BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ
CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY– THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Nam Hải
Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Thanh Hường
Khóa : I (2010-2014)
Ngành : Chính sách công
Chuyên ngành : Chính sách công
Tôi xin cam đoan rằng đây là khóa luận của tôi, được sự hỗ trợ từ giảng viên
hướng dẫn ThS. Nguyễn Nam Hải, KS. Lê Viết Thái – Trưởng ban Nghiên cứu Thể
chế kinh tế, ThS. Trần Thị Thu Hương – Phó trưởng ban Nghiên cứu Thể chế kinh
tế. Các nội dung trong khóa luận và các kết quả này là hoàn toàn trung thực. Những
số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho phân tích, nhận xét được tôi thu thập từ
những nguồn tài liệu khác nhau được ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra,
khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả,
cơ quan tổ chức, học liệu mở internet đều được thể hiện trong phần tài liệu tham
khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội
đồng thẩm định.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Thanh Hƣờng
Khóa luận tốt nghiệp iii
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước 2
3. Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu 5
trong thời gian tới 67
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư công
ở Việt Nam trong thời gian tới 68
Tóm tắt chƣơng 3 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Khóa luận tốt nghiệp v
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSHT
Cơ sở hạ tầng
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
ĐP
Địa phương
ĐTC
Đầu tư công
HĐND
Hội đồng nhân dân
KH&ĐT
Kế hoạch và Đầu tư
MTQG
Mục tiêu quốc gia
NS
NSNN
NSTW
NSĐP
PIP
Hộp 2.2: Thu hồi dự án chậm tiến độ, Hà Tĩnh thành… con nợ 57
Khóa luận tốt nghiệp 1
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi
hỏi phải đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý Nhà nước giữa các cấp chính quyền.
Phân cấp quản lý Nhà nước (QLNN) về đầu tư công ở Việt Nam thời gian qua
đã đạt được những kết quả nhất định, nhất là phát huy được tính chủ động, sáng tạo
của chính quyền các cấp. Tuy nhiên, quá trình đổi mới phân cấp quản lý đầu tư
công xét về tổng thể vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn
mà còn bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu về phân cấp đầu tư công
không những giúp cho các nhà quản lý mà còn các nhà làm chính sách tìm ra những
mặt còn tồn tại và hướng giải pháp cho vấn đề này.
Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) là tổ chức sự nghiệp
khoa học cấp quốc gia trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đó Ban Nghiên cứu
Thể chế kinh tế thực hiện chức năng nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ, bộ
máy tổ chức của Nhà nước và các vấn đề trong phân cấp trong quản lý nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhất là gần đây, Ban Nghiên cứu Thể chế
kinh tế có tập trung nghiên cứu về phân cấp đối với đầu tư công.
Là một sinh viên khoa Chính sách công của Học viện Chính sách và Phát triển
thực tập tại Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tôi đã chọn đề tài “Phân
cấp quản lý Nhà nƣớc về đầu tƣ công ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải
pháp” làm đề tài cho khóa luận của mình. Đối với tôi, đề tài vừa phù hợp với
chuyên ngành đào tạo, vừa có tính thực tiễn và tính thời sự. Trong đó, đề tài tập
trung nghiên cứu thực trạng phân cấp quản lý đầu tư công ở Việt Nam từ 2011 đến
nay. Qua đó tìm ra những bất cập và nguyên nhân của những bất cập, có cả vấn đề
chính sách đang tồn tại. Từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp định hướng
địa phương (từ cấp tỉnh tới cấp xã), sự trao quyền cho các đơn vị hành chính và sự
nghiệp, cho tòa án, cho các cơ quan dân cử, cho các phương tiện truyền thông, đại
chúng và cho xã hội dân sự. Báo cáo đã phân chia thành hai giai đoạn lớn trong quá
trình phân cấp ở Việt Nam, bao gồm giai đoạn của phân cấp trao quyền về kinh tế
(từ những cơ quan lập kế hoạch xuống các doanh nghiệp và người dân, thập kỷ đầu
Khóa luận tốt nghiệp 3
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
tiên sau đổi mới) và thập kỷ tiếp theo là giai đoạn phân cấp trao quyền mạnh xuống
cho cấp tỉnh và trách nhiệm giải trình lớn hơn đối với cấp xã. Báo cáo cũng đưa ra
một số điểm nổi bật về phân cấp và trao quyền ở Việt Nam hiện nay, đó là: (1) mức
độ phân cấp và trao quyền tương đối lớn (cả về phương diện địa lý và chức năng);
(2) hệ thống giải trình trách nhiệm đang được xây dựng nhưng rất chậm; (3) hệ
thống phân cấp và trao quyền ngày càng có nhiều xung đột lợi ích nảy sinh; (4)
thông tin luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ một hệ thống giải trình trách
nhiệm nào; (5) những cải cách thành công nhất đều do có những chủ thể liên quan
được trao quyền để thúc đẩy sự thay đổi; và (6) người dân ngày càng tiến bộ hơn,
tiếng nói và nhu cầu được tham gia của người dân càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên,
báo cáo cũng chỉ ra một thực tế là hiện nay nhiều người dân ở Việt Nam cho biết
thông tin là không được biết tin gì về ngân sách và kế hoạch đầu tư công.
Tập thể tác giả Sarosa, W.; Hasan, M. và Murman, A. trong một nghiên cứu về
“Tăng cường tiếng nói của người dân: nghiên cứu phân tích về lập kế hoạch và ngân
sách cấp huyện” có đề cập tới mối liên hệ giữa lập kế hoạch hoạt động hàng năm
của chính quyền địa phương (có sự tham gia của người dân) với kế hoạch ngân sách
hàng năm của chính quyền địa phương Indonesia. Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra hai
khoảng cách lớn giữa kế hoạch và ngân sách, đó là: có một số lượng lớn dự án đã
được lập vào kế hoạch nhưng cuối cùng không được đầu tư ngân sách, trong khi
một số lượng lớn dự án mới không được đưa ra thảo luận theo cơ chế lập kế hoạch
có sự tham gia của người dân nhưng lại nhận được sự hỗ trợ từ ngân sách. Cũng
trong nghiên cứu này, nhóm tác giả còn phê phán chất lượng của các cuộc tham vấn
cộng đồng và mức độ tham gia của người dân vào quá trình lập kế hoạch.
vực được phân cấp quản lý ở Việt Nam thời gian qua, vì vậy đề tài này mới chỉ xem
xét sơ lược thực trạng phân cấp QLNN về đầu tư nói chung và đầu tư công nói
riêng.
Trần Hữu Hân (2005) và nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Cơ sở khoa học
và thực tiễn cho việc định hướng phân cấp quản lý Nhà nước về đầu tư giữa Trung
ương và địa phương trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay”. Ngoài việc đưa ra một số khái niệm liên quan
tới đầu tư và phân cấp QLNN về đầu tư, đề tài còn tập trung phân tích thực trạng
phân cấp quản lý đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2000-2004 từ góc độ nguồn vốn đầu
tư từ ngân sách Nhà nước, từ tín dụng Nhà nước, từ các doanh nghiệp. Từ đó, đề tài
Khóa luận tốt nghiệp 5
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
đề xuất một số giải pháp về phân cấp quản lý trong lĩnh vực đầu tư nhằm đáp ứng
nhu cầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam. Nghiên cứu này không nghiên cứu, đánh giá thực trạng phân cấp QLNN về
đầu tư công theo một quy trình mà chỉ nêu tương đối chung chung về thực trạng
phân cấp đầu tư từ nguồn NSNN và tín dụng Nhà nước.
Tóm lại, phân cấp QLNN về đầu tư công đang là một trong những mảng lĩnh
vực nghiên cứu quan trọng được chú ý ở Việt Nam trong những năm gần đây. Mặc
dù các nghiên cứu đều xuất phát từ việc xem xét thực trạng phân cấp QLNN ở Việt
Nam, song mục tiêu của các nghiên cứu là khác nhau, có nghiên cứu chỉ dừng ở
nghiên cứu phân cấp quản lý nguồn vốn ODA, hoặc dừng ở khía cạnh xem xét, tổng
hợp các lĩnh vực phân cấp (phân cấp về quy hoạch, kế hoạch, đầu tư chung, bộ máy
tổ chức,…) đến năm 2010. Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu sâu và mang tính
hệ thống về phân cấp quản lý đầu tư công ở Việt Nam từ 2011 đến nay, dưới dạng
tổng hợp toàn bộ chu trình đầu tư công (từ lập kế hoạch đầu tư công đến theo dõi và
đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư công). Vì vậy, Khóa luận này thực hiện nhằm
khắc phục khoảng trống và cố gắng tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình phân
cấp quản lý Nhà nước về đầu tư công trong thời gian tới.
3. Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Khóa luận tốt nghiệp được kết cấu thành ba
phần tương ứng với ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân cấp QLNN đối với đầu tư công;
Chương 2: Thực trạng phân cấp QLNN về đầu tư công ở Việt Nam hiện nay;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý Nhà nước về
đầu tư công ở Việt Nam trong thời gian tới.
Khóa luận tốt nghiệp 7
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ CÔNG
1.1. Một số vấn đề lý luận về phân cấp và đầu tư công
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về phân cấp quản lý Nhà nƣớc đối với đầu tƣ công
1.1.1.1. Khái niệm về quản lý và quản lý Nhà nƣớc
(1) Khái niệm quản lý:
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ “quản lý”. Thuật
ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ
nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau như kinh tế học, hành chính học, luật
học…
Trong cuốn “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”, quản lý “là điều khiển, chỉ
đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc
tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản
lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước”. Theo đó, quản lý được hiểu là
điều khiển (dưới góc độ hành động, góc độ quy trình công nghệ của tác động), trong
đó: (i) con người điều khiển các vật hữu sinh, không phải con người, nhằm thực
hiện ý chí của con người điều khiển – quản lý trong sinh học, thiên nhiên môi
trường; (ii) con người điều khiển các vật vô tri vô giác để bắt chúng phát triển và
thực hiện theo ý chí của người điều khiển – quản lý trong kỹ thuật; (iii) con người
điều khiển con người – quản lý của Nhà nước, quản lý trong tổ chức Đảng, đoàn thể
nhân dân (quản lý xã hội).
Trong cuốn “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam”, quản lý nhà nước là hoạt
động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực
hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
Trong Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước (tập II – Ngạch chuyên viên)
của Học viện Hành chính Quốc gia, quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội
mang tính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt
động của con người”.
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước theo nghĩa bao quát là chức năng của
tổng thể bộ máy nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực và mang tính pháp
Khóa luận tốt nghiệp 9
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
quyền. Trong đó, tổ chức công quyền quản lý toàn xã hội bằng các hoạt động lập
pháp, hành pháp và tư pháp; trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội; nhằm mục
đích ổn định và phát triển đất nước.
1.1.1.2. Khái niệm về phân cấp quản lý Nhà nƣớc
Theo một số nghiên cứu quốc tế, phân cấp được hiểu là “việc chuyển giao
quyền lực hành chính và tài chính từ chính quyền Trung ương sang chính quyền địa
phương hoặc khu vực tư nhân” (Điểm 2 Luật số 195/2006 về tổ chức hành chính
công địa phương ở Romania). Ngoài ra, Dennis A.Rondinelly và John R.Nellis định
nghĩa phân cấp hành chính là “sự chuyển giao trách nhiệm lập kế hoạch, quản lý,
nâng cao và phân bổ các nguồn lực từ Chính phủ Trung ương và các cơ quan của nó
tới các đơn vị khu vực của các cơ quan Chính phủ, các đơn vị cấp dưới hoặc các cấp
chính quyền, các cơ quan chức trách hoặc các tổng công ty Nhà nước bán tự chủ,
các cơ quan chức năng hoặc khu vực trong phạm vi toàn địa bàn, hoặc các tổ chức
tự nguyện, hoặc tổ chức tư nhân ngoài quốc doanh” .
Trong cuốn về cải cách bộ máy hành chính Nhà nước (thuộc Học viện Hành
chính Quốc gia), thuật ngữ phân cấp QLNN được hiểu là “sự chuyển giao thẩm
quyền, nhiệm vụ và trách nhiệm từ cơ quan quản lý cấp trên xuống cấp dưới trực
thuộc, nhằm đạt mục tiêu chung một cách hiệu quả nhất trong quá trình phân công
quản lý của cả hệ thống hành chính Nhà nước” (Đặng Đức Đạm, 2002). Đây là khái
Theo Dự thảo Luật Đầu tư công của Việt Nam
1
, khái niệm “đầu tư công” được
giải thích là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp. Như vậy, theo
quan niệm này đầu tư phục vụ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước
không nằm trong đầu tư công. Khóa luận này cũng thống nhất khái niệm đầu tư
công như Dự thảo Luật Đầu tư công của Việt Nam. Đầu tư công được quan niệm
một cách đơn giản, xét theo góc độ nguồn vốn dùng để đầu tư, bao gồm: vốn ngân
sách Nhà nước chi đầu tư phát triển theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước,
vốn huy động của Nhà nước từ trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
phương và các nguồn vốn khác của Nhà nước theo quy trình của pháp luật, trừ vốn
tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn
đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước. 1
Dự thảo lần thứ 14 (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo)
Khóa luận tốt nghiệp 11
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
1.1.2. Vai trò đầu tƣ công
Nhìn chung, thời gian vừa qua, đầu tư công trở thành nguồn lực chủ yếu làm
thay đổi đáng kể hạ tầng kĩ thuật và xã hội của đất nước. Đầu tư công không những
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước, giúp giải quyết vấn đề việc làm mà còn
có thể khuyến khích, tăng cường đầu tư tư nhân.
Thứ nhất, đầu tư công có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu
gần đây, chẳng hạn của Ủy ban Tăng trưởng và Phát triển (2008) chỉ ra rằng các
nước có tốc độ tăng trưởng nhanh có đặc điểm là đầu tư công cao. Ngoài ra, nghiên
cứu của Arslanalp và cộng sự (2011) về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với 48
nền kinh tế phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1960-2011, đã đưa ra kết
1.1.3. Các hình thức phân cấp
Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên nhìn chung có thể chia thành ba
nhóm chính: phân cấp hành chính, phân cấp tài khóa và phân cấp thị trường.
Hình 1: Các hình thức phân cấp
Nguồn: Lê Viết Thái và các cộng sự, 2007
Thứ nhất, phân cấp hành chính: là việc phân chia quyền hạn và trách nhiệm
giữa các đơn vị chính quyền Trung ương và địa phương. Như vậy, thông qua quá
trình phân cấp hành chính, một số chức năng của Nhà nước như lập kế hoạch, quy
hoạch, quản lý, điều hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ
công sẽ được chuyển giao từ cấp Trung ương xuống các cơ quan hành chính địa
phương. Phân cấp hành chính được chia thành 3 nhóm: tản quyền, ủy quyền và giao
quyền.
Tản quyền là hình thức chuyển giao quyền quyết định, chức năng tài chính và
quản lý cụ thể cho các cơ quan đại diện chính quyền Trung ương ở các địa phương
(ví dụ Văn phòng đại diện của Bộ ở các vùng, theo đó các cơ quan đại diện này thực
thi các chính sách quốc gia do các cơ quan Trung ương ban hành. Đây là hình thức
Khóa luận tốt nghiệp 13
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
thấp nhất trong các hình thức phân cấp hành chính, thậm chí có người cho rằng nó
không phải là hình thức phân cấp bởi vì việc chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm
chỉ diễn ra trong nội bộ ngành dọc của Trung ương.
Uỷ quyền là hình thức phân cấp hành chính trong đó chính quyền Trung ương
chuyển giao quyền quyết định và trách nhiệm điều hành cho cơ quan địa phương
trong khuôn khổ các hướng dẫn do chính quyền cấp cao hơn ban hành. Trong hình
thức phân cấp này, chính quyền địa phương thay mặt chính quyền Trung ương để ra
quyết định, song chính quyền Trung ương vẫn chịu trách nhiệm về các quyết định
này.
Giao quyền là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất theo đó toàn bộ chức năng
chính sách công, trong đó lấy phân cấp làm trung tâm. Cách tiếp cận phân cấp trong
lý thuyết này cho rằng quá trình phi tập trung hóa là một sự lựa chọn tạo ra sự hoạt
động giống như thị trường tự do, ở đó người công dân với tư cách là người mua sẽ
gặp các cơ quan Nhà nước ở địa phương trong vai trò người bán. Bên cạnh đó, cũng
trong thời gian này, một số nước phát triển thuộc OECD đã tiến hành cải cách khu
vực Nhà nước thông qua những biện pháp phân cấp thị trường như tư nhân hóa các
công ty cung ứng dịch vụ công của Nhà nước, cho phép khu vực ngoài Nhà nước
tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Hơn nữa, các nước này cũng đã bắt đầu
nhìn nhận vai trò quan trọng của chính quyền địa phương và khuyến khích sự tham
gia của người dân. Vì vậy, có thể coi sự phản ứng trước sự hoạt động kém hiệu quả
của chính quyền Trung ương chính là động lực của phân cấp trong những năm
1980.
Gần đây, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng xu hướng phân cấp được dẫn dắt
bởi một loạt các nhân tố như: nỗ lực tinh giảm bộ máy hành chính Trung ương, cắt
giảm ngân sách, tăng cường tự do hóa kinh tế và định hướng thị trường.
Ngoài ra, nhiều tổ chức tài trợ quốc tế và tổ chức tài trợ song phương cũng lấy
phân cấp làm điều kiện để cung cấp tài trợ cho các nước phát triển. Họ cho rằng
phân cấp có thể nâng cao hiệu quả trong phân bổ nguồn lực của Nhà nước nếu quyết
định chi tiêu được đưa ra ở cấp chính quyền thấp hơn – cấp phản ứng nhanh nhạy
hơn khi các đòi hỏi của địa phương so với chính quyền Trung ương ở quá xa về mặt
địa lý
2
. 2
Tham khảo: “Thực hiện tốt phân cấp giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương” (CIEM,
Trung tâm Thông tin Tư liệu, 2010)
Khóa luận tốt nghiệp 15
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
; Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của 3
Trước Nghị định 108 là Nghị định 78/2007/NĐ-CP
Khóa luận tốt nghiệp 16
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Quyết định số 135/2009/QĐ-
TTg ngày 04/11/2009 của TTCP về ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện
các chương trình MTQG; Quyết định 210/2009/QĐ-TTg của TTCP về nguyên tắc,
tiêu chí và định mức phân bổ đầu tư từ ngân sách Nhà nước; Ngoài ra, còn có cả
hệ thống Thông tư hướng dẫn các nội dung cụ thể của các Bộ quản lý chuyên ngành
như Kế hoạch và đầu tư, Tài chính, Xây dựng,
Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật kể trên đã và đang là cơ sở pháp
lý quan trọng để quản lý đầu tư nói chung và hoạt động ĐTC nói riêng, đồng thời
việc thi hành những luật này đã mang lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, qua
quá trình triển khai thực hiện cho thấy một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả ĐTC thời gian vừa qua là do hệ thống pháp luật về ĐTC còn chưa hoàn chỉnh
và chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế. Những vướng mắc trong khung pháp lý về đầu
tư hiện nay, cụ thể là:
- Nhiều văn bản Luật điều chỉnh hoạt động ĐTC chưa thật cụ thể, rõ ràng,
đồng bộ và đầy đủ
4
. Ví dụ, Luật NSNN (2002) có quy định về chi đầu tư phát triển
(Điều 31), trong đó có chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH
không có khả năng thu hồi vốn do TW quản lý. Tuy vậy, Luật NSNN chỉ quy định
kế hoạch NS hàng năm, không có quy định về kế hoạch bố trí nguồn vốn trung và
dài hạn (3-5 năm) theo các dự án đầu tư. Bên cạnh đó, Luật này cũng chưa quy định
đầy đủ việc sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, công trái, vốn vay ODA cho
các dự án đầu tư. Ngoài ra, Luật NSNN có đưa ra quy định ngân sách phân bổ cho
văn bản Luật riêng) làm cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện và quản lý đầu
tư sử dụng nguồn vốn Nhà nước (sử dụng nguồn vốn Nhà nước không nhằm mục
đích kinh doanh và sử dụng cho cả mục đích kinh doanh). Hiện nay, có quá nhiều
các quy định liên quan đến hoạt động ĐTC nằm ở các văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau, vì vậy sẽ có những khoảng trống hoặc chồng lên nhau, và đồng thời gây
khó khăn cho công tác tra cứu và thi hành.
- Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa xác định rõ yêu cầu QLNN
về hoạt động ĐTC, đối tượng và nội dung quản lý trong các khâu quy hoạch, kế
hoạch, chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện dự án, quản lý sử dụng vốn, quản lý
khai thác dự án, Bên cạnh đó, việc phân định trách nhiệm của các chủ thể tham
gia vào quá trình quản lý ĐTC chưa được rõ ràng, vì vậy khi có sai phạm rất khó
xác định được chủ thể có liên quan đến sai phạm trong quá trình quản lý.
Ngoài ra còn thiếu các chế tài cụ thể để đảm bảo việc chấp hành kỷ cương, kỷ
luật trong đầu tư công, để khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, kém hiệu quả.
Khóa luận tốt nghiệp 18
GVHD: ThS. Nguyễn Nam Hải SVTH: Ngô Thị Thanh Hường
1.2.2. Khung pháp lý về phân cấp quản lý nhà nƣớc
Trong suốt hơn thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực lớn trong phân
cấp QLNN, đặc biệt trong QLNN về kinh tế. Năm 2004, việc ban hành Nghị quyết
08/2004/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp QLNN giữa chính
phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc TW được coi là một bước tiến quan
trọng về thể chế hóa việc phân cấp giữa TW và địa phương.
Thứ nhất, Nghị quyết 08 có sơ lược về tình hình phân cấp giữa Trung ương và
địa phương. Trong đó có đưa ra một số hạn chế và bất hợp lý trong quá trình đổi
mới phân cấp như sau:
- Phân cấp nhưng chưa bảo đảm quản lý thống nhất, còn biểu hiện phân tán,
cục bộ; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; chưa chú trọng việc thanh tra,
kiểm tra đối với những việc đã phân cấp cho địa phương.
- Chưa phân định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi
cấp chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tổ chức cung cấp