đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải
tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo
nhân dân xây dựng CNXH”. Tuy vậy, bản chất
giai cấp công nhân không làm triệt tiêu tính
nhân dân, tính dân tộc của nhà nước, mà
thực sự chúng thống nhất, hài hòa với nhau
trong nhà nước đại đoàn kết dân tộc.
Để Nhà nước thật sự là công cụ chủ
yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một quan
điểm chung cần phải nhất quán trong việc tổ
chức hoạt động bộ máy nhà nước là quyền
lực trong nhà nước không phải là quyền lực
của cá nhân hay của bộ máy mà phải thật sự
là của toàn thể nhân dân. Cơ quan nhà nước

Nguyên tắc này nhằm kết hợp hài hòa sự chỉ
đạo tập trung thống nhất của cấp trên đối với
việc mở rộng dân chủ rộng rãi, để phát huy
tinh thần chủ đạo sáng tạo của cấp dưới, nhờ
vậy tăng cường được tính hiệu quả trong việc
thực hiện vai trò nhiệm vụ của nhà nước
pháp quyền XHCN.
Một đặc trưng, một nguyên tắc của
nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước và
công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của
pháp luật : nhà nước phải quản lý và điều
hành xã hội bằng pháp luật, pháp luật phải là
công cụ điều tiết chủ yếu mối quan hệ giữa
con người với con người, mọi tổ chức và
công dân đều tuân thủ pháp luật, hoạt động
phù hợp với hiến pháp và pháp luật. Song
pháp luật ở nước ta chính là thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị, là thể chế hóa đường
lối chủ trương của đảng cầm quyền và vì vậy
nó là phản ánh ý nguyện vọng, ý chí của
nhân dân lao động. Về mặt nội dung, pháp
luật trong nhà nước pháp quyền phải đáp
ứng yêu cầu khách quan của đời sống XH,
thúc đẩy đời sống XH phát triển, đảm bảo
quyền bất khả xâm phạm về tự do cá nhân,
danh dự, nhân phẩm của con người và đồng
thời cũng phải bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp
pháp của đông đảo quần chúng nhân dân lao
động. Tính chất nhà nước “do dân và vì dân”
phải thể hiện rõ trong nội dung pháp luật phải

Từ khi ra đời, Nhà nước ta đã góp
phần to lớn lãnh đạo toàn dân tộc trong đấu
tranh giải phóng dân tộc, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến hành
sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nhà nước ta luôn đảm bảo quản
lý và điều hành xã hội bằng pháp luật (về cơ
bản), và ngày nay, đang từng bước sửa đổi,
bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật chung
cho cả nước. Nhà nước ta đã hình thành
được cơ chế và thể chế hoá quyền dân chủ
của nhân dân trên nhiều lĩnh vực: chính trị ,
kinh tế, văn hoá, tư tưởng… và nhờ đó nền
dân chủ XHCN liên tục được củng cố và pháp
huy. Trong tổ chức và hoạt động của nhà
nước, nhà nước ta luôn có sự đổi mới tổ
chức và hoạt động (như xác định chức năng,
nhiệm vụ quyền hạn của bộ máy cơ quan nhà
nước, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực,
phẩm chất) để đáp ứng những yêu cầu được
đặt ra trong từng thời kỳ lịch sử, nhất là đáp
ứng được cơ bản vai trò, chức năng của nhà
nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Đồng
thời, nhà nước ta cũng dần dần hoàn thiện cơ
chế thu hút sự tham gia của nhân dân ngày
càng nhiều vào việc xây dựng chính quyền
nhà nước các cấp
Bên cạnh đó, nhà nước ta cũng còn
nhiều hạn chế như : bộ máy nhà nước ta
chưa thật sự thể hiện và phát huy đầy đủ bản

- Cần phải có nhà nước pháp quyền đủ
mạnh đúng nghĩa để phát huy được nền dân
chủ XHCN. Vì nếu thiếu nền dân chủ nó sẽ
tạo ra lực cản lớn cho sự phát triển của đất
nước.
- Cần phải có nhà nước pháp quyền đủ
mạnh với tư cách là công cụ chuyên chính để
đủ sức đương đầu và chiến thắng diễn biến
hoà bình của CNĐQ và các thế lực thù địch
ráo riết phá hoại thành quả của CNXH và của
nước ta. Có nghĩa là chúng ta luôn cảnh giác
âm mưa diễn biến hoà bình của CNĐQ, là
cuộc chiến tranh không có tiếng súng, CNTB
luôn lợi dụng về kinh tế,văn hoá, chính trị,
tình hình dân tộc, tôn giáo để gây rối, phân
hoá nhằm xoá bỏ CNXH.
3. Phương hướng xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN của nước ta:
Quan điểm của Đảng ta là: trước hết
tiến hành cải cách và hoàn thiện các cơ quan
nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), cải
cách một bước nền hành chính quốc gia; tiếp
tục bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
để đáp ứng đòi hởi quản lí trong tình hình
mới. Đồng thời, tiến hành thể chế hoa nền
dân chủ của nhân dân thành pháp luật, thành
cơ chế chính sách và chỉ có như vậy mới
thực hiện dân chủ được tốt nhất… Để làm rõ
các quan điểm trên, trước mắt cần tập trung
giải quyết một số lĩnh vực, đó là:

dụng chức quyền và những sơ hở của pháp
luật để tham nhũng, lãng phí, sống xa dân, ức
hiếp dân, gây phiền hà cho dân.
- Đổi mới nâng cao chất lượng công
tác lập pháp và giám sát tối cao của quốc
hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà
nước. Về lập pháp, ban hành các đạo luật
cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời
sống xã hội, ưu tiên xây dựng các luật về kinh
tế, các quyền công dân và các luật điều chỉnh
trong công cuộc cải cách bộ máy nhà nước,
các luật điều chỉnh các hoạt động văn hoá
thông tin. Coi trọng việc tổng kết thực tiễn,
xây dựng các văn bản pháp luật và ban hành
các văn bản cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện…
Về hoạt động giám sát: nâng cao chất lượng,
hiệu lực và hiệu quả giám sát của quốc hội và
HĐND. Xác định rõ phạm vi, nội dung, cơ chế
giám sát của quốc hội, các ủy ban quốc hội
và HĐND với hoạt động thanh tra, kiểm tra,
giám sát. Song song với việc bảo đảm các
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cần
nghiên cứu, hướng dẫn mọi công dân có điểu
kiện phát hiện, đề xuất, kiến nghị giúp cho
hoạt động giám sát có hiệu quả. Nâng cao
chất lượng hoạt động giám sát của cơ quan
hành pháp, tư pháp. Đồng thời giám sát các
cơ quan nhà nước trong việc thu chi ngân
sách và các khoản viện trợ, vay vốn, quỹ từ
thiện… Chú trọng giám sát thu chi tài chính ở

động, hình thành các toà án chuyên nghành
và nâng cao năng lực xét xử. Phân định rõ
chúc năng công tố và kiểm sát của VKSND,
nâng cao chất lượng công tố (điều tra, luận
tội) tránh những chồng chéo giữa thanh tra
nhà nước và Viện kiểm sát. Đồng thời với
việc khắc phục tình trạnh tồn đọng án quá
nhiều, quá lâu hoặc dây dưa kéo dài thời gian
thi hành án.
- Kiên quyết đấu tranh thường xuyên
và có hiệu quả tệ nạn tham nhũng trong
bộ máy nhà nước các cấp nhằm xây dựng
một nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Đấu tranh chống tham nhũng phải đấu tranh
chống buôn lậu, lãnh phí, quan liêu; tập trung
vào các hành vi lợi dụng chức quyền tham ô
làm thất thoát tài sản nhà nước, nhận hối lộ…
đồng thời, kết hợp những biện pháp cấp bách
với những giải pháp có tầm chiến lược nhằm
vừa hoàn thiện cơ chế, chính sách, kiện toàn
tổ chức, chấn chỉnh công tác quản lý, khắc
phục sơ hở và xử lí kịp thời mọi hành vi vi
phạm, tội phạm.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức “xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý
ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương
mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí
tuệ, kiến thức, năng lực hoạt động thực tiễn,
gắn bó với nhân dân”. Cải cách và hoàn thiện

động của nhà nước là phải bảo đảm và tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng. Nếu chúng ta
quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt nhưng yêu
cầu và phương hướng nêu trên, thì nhà nước
pháp quyền XHCNVN sẽ được thiết định
vững chắc và xã hội công dân ngày càng
phát triển về mọi mặt. Đồng thời, chúng ta có
đủ điều kiện để xây dựng thành công CNXH
theo cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta
Vấn đề 9 : Vận dụng lý luận về các tổ chức
chính trị xã hội ngoài nhà nước để phân tích
và chứng minh: “để tiếp tục đưa sự nghiệp
đổi mới tiến lên giành thành tựu to lớn hơn
cần thực hiện tốt việc mở rộng, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân ở trong nước và
nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối
đa sức mạnh của toàn thể dân tộc vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh”.
Bài làm
Chính trị như Lênin nói là công việc có liên
quan đến hàng chục triệu con người. Mọi đường
lối, chủ trương của Đảng đều là sự phản ánh
nguyện vọng và lợi ích của quần chúng và phải
được thâm nhập vào quần chúng. Tuy nhiên sức
mạnh của quần chúng khi và chỉ khi được thông
qua tổ chức, được tập họp tổ chức lại thì mới trở
thành sức mạnh to lớn. Với ý nghĩa đó, thì việc
nghiên cứu cũng như việc củng cố các tổ chức

trị - xã hội :
21
Các tổ chức chính trị - xã hội ngoài nhà
nước không chỉ tồn tại ở các nước XHCN mà nó
còn rất phổ biến ở các nước TBCN.
Trong chủ nghĩa tư bản, có nhiều tổ chức
chính trị - xã hội khác nhau như : các công
đoàn, các hiệp hội, các câu lạc bộ lợi ích, các tổ
chức và liên minh tôn giáo, các nhóm lợi ích
theo nghề nghiệp. Một số trong đó là chổ dựa
của nhà nước, một số khác đấu tranh chống đối
nhà nước. Các tổ chức nay đều tác động đến
nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề thuộc
về lợi ích của nhóm họ và trong những điều kiện
nhất định, cũng có thể trực tiếp tham gia vào các
cuộc đấu tranh giành quyền lực chính trị. Song
tất cả các việc làm trên đều trong khuôn khổ của
CNTB và được pháp luật Nhà nước tư bản cho
phép.
Trong chủ nghĩa xã hội, các tổ chức chính trị
- xã hội ngoài nhà nước chủ yếu của nước ta
hiện nay là: Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Công
đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản, Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam; Hội cựu chiến binh Việt Nam;
hội nông dân Việt Nam. Các tổ chức trên đều là
thành viên của hệ thống chính trị của nước ta,
bản chất của hệ thống chính trị của nước ta là
hệ thống chuyên chính vô sản, đều chịu sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản và là chổ dựa vững
chắc của Nhà nước pháp quyền XHCN.

cương, phép nước, nâng cao trách nhiệm của
công dân, thắc chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân, góp phần thúc đẩy công
cuộc kiến tạo đất nước. Đó là những tổ chức mà
thông qua đó Đảng và Nhà nước phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đồng thời
tăng cường đại đoàn kết toàn dân, củng cố sự
nhất trị về mặt chính trị và tinh thần của chế độ
ta, cũng là tổ chức để quần chúng thực hiện
quyền lực, quyền tự do dân chủ của chính mình.
Nói đến vai trò động lực của khối đại đoàn kết
toàn dân, Đảng ta khẳng định Mặt trận tổ quốc
Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất
nước
Hiện nay, nước ta chủ trương xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, nghĩa là xây dựng một
nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng
trong thực tế nhà nước cũng không thể can
thiệp vào tất cả các quan hệ xã hội. Vì vậy, cùng
với việc xây dựng nhà nước pháp quyền thì nhà
nước cần khuyến khích, tôn trọng các quyền tự
do của hội, các đoàn thể nhân dân, thông qua
các tổ chức này lội cuốn đông đảo các tầng lớp
nhân tự ngguyện tham gia vào hoạt động chính
trị-xã hội, giúp đỡ nhau giải quyết các vấn đề mà
nhà nước bao quát hết. Xu hướng phát triển của
các tổ chức quần chúng phi nhà nước là một xu
hướng dân chủ và tiến bộ

Trong lịch sử Đảng ta, từ khi có Đảng đến
nay không lúc nào vắng tổ chức Mặt trận. Lịch
sử cách mạng nước ta cũng cho thấy khi nào
Đảng có chính sách Mặt trận đúng đắn, coi trọng
vai trò của Mặt trận, tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với Mặt trận, tập họp được ngày
càng đông đảo các tầng lớp nhân dân, thật lòng
đoàn kết thì sẽ động viên được sức mạnh to lớn
của toàn dân tộc, tranh thủ được sự đồng tình,
ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. Ngày
nay, ở nước ta, do điều kiện lịch sử cụ thể, chỉ
có Đảng Cộng sản tồn tại, gánh vác sứ mệnh
lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc,
vai trò của Mặt trận càng trở nên quan trọng
trong việc tập họp quần chúng rộng rãi, do
Đảng lãnh đạo; đây sẽ là một đảm bảo quan
trọng để phát huy dân chủ, tránh khỏi bệnh quan
liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, góp phần
củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Bằng việc
tập họp ý kiến đa dạng, nhiều chiều của các
tầng lớp nhân dân, Mặt trận là nơi Đảng, Nhà
nước bàn với dân về những vấn đề quốc tế dân
sinh, Đảng và Nhà nước lắng nghe ý kiến trực
tiếp của dân để xây dựng hoàn thiện chủ
trương, chính sách của mình. Mặt trận thông
qua việc tham gia xây dựng, giám sát việc thực
hiện đường lối, chủ trương chính sách pháp luật
liên quan đến lợi ích của các tầng lớp nhân dân
làm cho những đường lối chính sách đó phản
ánh và phù hợp với thực tế cuộc sống của nhân

cùng với cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội chăm lo về quyền lợi của cán bộ,
công chức, viên chức và những người lao động
khác, tham gia quản lý nhà nước và xã hội,
tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các
cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế, giáo dục
cán bộ, công nhân viên chức và những người
lao động khác pháp huy vai trò làm chủ đất
nước, thực hiện nghĩa vụ của công dân, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời, công đoàn
cùng với nhà nước còn có trách nhiệm phát triển
sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần của người lao động.
- Đoàn thanh niên cộng sản HCM : Trong
quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, đoàn
thanh niên cộng sản HCM luôn là lực lượng
xung kích và đóng góp to lớn trong việc giành
độc lập dân tộc thống nhất đất nước. Đoàn
thanh niên luôn là lực lượng tin cậy, là đội quân
hậu bị, là cánh tay đắc lực của Đảng; và ngày
nay, đoàn TN luôn thể hiện tính tiên phong của
mình trong việc tổ chức, tập hợp đoàn viên
thanh niên đảm nhận vai trò xung kích của lực
lượng trẻ trong quá trình xây dựng CNXH, góp
phần thực hiện đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH
đất nước theo chủ trương và đường lối của
Đảng và nhà nước.
- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam: Là thành
viên của hệ thống chính trị, trong nhiều thập kỷ
qua, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam luôn có đóng

của đất nước. Thành tựu đạt được là không nhỏ
tuy nhiên, hiện đang có nhiều vấn đề cần phải
giải quyết : khối đại đoàn kết toàn dân vẫn chưa
thật bền chặt và đang đứng trước những thử
thách mới; lòng tin vào Đảng, nhà nước, chế độ
của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc có
phần vì đời sống còn nhiều khó khăn vì bất bình
trước những bất công xã hội, trước tình trạng
tham nhũng quan liêu, lãnhg phí còn khá phổ
biến và nghiêm trọng, kỷ cương, pháp luật nhiều
lúc nhiều nơi bị buông lỏng đạo đức XH có mặt
bị xuống cấp, trật tự an toàn XH còn phức tạp.
Các vụ khiếu kiện đông người vẫn còn nhiều, hệ
thống chính trị ở cơ sơ còn yếu kém về nhiều
mặt. Công tác mặt trận tuy đạt nhiều thành tích
đáng kể nhưng vẫn còn không ít thiếu sót : chưa
thật sự phát huy tính chủ động, tích cực của
quần chúng, chưa coi trọng công tác tuyên
truyền ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
vùng tôn giáo dân tộc, chưa phản ánh đầy đủ và
tổng kế thực tiễn từ cơ sở, chưa đề xuất được
những giải pháp mang tính chiến lược lâu dài,
thiếu sự phối hợp thường xuyê, chặt chẽ giữa
các tổ chức thành viên với Mặt trận tổ quốc các
cấp.
Trên thực tế mối quan tâm của XH và
việc triển khai thực hiện Hiến pháp và Luật Mặt
trân chưa đến nơi, đến chốn. Nhiều nơi, nhiều
ngành, nhiều cấp còn chưa nhận thức đúng vị
trí, vai trò của Mặt trận. Một số cơ quan nhà

phản ánh với Đảng và Nhà nước thực hiện vai
trò cầu nối của Mặt trận nhằm tăng cường quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Việc
tập họp đoàn kết toàn dân phải gắn liền với việc
chăm lo quyền lợi chính đáng và hợp pháp của
các tầng lớp nhân dân. . .
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trên,
trong giai đoạn hiện nay, Mặt trận tổ quốc Việt
Nam cần quán triệt và thực hiện các chủ trương
lớn sau:
+ Cần phải có các chủ trương, chính sách pháp
luật đúng đắn trên tất cả mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội nhằm đáp ứng nguyện vọng và lợi
ích chính đáng của các giai tầng trong xã hội.
+ Đoàn kết phải trên cơ sở lợi ích
nhằm tạo ra những động lực thúc đẩy phong
trào hành động cách mạng nhân dân trong xây
dựng cuộc sống mới. Hiện nay cơ cấu giai cấp,
cơ cấu xã hội nước ta biến đổi rất đa dạng và
phong phú. Bên cạnh lợi ích và nhu cầu chung
thì các giai cấp, các tầng lớp xã hội của nước ta
đều có tiếng nói, những nhu cầu, lợi ích riêng.
Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội phải đề ra hệ
chính sách phản ánh lợi ích và tiếng nói đa dạng
của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau.
Có như vậy thì chính sách đại đoàn kết mới đi
vào chiều sâu và tạo ra động lực phát triển kinh
tế -XH
+ Việc thực hiện chính sách đại đoàn
kết dân tộc phải thể hiện ngay trong tổ chúc và

lạo động, bồi dưỡng và động viên họ nâng cao ý
chí tự lập, tự cường, năng động sáng tạo, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần làm
cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh.
NQ ĐH lần VIII công đoàn VN đã chỉ ra,
tổ chức công đoàn phải thực hiện nhiệm vụ
chính trị trong giai đoạn đổi mới đất nước ta
hiện nay như sau : Một là nhanh chóng tập họp,
đoàn kết tuyệt đại bộ phận công nhân, người lao
động công nghiệp, dịch vụ công nghiệp trong tất
cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là trong tất
cả các cơ sở ngoài quốc doanh bởi lẽ ở khu vực
này , người lao động đang rất cần được tổ chức
lại và được bảo vệ quyền lợi; Hai là đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của công đoàn
theo hướng đa dạng hóa loại hình kinh tế nhiều
thành phần phù hợp với điều kiện sống, lao
động và nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của công
nhân lao động trong các thành phần KT khác
nhau; Ba là xây dựng đội ngũ cán bộ có nhiệt
tình công tác công đoàn, am hiểu chuyên môn
và hoạt động kinh doanh, nắm vững pháp luật,
chính sách có liên quan đến người lao động
Tóm lại, để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
mới đòi hỏi tổ chức công đoàn và CNVC-LĐ
phải vươn lên mạnh mẽ, năng động sáng tạo
vượt qua khó khăn thử thách, thực hiện thắng
lợi NQ ĐH VIII công đoàn Việt Nam với khẩu
hiệu: “vì sự ngiệp công nghiệp hoá, HĐH đất

hợp thanh niên, cải tiến phương thức sinh hoạt,
loại hình sinh hoạt, ba là hoạt động đoàn cần
gắn với chương trình KT-xã hội. Gắn hoạt động
đoàn trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp,
giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng… nhằm thực hiện tốt các chính sách phát
triển nông nghiệp nông thôn, chương trình công
nghiệp hoá, HĐH đất nước, xoá đói giảm nghèo,
đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nông thôn mới;
khuyến khích tài năng trên co sở tự do sáng tạo,
phát minh, cống hiến. Đồng thời cùng với Đảng
và nhà nước, Công đoàn phải có biện pháp và
hình thức thích hợp trong việc tôn vinh, đãi ngộ
xứng đáng các tài năng, phát huy trí tuệ trong
23
nghiên cứu KH, xây dựng luật pháp và quản lý
xã hội, lồng ghép nhiều mục tiêu và hiệu quả
trong hoạt động đoàn, đối với thanh niên: Đoàn
phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát
triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
lối sống, văn hoá, nghề nghiệp, tạo việc làm
phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai
trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
d. Hội liên hiệp phụ nữ: Để thực hiện
đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của mình, Đại Hội Phụ Nữ Việt Nam lần
thứ VI (19871) đã xác địng rõ chức năng của
Hội LHPN trong giai đoạn mới là tổ chức đại
diện, bảo vệ quyền bình đẳng, dân chủ và lợi ích

thác nguồn lực nhằm thực hiện xoá đói giảm
nghèo, tạo việc làm, cải thiện điều kiện làm việc
cho phụ nữ.
+ Tổ chức hướng dẫn phụ nữ đẩy mạnh phong
trào xây dựng gia đình văn hoá mới, bảo vệ và
chăm sóc bà mẹ-trẻ em; phòng chống tệ nạn
XH, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan từ mỗi GĐ và
cộng đồng.
+ Nâng cao nhận thức xã hội cho phụ nữ
về vấn đề giói trong phát triển; nâng cao chất
lượng tham gia xây dựng pháp luật, chính sách
để quan điểm về giới được thể hiện rõ nét trong
các chính sách của nhà nước; tạo điều kiện cho
cán bộ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ
quan lãnh đạo và quản lí các cấp, các ngành để
tương xứng với lực lượng lao động xã hội và
khả năng đóng góp của phụ nữ.
+ Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế trên cơ sở đường lối, chính
sách đối ngoại của Đảng và nhà nước, vì sự
bình đ83ng và phát trir63n của phụ nữ Việt
Nam. Đồng thời tăng cường hiệu quả và vị thế
của hội trong các hoạt động qyý«chính sách tế ở
khu vực và trên toàn thế giới.
+ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Hội và chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ
máy Hội Phụ nữ các cấp. Đổi mới mạnh mẽ
hơn nữa phương thức hoạt động của Hội, làm
cho Hội thực sự luôn luôn là chỗ dựa đáng tin
cậy của Phụ nữ Việt Nam.

CÂU 10: đồng chí hãy vận dụng lý luận về
quyết sách chính trị và thực tiễn CM Việt Nam
để phân tích và chứng minh luận điểm sau:
"Đảng… không được phạm sai lầm chính trị"
Bài làm
Việc xây dựng quyết sách chính trị và tổ
chức thực hiện quyết sách chính trị được qui định
một cách khách quan gắn bó hữu cơ với chức năng
lãnh đạo của Đảng. Thực tế lịch sử nhân loại đã
cho thấy nơi nào, Đảng nào đề ra được quyết sách
chính trị và tổ chức thực hiện quyết sách đúng,
nhận thức đầy đủ vai trò của quyết sách chính trị
thì đó sẽ là bước quyết định cho thắng lợi của cách
mạng. Thực tiễn cách mạng VN bảy mươi năm
qua đã chứng minh trước những nguy cơ, những
biến cố của lịch sử, Đảng ta luôn có những quyết
sách chính trị đúng đắn, sáng suốt kịp thời đã giành
độc lập tự do cho dân tộc, hoàn thành cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đang vượt qua
mọi khó khăn thử thách để giành thắng lợi trong
cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Đạt được những
thành quả cách mạng trên là do Đảng ta là do có
quyết sách chính trị đúng đắn trên cơ sở quán triệt
tư tưởng của Lênin : "Đảng… không được phạm
sai lầm chính trị". Vậy quyết sách chính trị là gì và
vai trò của nó như thế nào đối với Đảng cầm
quyền, chúng ta hãy phân tích làm rõ những vấn đề
trên.
1. Khái niệm quyết sách chính trị và vai trò của
quyết sách chính trị

biến… thì so với đường lối mọi nghị quyết mang
tính hạn hẹp hơn. Đồng thời phạm vi của mọi nghị
quyết càng hạn hẹp bao nhiêu thì mọi nội dung cùa
nghị quyết càng mang tính cụ thể bấy nhiêu
2. Tầm quan trọng của quyết sách chính
trị
Vai trò của từng quyết sách không giống
nhau, song tất cả đều là sự định hướng cơ bản,
xác định đối tượng chủ yếu, định tính và định
hướng chung, nội dung và hình thức chính yếu,
biện pháp đặc trưng cho từng cuộc vận động chính
trị. Quyết sách của Đảng cầm quyền trở thành
đường lối hoạt động của nhà nước, quy định chiều
hướng vận động cơ bản của xã hội, nhất là chế độ
độc đảng như nước ta hiện nay. Chính vì vậy quyết
sách chính trị có vai trò quan trọng đặc biệt đối với
một Đảng. Nó bảo đảm tính tự giác, tính định
hường đúng đắn và tính hiệu quả của hoạt động
chính trị nhằm biến đổi xã hội một cách thực tế
theo hướng tiến bộ. Tầm quan trọng của quyết
sách chính trị được qui định bởi chính nội dung của
nó. Nội dung của quyết sách chính trị được thể hiện
ở 3 nội dung cơ bản sau đây:
- Quyết sách chính trị trước hết đó là đề ra
mục tiêu của cách mạng bằng cương lĩnh
đường lối. Trên thực tế đối với một Đảng để hoàn
thành sứ mệnh lịch sử của mình thì phải giải quyết
nhiều nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu là đề ra mục tiêu cho cách mạng, tức là phải
đề ra được cương lĩnh đường lối đúng (điều này có

bộ quá trình phát triển cách mạng Việt Nam từ đó
và về sau này
- Nội dung của quyết sách chính trị còn xác
định kẻ thù, xác định bạn đồng minh để từ đó bố trí
lực lượng CM. Nội dung này đã được Đảng ta vận
dụng trong quá trình CM Việt Nam mà tiêu biểu là
trong giai đoạn giành chính quyền (1945). Thực
tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh là cách
mạng tháng 8/1945 với khẩu hiệu “Nhật Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”, Hội nghị toàn
quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến 15/08/1945
khẳng định Đảng lãnh đạo toàn dân nổi dậy giành
chính quyền trong cả nước trước khi quân đồng
minh kéo vào Đông dương, và khi được tin Nhật
đầu hàng thì Đảng ta ra quân lệnh tổng khởi nghĩa
ngay đêm 13/08/1945 và sau hơn 2 tuần lễ cuộc
tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, ngày 2/9/1945
chính thức khai sinh ra nước VNDCCH, kết thúc
chế độ phong kiến hàng nhìn năm, sự thống trị gần
80 năm của thực dân, mở đầu kỉ nguyên mới, kỉ
nguyên độc lập đi lên CNXH ở nước ta. Một dẫn
chứng khác nữa về tương quan lực lượng cách
mạng là sau cách mạng tháng 8/1945, quân tưởng
với danh nghĩa giải giáp quân nhật kéo ồ ạt vào
nước ta. Âm mưu đen tối của chúng là “diệt cộng,
cầm Hồ”. Chúng tiến hành đánh phá, cướp bóc
nhiều nơi ở nước ta. Bác Hồ của chúng ta lặng lẽ
chia sẻ những đau thương do quân Tưởng và bọn
bán nước gây ra. Song, Bác kết luận, phải nhận
thức đúng về ta (biết mìmh); về địch (biết người)

khuyết điểm, những khó khăn về KT và đời sống
nhân dân. Đảng đề ra đường lối đổi mới đúng đắn,
đề ra con đường biện pháp và bước đi thích hợp,
phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của
lịch sử và thực trạnh tình hình KT của nước ta, nhờ
đó nền KT dần dần ổn định và phát triển.
Quyết sách chính trị đúng thì chính là
xu hướng chính trị tiến bộ, tạo điều kiện cho kinh tế
phát triển nhanh và ngược lại. Trong điều kiện
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, để xây dựng xã
hội mới, xã hội XHCN. Những quyết sách sai lầm
tất nhiên sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền,
nẩy sinh những hậu quả nghiêm trọng. Quyết sách
đúng hay không đúng có liên quan đến sự tồn
vong, hưng suy của một đơn vị, thậm chí một sự
nghiệp. Quyết sách chính trị của Đảng từ TW đến
cơ sở đều trở thành quyết định của các đoàn thể
nhân dân, trở thành cơ sở của các chính sách và
pháp luật cùa nhà nước, tác động trực tiếp đến đời
sống của nhân dân và của toàn dân tộc. Vì vậy, mỗi
sai lầm nhỏ của quyết sách chính trị đều có ảnh
hưởng tiêu cực đến cuộc sống của nhân dân và
của toàn dân tộc. Xuất phát từ các cơ sở trên,
Lênin đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của quyết
sách chính trị: “Đảng không được phạm sai lầm về
chính trị”. Vì vậy, để tìm ra quyết sách hợp lý đòi
hỏi người lãnh đạo chính trị có một sự nhìn nhận
toàn diện : từ toàn cục đến cục bộ, từ trước mắt
đến lâu dài, từ giá trị kinh tế đến hiệu quả xã hội,
tìm ra vấn đề then chốt trong mối quan hệ phức tạp

Để xây dựng được quyết sách chính trị
đúng, các Đảng chính trị cách mạng phải tuân thủ
cơ sở phương pháp luận như sau:
Một là, phải dựa trên cơ sở phép biện
chứng duy vật. Vì chỉ có như vậy thì mới giúp
chúng ta nhận thức được nguyên nhân sâu xa của
các hiện tượng và quá trình xã hội một cách đầy đủ
và đúng đắn, từ đó mới tạo điều kiện cho các Đảng
đưa ra được cương lĩnh và đường lối chính trị phù
hợp. Mặt khác, phép biện chứng duy vật còn giúp
ta nhận định rõ ranh giới giữa tính nguyên tắc với
chủ nghĩa giáo điều, bệnh rập khuôn máy móc,
giữa tính linh hoạt cách mạng với chủ nghĩa cơ hội
xét lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng phép
biện chứng duy vật phân tích tình hình Việt Nam
sau khi mới giành được chính quyền để ký hiệp
định sơ bộ (6/3/1946) nhằm tranh thủ thời gian hoà
hoãn củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng
cách mạng. Phép biện chứng duy vật con giúp
chúng ta xác định đúng đắn mối quan hệ giữa mục
tiêu và phương tiện. Đối với mục tiêu mà quyết
sách chính trị đề ra phải kiên trì, nhưng với phương
tiện thì phải hết sức linh hoạt. Mục tiêu phát triển
KT hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường định hướng XHCN đã được Đảng ta
vận dụng trong đổi mới là hoàn toàn phù hợp.
Hai là, để xây dựng được quyết sách
chính trị đúng đắn các Đảng CM phải nắm vững
mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và
chủ quan.Vi sự phát triển của XH nói chung cũng

pháp luận này chỉ cho chúng ta những mâu thuẫn
bên trong của sự vật, hơn thế nó còn chỉ cho chúng
ta đâu là mâu thuẫn cơ bản để từ đó đề ra quyết
sách chính trị phù hợp. Vận dụng cơ sở phương
pháp luận này bước vào thời kỳ đổi mới Đảng ta đã
xác định được vấn đề trọng tâm để chuyển từ nền
SX nhỏ lên SX lớn XHCN ở nước ta là phát triển
lực lượng SX tiến hành công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước. Đường lối đúng đắn đó đã và đang
tạo thế và lực cho quá trình phát triển KT XH ở
nước ta. Mặt khác cơ sở phương pháp luận này nó
con giúp cho chúng ta xác định bước đi và phương
pháp hoạt động CM phù hợp của từng giai đoạn và
cả tiến trình phát triển của CM.
4. Những yêu cầu cơ bản trong việc
xây dựng và tổ chức thực hiện quyết sách
chính trị
a. Những yêu cầu cơ bản trong việc
xây dựng QSCT:
Xây dựng quyết sách chính trị là khâu
quan trọng hàng đầu đối với các Đảng CM là khâu
hết sức khó do vậy chỉ có Đảng nào dựa trên học
thuyết của chủ nghĩa Mác - Lê nin, dựa trên cơ sở
và phương pháp luận trong việc xây dựng và tổ
chức thực hiện quyết sách chính trị thì Đảng đó
mới có điều kiện đưa ra được đường lối chính trị
đúng đắn. Yêu cầu cơ bản nhất của mọi quyết sách
chính trị là phát hiện và giải quyết đúng đắn, kịp
thời và có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn cách
mạng đặt ra nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status