bài kiểm tra giữa kỳ- môn maketting thông tin – thư viện - Pdf 25

Các khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của
loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội.
Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện
nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội, và là công
cụ tư duy của con người, Ngôn ngữ học có khía cạnh tâm lý học, ngôn ngữ có
vai trò nhiều nhân tố: xã hội, tâm lý, dân tộc
Ngôn ngữ học tâm lý nghiên cứu những mối quan hệ qua lại giữa nhân
cách với cấu trúc chức năng của hd ngôn ngữ. Về một khía cạnh khá giữa nhân
cách với ngôn ngữ như yếu tố cấu thành hình thành thế giới của con người.
Qua nghiên cứu ngôn ngữ tâm lý học sẽ thấy được đặc điểm tâm lý của
một cộng đồng bản ngữ, và qua đó sẽ thấy được “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn
ngữ tự nhiên đều hàm chứa một cách nhìn thế giới của mỗi cộng đồng bản ngữ
đó đối với sự vật hiện tượng xung quanh họ”.
Ngôn ngữ tâm lý học phát hiện ra những đặc điểm và bản sắc tâm lý, bức
tranh thế giới quan của một cộng đồng bbm cả “thế giới nội quan” hay thế giới
bên ngoài.
“Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc”, qua ngôn ngữ mỗi cộng đồng bản
ngữ thể hiện được thế giới quan tâm linh của mình, đồng thời thế giới quan tâm
linh cũng làm ngôn ngữ phát triển, kho tàng kinh sách là một ví dụ điển hình về
điều này.
Thế giới quan tâm linh của người dân tộc thiểu số thể hiện qua ngữ nghĩa
ngôn ngữ của họ, thí dụ: thế giới quan tâm linh người Thái có: thế giới thần linh,
trong đó có tự nhiên thần và nhân thần, nhân thần là tổ tiên, hay cộng đồng
người tài giỏi có phép (được thờ cúng), thể hiện qua lễ cúng ma, cúng mà nhà,
ma cửa, ma nương với các bài cúng ma, các câu cầu khấn, các lễ và văn tấu
của người Thái.
1
Thế giới quan tâm linh châu Âu không có tục thờ cúng tổ tiên, trong đạo
thiên chúa chỉ có cầu chúa mà khong cầu cúng ông bà tổ tiên, kinh sách giảng

thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sh cộng đồng
của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người
Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí, thông tin
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ. Sự giao thoa
văn hoá ngôn ngữ này làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu số,
đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế và vị thế của cộng đồng các dân
tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em.
Có thể nói rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một
cộng đồng song ngữ” - tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Kinh.
Bản sắc thế giới quan của cộng đồng dân tộc thiểu số vừa mang nét đặc
thù của nền văn hoá của dân tộc họ, đồng thời mang nét chung của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam.
Nền văn hoá của các dân tộc thiểu số được phổ biến và giới thiệu ra các
dân tộc khác, mang lại tự hào và đa dạng bản sắc văn hoá cho cộng đồng các
dân tộc Việt Nam: đàn - T-rưng, đàn nước, múa chăm, trang phục Thái trắng,
kèn lá.
2. Phản ánh của thế giới quan người Việt văn hoá trong phát âm và thơ ca
“Các nghiên cứu ngôn ngữ học khác nghiên cứu ngôn ngữ như một chủ
đề có sẵn, Ngôn ngữ tâm lý học nghiên cứu quá trình tạo sinh ra ngôn ngữ đó”.
Thế giới quan qua ngôn ngữ Việt cũng có phần đóng góp của các văn hoá
dân tộc thiểu số, thí dụ: trong ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ thanh điệu, các tù binh
Chăm sau khi được cấp đất đã nói tiếng Việt “trại đi” vì tiếng Chăm là ngôn ngữ
không có thanh điệu, tạo thành những vùng ốc đảo thổ ngữ Việt lẫn lộn hệ thanh
điệu xung quanh Nà Nội.
Một ví dụ khác là một khảo sát về dân ca quan họ cho thấy các làng quan
họ gốc đều có quan hệ với người Chăm đã bị Việt hoá, dễ thấy âm nhạc của
người Việt chỉ có ngũ cung, trong khi quan họ lại có cả bán âm. Các sắc thái văn
hoá mà người Chăm đóng góp cho nền văn hoá ngôn ngữ Việt:Các điệu lý (Lý
3
hoài Nam, Lý con sáo, Lý ta lý, Lý ngựa ô, Lý thiên thai), những điệu hò: (Hò

Sự khác nhau về thế giới quan và văn hoá Dân tộc của mỗi nền dân tộc về
“bức tranh ngôn ngữ thế giới” đã được khác biệt hoá trong cách thể hiện của
mỗi ngôn ngữ khác nhau. Khác biệt giữa các trình độ văn hoá khác nhau.
Ví dụ: thanh lịch khác nhau giữa ngườithì nói: “trời rất đẹp”, “trời dẹp dã
man”, “trời đẹp lồng lộng”, “trời đẹp kinh dị”, “đẹp như tranh”.
ảnh hưởng của chế độ phong kiến Việt Nam, gần giống như hình mẫu
Trung Quốc “một chế độ vương quyền, không dựa vào thần quyền, theo nguyên
tắc gia trưởng phụ quyền cha truyền con nối”, “là đại gia đình mở rộng ra ngoài
xã hội”, do đó nó được phạm trù hoá trong ngôn ngữ, thí dụ: “gọi là quốc gia-
nhà nước” mà không gọi là “làng nước”.
Người ấn Độ không muốn nắm bắt được quan niệm thời gian từ quá khứ
đến tương lai bằng số lượng, ít sách viết có niên đại chính xá, là đất nước của
nền văn hoá tôn giáo” - nền nghệ thuật (văn hoá) phi ngôn từ đồ sộ - còn di sản
ngôn từ thì nhỏ hơn nếu so sánh với nó - Mác nói : “ấn Độ là nước không có lịch
sử”.
Bức tranh thế giới - world picture - trong tiếng Anh bao gồm các phạm trù
về từng cá nhân (persongôn ngữel), hay từng con người, vấn đề nhân bản
(human being), mở rộng ra là đơn vị gia đình (family unit), là hạt nhân của xã
hội (social nuclear) , và rộng hơn nữa: the ưorld, the earth, international
sociality, hay đi xa hơn: the sun, the moon, space, star & galaxy.
5. Đặc trưng thế giới quan của cộng đồng bản ngữ trong sự chuyển nghĩa và
biểu trưng
*Tính nhị nguyên bất đối xứng: “cùng một ký hiệu có một số chức năng,
cùng một ý nghĩa có thểđược biểu hiện bởi một số hay nhiều ký hiệu. Bấtkỳ một
ký hiệu nào cũng đều có tiềm năng là tự đồng âm và từ đông nghĩa một cách
đồng thời. Đây là một nguyên nhân của sự chuyển nghĩa của cá từ: Ví dụ: Tiếng
Anh có teach-teeth-title.
*Sự cải biến ngữ nghĩa: “là sự chuyển từ tên gọi có cấu trúc ngữ nghãi
này sang một tên gọi có cấu trúc ngữ nghĩa khác” điều này là cơ sở sáng tạo
quan trọng nhất của các nhà thơ và nhà văn.

đổi và phụ thuộc “nhận thức cảm tính”, “nhận thức logic”, “cấp độ hiểu biết
6
kinh nghiệm”, “cấp độ hiểu biết lý luận”, và cách nhìn nhận về “bức tranh thế
giới” của mỗi dân tộc “theo mô hình khái niệm”, và “mô hình ngôn ngữ” của
dân tộc.
Tuy nhiên trong các ngôn ngữ dân tộc, “cách phân cắt thế giới” khác nhau
là điểm chính, một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ này không tương ứng với
củadân tộc kia (vì nó biểu thị những đối tượng chỉ vốn có trong lịch sử, đời sống
văn hoá tinh thần của dân tộc đó. Nhưng theo nguyên tắc bổ sung ngôn ngữ học,
các khác biệt này có tính chất ngoại vi. Còn hạt nhân của “bức tranh ngôn ngữ
về thế giới” mang tính bốung và đồng nhất giữa các dân tộc thuộc về nền văn
hoá ngôn ngữ khác nhau.
Đặc điểm của sự nhận thức thậm chí về cùng một khái niệm hoặc hiện
tượng ở một trong dân tộc nhất định (thế giới quan của cộng đồng hay của dân
tộc) được phản ánh đáng kể trong đặc điểm của tên gọi. Được gọi là “hình thái
bên trong”.
Sự khác nhau về thế giới quan Văn hoá - dân tộc của mỗi nền văn hoá về
“bức tranh ngôn ngữ thế giới” đã được khác biệt hóa trong cách thể hiện của
mỗi ngôn ngữ khác nhau.
Bức tranh ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số đơn giản và hình tượng
hơn: “đi xa 3 tầm cái dao quăng” hay “đi mất 3 cái vắt khăn” - chuyển khăn từ
vai nọ sang vai kia, hay “cái nhà đảng giúp cái nhà dân nhiều việc tốt”.
Một sự vật nào đó trong ngôn ngữ này có thể được thể hiện có tính nhất
thể, nghĩa là không được phân chia nhỏ hơn, nhưng trong ngôn ngữ khác lại có
thể được phân cắt thành những bộ phận nhỏ hơn.
Ví dụ: trong tiếng Anh ngón chân (toe), ngón tay (finger) là hai từ riêng
biệt. Tiếng Việt thì được nhất thể hoá bằng từ ngón.
Các từ biểu trưng như trên đã biểu hiện mức độ phát triển cao nhất của
tính hình ảnh và nét văn hoá trong thế giới quan của cộng đồng trong ngôn ngữ.
7. Đặc trưng thế giới quan cộng đồng bản ngữ của tư duy ngôn ngữ trong

tư duy được thể hiện rõ nhất là thiên hướng “ưa thích” hay sự nổi trội của kiểu
tư duy nào đó, cách nói, cách nghĩ nào đó ở một nhóm cộng đồng nhất định.
8
Đây chính là yếu tố lớn nhất chứng minh trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự
nhiên đều hàm chứa một cách nhìn thế giới của cộng đồng bản ngữ đó đối với
sự vật hiện tượng xung quanh họ.
Ví dụ: người ở tầng lớp trí thức thường dùng những từ ngữ nhẹ nhàng,
lịch sự, nhiều ẩn ý, nông dân thì dùng từ chất phác, đơn giản, không bóng bẩy,
công nhân thường dùng từ mạnh, thẳng, và đơn giản; một số giới khác lại ưa
thích và hay chửi tục, tiếng lóng
9. Đặc điểm văn hoá của thế giới quan cộng đồng bản ngữ của định danh
động vật trong ngôn ngữ
Các đặc điểm thế giới quan khác nhau của từng dân tộc được toát lên khi
so sánhvới ngôn ngữ khác, và so sánh cách sử dụng ở các môi trường văn hoá
khác nhau.
Đặc điểm định danh xét về mặt nguồn gốc: thuần Việt như : beo, cáo, cọp,
rồng ; Hán Việt như: Báo, hồ ly, hổ, long
Yếu tố trang trọng: không gọi tên là rồng, ngỗng, dê mà gọi là “long, nga,
dương”.
Đặc điểm định danh xét về góc độ kiểu ngữ nghĩa: chim (chim sáo, chim
sâu, chim khách ), chuột (chuột đồng, chuột nhà ), sâu (sâu đục thân, sâu
đo ) nhưng đều có chung một từ động vật con.
10. Các điểm khác của ngôn ngữ phản ánh thế giới quan cộng đồng
Đặc điểm ngữ nghĩa của từng tên gọi động vật: đều có khởi đầu bằng chữ
“con”, tuy nhiên trong một loài, thí dụ: “con cá” lại có các phân cấp nhỏ hơn
như: “con cá ngựa”, “cá chim”
Đặc điểm ngữ nghĩa của từng tên gọi thực vật: xuất phát bằng từ “cây” -
cây tảo, cây me
Một lời nói, phát ngôn ở một người này, môi trường văn hoá này được
chấp nhận là một nét văn hoá nhưng cũng là lời nói đó, ở môi trường khác lại

giàu thêm cho thế giới quan văn hoá xã hội của mỗi dân tộc.
Đặc điểm nền văn hoá Việt Nam là xuất phát từ một quốc gia đa dân tộc,
nhưng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của các dân tộc thiểu số anh em (đa số
đồng bào dân tộc thiểu số sinh hoạt song ngữ tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ),
nền văn hoá Việt Nam có nhiều đặc điểm của nền văn hoá thế giới quan Đông
Nam á nhưng cũng có sự khu biệt riêng, và được phản ánh qua các đặc điểm
ngôn ngữ Việt.
11
MỤC LỤC
12


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status